Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Thú Nhàn Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Nội Dung, Nghệ Thuật Biện Pháp Tu Từ Sử Dụng Trong Bài Thơ Thú Nhàn

Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Hay Nhất

Tổng Hợp Các Bài Viết Về Bài Thơ “nhàn”

Bài Thơ Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Phân Tích Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ

Nhớ Rừng Của Thế Lữ Mượn Lời Con Hổ Bị Nhốt Trong Vườn Bách Thú Để Diễn Tả Sự Sâu Sắc Nỗi Chán Ghét Thực Tại Tầm Thường, Giả Dối Và Niềm Khao Khát Tự Do Một Cách Mãnh Liệt

Phân tích nội dung, nghệ thuật biện pháp tu từ sử dụng trong bài thơ Thú Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài làm

Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có học vấn uyên thâm, từng làm quan nhưng vì cảnh quan trường nhiều bất công nên ông đã cáo quan về ở ẩn; sống cuộc sống an nhàn, thanh thơi. Ông còn được biết đến là nhà thơ nổi tiếng với hai tập thơ tiếng Hán “Bạch Vân am thi tập” và tập thơ tiếng Nôm “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Bài thơ “Nhàn “được rút trong tập thơ “Bạch Vân am thi tập”. Bài thơ đựợc viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật, là tiếng lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về một cuộc sống nhiều niềm vui, an nhàn và thanh thản nơi đồng quê.

Xuyên suốt bài thơ “Nhàn” là tâm hồn tràn ngập niềm vui và sự thanh tịnh trong tâm hồn tác giả. Có thể xem đây là điểm nhấn, là tinh thần chủ đạo của bài thơ. Chỉ với 8 câu thơ đường luật nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mang đến cho người đọc một cuộc sống an nhàn nơi đồng quê êm ả.

Mở đầu bài thơ là hai câu thơ đề rất mộc mạc:

Một mai một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Với phép lăp “một”-“một” đã vẽ lên trước mắt người đọc một khung cảnh bình dị, đơn sơ nơi quê nghèo, dù một mình nhưng không hề đơn độc. Hai câu thơ toát lên sự thanh tịnh của tâm hồn và êm đềm của thiên nhiên ở vùng quê Bắc Bộ. “Một cuốc”, “một cần câu” gợi lên sự bình dị, mộc mạc của một người nông dân chất phác. Hình ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một lão nông an nhàn, thảnh thơi với thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn. Đây có thể nói là cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người ở thời kỳ phòng kiến ngày xưa nhưng không phải ai cũng có thể dứt bỏ được chốn quan trường về với đồng quê như thế này. Động từ “thơ thẩn” ở câu thơ thứ hai đã tạo nên nhịp điệu khoan thai, êm ái cho người đọc. Dù ngoai kia người ta vui vẻ nơi chốn đông người thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mặc kệ, vẫn bỏ mặc để “an phận” với cuộc sống của mình hiện tại. Cuộc sống của ông khiến nhiều người ngưỡng mộ.

Đến hai câu thơ thực tiếp theo càng khắc họa rõ nét hơn chân dung của “lão nông Nguyễn Bỉnh Khiêm”.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Đây có thể xem là tuyên ngôn sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm những năm tháng sau khi cáo quan về ở ẩn. Ông tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ đến sống, nhưng đây là cái “dại” khiến nhiều người ghen tỵ và ngưỡng mộ. Ông rất khéo léo trong việc dùng từ ngữ độc đáo, lột tả được hết phong thái của ông. Ông bảo rằng những người chọn chốn quan trường là những người “khôn”. Một cách khen rất tinh tế, khen mà chê, cũng có thể là khen mình và chê người. Tứ thơ ở hai câu này hoàn toàn đối lập nhau từ ngôn ngữ đến dụng ý “dại” -“khôn”, “vắng vẻ” – “lao xao”. Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về nơi vắng vẻ để ở có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước hay không? Với thời thế như vậy giờ và với cốt cách của ông thì “nơi vắng vẻ” mới thực sự là nơi để ông sống đến suốt cuộc đời. Một cốt cách thanh cao, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ.

Hai câu thơ luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo”. Mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy không có sơn hào hải vị nhưng những thức ăn có sẵn này lại đậm đà hương vị quê nhà, khiến tác giả an phận và hài lòng. Mùa thu có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá. Chỉ với vài nét chấm phá Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất Bắc rất hào phòng, đầy đủ thức ăn. Đặc biệt câu thơ “Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vài đường nét nhẹ nhàng, đơn giản nhưng toát lên sự thanh tao không ai sánh được. Một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòa hợp nhau.

Đến hai câu thơ kết dường như đúc kết được tinh thần, cốt cách cũng như suy nghĩ của Nguyễn Bình Khiêm:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Hai câu thơ này là triết lý và sự đúc rút Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thời gian ở ẩn. Đối với một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như thế này thì thực sự phú quý không hề là giấc chiêm bao. Ông từng đỗ Trạng nguyên thì tiền bạc, của cải đối với ông thực ra mà nói không hề thiếu nhưng đó lại không phải là điều ông nghĩ đến và tham vọng. Với ông phú quý chỉ “tựa chiêm bao”, như một giấc mơ, khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết mà thôi. Có thể xem đây chính là cách nhìn nhận sâu sắc, đầy triết lý nhất. Với một con người thanh tao và ưa sống an nhàn thì phú quý chỉ như hư vô mà thôi, ông yêu nước nhưng yêu theo một cách thầm lặng nhất. Cách so sánh độc đáo đã mang đến cho hai câu kết một tứ thơ hoàn hảo nhất.

Như vậy với 8 câu thơ, bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt cách, tinh thần và phong thái của ông. Là một người yêu nước, thích sự thanh bình và coi trọng cốt cách xứng đáng là tấm gương đáng học hỏi. Bài thơ đường luật kết cấu chặt chẽ, tứ thơ đơn giản nhưng hàm ý sâu xa đã làm toát lên tâm hồn và cốt cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cho đến bây giờ, ông vẫn được rất nhiều người ngưỡng mộ.

Suy Nghĩ Về Bài Thơ “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Suy Nghĩ Về Bài Thơ Nhàn

Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Cực Hay

Vẻ Đẹp Lối Sống Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ Nhàn

Triết Lý Nhân Sinh Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ “nhàn”

Những Điểm Thú Vị Của Bài Thơ Sóng

Phân Tích 4 Khổ Đầu Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh (Có Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết)

Hình Tượng Sóng Và Em Trong Bài Thơ Sóng, Xuân Quỳnh

Cảm Nhận Hình Tượng Sóng Và Em Trong Bài Thơ Sóng

Phân Tích Hình Tượng Sóng Và Em Trong Bài Thơ “sóng” Của Xuân Quỳnh

Phân Tích Hình Tượng Sóng Và Em Trong Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh

1.Sóng gần với hình tượng của biển. Đây là đề tài khá quen thuộc, bởi lẽ từ trước đến nay có khá nhiều nhà thơ viết về đề tài này, như Xuân Diệu ( Biển), Hữu Thỉnh ( Biển, nỗi nhớ và em)… Nhưng hầu hết họ là nhà thơ nam. Điều này là phù hợp, vì hình tượng sóng và biển thì thường mạnh mẽ, mãnh liệt, dễ dàng bộc phát ra ngoài, rất dễ phù hợp với tình yêu chủ động của nam hơn, còn nữ thì thường e dè, rụt rè, kín đáo. Xuân Quỳnh là trường hợp hiếm thấy, là nhà thơ nữ “đủ bản lĩnh làm thi sĩ” (chữ Xuân Diệu dùng cho Tản Đà) khi dùng sóng biển để so sánh với tình yêu của mình.

Bài thơ Sóng viết năm 1967, nhân một chuyến đi công tác tại vùng biển Diêm Điền (tỉnh Thái Bình). Theo nhiều nhận định thì lúc này trái tim của Xuân Quỳnh đã có nhiều “vết xước”, tâm hồn nữ sĩ sau nhiều lần vấp ngã đã có phần chai sạn ít nhiều, không còn trẻ trung sôi nổi như trước. Thế mà trái tim của người phụ nữ yêu thiết tha cuộc sống, khát vọng tận cùng của hạnh phúc, Xuân Quỳnh đã cất lên tiếng hát yêu đời, sôi nổi, lạc quan.

2. Nhan đề ” Sóng ” đặt trong quan hệ với bố cục toàn bài thơ có hai nét nghĩa chính: Nghĩa tả thực, sóng ở đây là sóng biển; nghĩa ẩn dụ, sóng là sóng lòng, tâm hồn, tình cảm, trái tim của người phụ nữ đang yêu… Có nhiều câu thơ chỉ có nghĩa thực, có những câu thơ có nghĩa ẩn dụ, lại có những câu thơ có cả hai nét nghĩa ấy. Nhưng thật thú vị, nếu chịu khó làm một phép thống kê thì có thể thấy: Trong tổng số 38 câu (dòng) thơ, số câu có nghĩa chỉ “sóng” và số câu có nghĩa chỉ “em” ấy nhiều bằng nhau.

Bài thơ Sóng gồm 9 khổ thơ. Để nhớ và hiểu nội dung từng khổ chỉ cần khoanh tròn vào một số từ ngữ chính trong từng khổ: Khổ 1 “tìm ra”; khổ 2 “khát vọng, bồi hồi”, khổ 3 “nghĩ về”, khổ 4 “không biết nữa”; khổ 5 “nhớ”; khổ 6 “hướng về”; khổ 7 “tới bờ”; khổ 8 “vẫn đi qua”; khổ 9 “làm sao”. Phép cộng của những từ ngữ này chính là sắc thái muôn màu của tình yêu! Trong đó khổ thơ thứ 5 có 6 câu (dài hơn các khổ khác 2 câu). Vì khổ này diễn tả nỗi nhớ. Trong tình yêu, nhớ nhung là tâm trạng tiêu biểu, thường trực nhất của con người.

3. Khi được hỏi tại sao Xuân Quỳnh sử dụng thể thơ 5 chữ cho bài thơ Sóng, nhiều câu trả lời rằng vì lợi thế của thể thơ này là ngắn, khỏe, dễ diễn tả những âm hưởng mạnh, gấp như sóng biển… Nhưng nếu đặt lại vấn đề: Thế bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên cũng sử dụng thơ 5 chữ mà đọc nghe sao buồn làm vậy? thì nhiều người không lý giải được. Đồng ý rằng thể thơ (5 chữ) này có lợi thế để diễn tả những nội dung nhanh, khỏe, gấp… Nhưng quan trọng là ở hai điểm sau: Cách ngắt nhịp và sự phối hợp bằng – trắc. Bài thơ Ông đồ chỉ thuần có hai cách ngắt nhịp 2/3; 3/2. Nó chỉ có hai thanh bằng – trắc ở câu trên và câu dưới trong chỉnh thể một khổ thơ gồm 4 câu. Nhưng bài Sóng thì đa dạng về cách ngắt nhịp (2/3; 1/4; 3/2), lại được hai thanh bằng – trắc không chỉ câu trên với câu dưới mà còn ở các vế trong một câu, khổ thơ này với khổ thơ khác. Ngoài ra nó còn được sử dụng các cặp từ trái nghĩa, đối lập trong câu, ngoài câu… làm cho âm điệu bài thơ sôi nổi, trầm bổng, ngụp lặn… như từng cơn sóng vỗ.

4. Điểm thú vị nhất, điểm có thể nói theo cách “tích hợp”, đó là liên hệ gì giữa bài thơ Sóng – một bài thơ tình yêu và sóng biển – một hiện tượng vật lý. Về khoa học vật lý thì sóng biển là hiện tượng của dao động. Trong một bước sóng có nút sóng, bụng sóng. Nếu ta gọi chân sóng là nơi tiếp giáp các nút sóng, nghĩa là tiếp nối, liên tiếp và các bụng sóng có khoảng cách, nghĩa là gián cách, thì điều hoàn toàn hợp lý với cách gieo vần của bài thơ Sóng. Bài thơ này có hai cách gieo vần chân (cuối câu): Vần chân liên tiếp (các từ: trẻ-bể, nhau-sâu, thức-bắc, phương-dương, xa-ra) và vần chân gián cách (các từ: lẽ-bể-thế-trẻ, em-lên, đâu-nhau, qua-xa…). Vần chân liên tiếp chính là nút sóng của hiện tượng vật lý, còn vần chân gián cách chính là bụng sóng của hiện tượng này. Điểm này cùng với thú vị Bốn trêngiúp cho âm điệu tiết tấu của bài thơ, hình ảnh của hình tượng sóng cứ triền miên không dứt, ngụp lặn vô hồi vô tận như chính con sóng biển của đại dương.

5. Bài thơ Sóng ra đời sau Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) hai năm, sau Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) một năm. Đây là những năm tháng chống Mỹ ác liệt của dân tộc, cả nước ” Ra trận” (tên tập của Tố Hữu), Chế Lan Viên viết thơ đánh giặc ( Những bài thơ đánh giặc)… Thế mà Xuân Quỳnh lại viết Sóng – tình yêu? Phải chăng tác giả muốn tiếp thêm lửa nhiệt huyết yêu nước cho tuổi trẻ bằng cung bậc của tình yêu đôi lứa. Đó cũng là tiếng nói chung của cả đội ngũ văn nghệ lúc này, như thơ Phạm Tiến Duật với Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, nhạc Hoàng Việt với Tình ca, thơ Nguyễn Mỹ với Cuộc chia ly màu đỏ và Phan Thị Thanh Nhàn với bài thơ Hương thầm … đều là những bài thơ, bài hát thấm đượm tình yêu trong thời lửa đạn chiến tranh – với một thông điệp mạnh mẽ: “Tiếng hát át tiếng bom!”.

Quả thật tình yêu trong sáng sẽ làm tăng thêm sức mạnh, có thêm nghị lực để bước qua mọi trở ngại, khó khăn. Đó chính là thuộc tính nhân văn nhất của con người để chiến thắng mọi nghịch cảnh, vượt qua thử thách!

Xuân Quỳnh sinh ngày 6-10-1942, tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, quê ở làng La Khê, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây, Hà Nội). Xuân Quỳnh mất ngày 29-8-1988 trong một tai nạn giao thông cùng với người bạn đời là nhà viết kịch Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ. Mặc dù mất khi tài năng còn đang độ chín, nhưng nữ sĩ kịp để lại số lượng tác phẩm đáng kể, phần lớn là thơ tình: Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978), Tự hát (1984), Sân ga chiều em đi (1984)…

+233 Bài Thơ Hay Về Biển Và Sóng, Lãng Mạng, Cơ Đơn Và Nỗi Nhớ

Phân Tích Ba Khổ Thơ Giữa Của Bài Thơ Sóng Của Xuân Diệu

Những Bài Thơ Hay Viết Về Ngày Tết

Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Đạt 9.5 Điểm

Việt Bắc Của Tố Hữu

Phân Tích Bốn Câu Thơ Đầu Bài Thơ “nhàn”

Vẻ Đẹp Tâm Hồn Và Triết Lí Sống “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đề Thi Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 10 Quảng Trị

Sưu Tầm Những Nhận Định Hay Về Văn Học

110 Nhận Định Hay Về Thơ Ca Cần Nhớ Để Trích Dẫn Vào Bài Làm Văn

Sưu Tầm Những Nhận Định Hay Về Các Tác Phẩm Thơ Lớp 12

Bốn Câu Thơ Đầu Bài Thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm

Hiền sĩ trở về nơi bản trạch Một mình nhấp giọng một mình say Lòng rầu hữu sự rầu vô sự Nhẹ nhẫng một làn mây trắng bay (Mảnh lòng hiền sĩ – Trần Ngọc Hường)

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một hiền sĩ suốt đời tôn thờ cái đẹp thứ thanh nhàn. Về thơ nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm có đến cả trăm bài gồm thơ chữ Hàn và thơ chữ Nôm. Đặc sắc nhất, tiêu biểu nhất là bài thơ “Nhàn” rút ra từ tập Bạch Vân quốc ngữ thi. Bài thơ thể hiện sâu sắc nhất quan niệm sống nhàn và kết tinh vẻ đẹp cao đẹp của thi nhân

“Nhàn” bắt đầu bằng hai câu thơ thật giản dị nhưng chứa đựng không ít yếu tố nghệ thuật thú vị:

Một mai, một cuốc một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Những hình ảnh liệt kê “mai, quốc, cần câu” mở ra không gian bình dị, dân dã. Cách nói “dầu ai vui thú nào” thể hiện thái độ kiên định đến bình thản ung dung của thi nhân. Mặc kệ người đời vui thú với danh lợi, quyền uy chức tước, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn vui thú điền viên, vẫn làm bạn với cày nhàn cấy vắng. Từ láy “thơ thẩn” vừa in dấu tâm trạng thảnh thơi, thư thái, vừa gợi dáng vẻ, lặng lẽ miên man trên dòng suy nghĩ thoáng chút u buồn. Không u buồn sao được khi mà con đường trong sạch thanh cao ấy chỉ có mình mình một lối. Điệp từ “một” được điệp lại ba lần cực tả cái riêng lẻ, cô đơn của thi nhân, chỉ một mình mình làm bạn với mai, với cuốc, với cần câu. Thông thường nói đến nhàn, người ta thường hiểu là không làm gì, không nghĩ gì. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bộc lộ triết lí nhàn hoàn toàn khác biệt: nhàn là vui thú, là thảnh thơi nơi chốn quê bình dị, dân dã.

Ẩn mình ở chốn quê, Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn cho mình một lối riêng:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao

Để độc tả lối riêng của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sử dụng hiệu quả nghệ thuật đối lập ”ta và người”, ”dại và khôn”, ”tìm và đến”, ”chốn lao xao và nơi vắng vẻ” cùng những hình ảnh biểu trưng đầy ý nghĩa. Đọc hai câu thơ, ta thấy hiện lên hình ảnh một cụ Trạng lặng lẽ về chốn quê, về nơi thanh vắng còn đám đông chung nhân lại đôn đáo, đua chen, tất tả đến trốn quan trường mưu cầu lợi danh. Chúng chen xô đẩy, dẫm đạp lên nhau, thậm chí dùng mọi thủ đoạn, mưu mô để cảm bước tiến của nhau. Cảnh ” ta về, người đến ” chính là bức tranh thu nhỏ về xã hội đen bạn, thối nát của thời buổi đảo điên mà không chỉ ở ” Nhàn “, ở một số tác phẩm khác, cụ Trạng cũng có phản ánh

Ở triều định thì tranh nhau cái danh Ở chợ búa thì tranh nhau cái lợi

Cụ Trạng thơ thẩn tìm vế nơi vắng vẻ, tự nhận mình là dại, người người chen lấm đến chốn lao xao cụ lại cho là khôn. Quan niện ” dại, khôn ” của cụ Trạn thật lạ. Nhưng đó lại là cái dại của một bậc đại trí (Đại trí như ngu). Vậy là ẩn sau cách nói ngược nghĩa là nụ cười hóm hỉnh, thâm thúy của bậc đại chí, của đấng triết nhân đã tách ra và vượt lên thói thường.

Có thể nói, bốn câu thơ đầu của bài thơ ” Nhàn ” đã cho ta thấy rõ được thú vui giản dị, đạm bạc mà thanh cao, bình dị, tự do mà ý thích của cụ Trạng. Nhịp thơ linh hoạt, giàu chất nhạc kết hợp với hình ảnh thơ mộc mạc thâm thúy cùng triết lí sâu xa, giản dị, thâm trầm đã góp phần tạo nên phong vị riêng cho thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Phân Tích Bốn Câu Thơ Đầu Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Anh (Chị) Hãy Viết Một Bài Văn Ngắn Bàn Về Vấn Đề: Thanh Niên, Học Sinh Cần Làm Gì Để Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông

Hãy Nêu Lên Suy Nghĩ Của Em Về Lòng Dũng Cảm

Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Mối Quan Hệ Tình Bạn

Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Tình Bạn

Vẻ Đẹp Lối Sống Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ Nhàn

Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Cực Hay

Suy Nghĩ Về Bài Thơ Nhàn

Suy Nghĩ Về Bài Thơ “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nội Dung, Nghệ Thuật Biện Pháp Tu Từ Sử Dụng Trong Bài Thơ Thú Nhàn

Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Hay Nhất

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề quan tâm trong bài viết: vẻ đẹp lối sống nhàn hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi.

– Phân tích những khía cạnh của vẻ đẹp lối sống nhàn trong bài thơ:

+ Nhàn là “Một mai, một cuốc, một cần câu” trở về với cuộc sống thuần hậu, chất phác của một “lão nông tri điền” đào giếng lấy nước uống, cày ruộng lấy cơm ăn (tạc tỉnh canh điền). Con người trí thức có danh vọng đương thời đã tìm thấy niềm vui trong công việc lao động, làm bạn với cuộc sống giản dị nơi thôn dã. Mai để đào đất, cuốc để xới vun và cần câu để câu cá. Cách dùng hên tiếp 3 danh từ kết hợp với một số từ “một” đúng đầu cho thấy cái gì cũng đã có, đã sẵn sàng. Những vật dụng gắn với công việc lấm láp, vất vả của người nông dân lao động đi vào trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn có cái thanh nhàn thư thái riêng của một người tự tại, có thể làm gì tùy theo sở thích cá nhân bởi lẽ mai, cuốc, cày… là để “Cày mây, cuốc nguyệt, gánh yên hà – Nào của nào chăng phải của ta”.

+ Con người đã tìm thấy niềm vui, sự ưng ý thanh thản trong cuộc sống đó “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”. Hai chữ “thơ thẩn” là trạng thái thảnh thơi, “vô sự’, trong lòng không còn gợn chút cơ mưu tư dục của con người. Trong tương quan với “thú nào” của “dầu ai” kia, nhàn đã trở thành một thú có dư vị và sức hấp dẫn riêng đốì với nhà thơ, tạo nên ầm điệu chung cho tất cả tác phẩm: nhẹ nhàng, lâng lâng: “Thanh nhàn ấy ắt là tiên khách – Được thú ta đà có thú ta”.

+ Nhàn là “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ – Người khôn, người đến chốn lao xao”. “Nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao” mang ý nghĩa biểu tượng. “Chốn lao xao” chính là chốn quan trương, chốn giành giật tư lợi, sang trọng, tấp nập ngựa xe quyền quý, kẻ hầu người hạ, bon chen luồn lọt hãm hại nhau. Những âm thanh “lao xao” xe xe ngựa ngựa ấy một người tự nhận là “dại” như Nguyễn Bỉnh Khiêm thây “ngại bước chen” (“Thấy dặm thanh vân ngại bước chen”; “Nép mình qua trước chốn lao xao”; “Ngõ hạnh đưa người chân ngại chân”). Còn “nơi vắng vẻ” là nơi tĩnh tại của thiên nhiên, nơi tâm hồn tìm thấy sự thảnh thơi, nơi “Cửa vắng ngựa xe không quýt ríu”. Vậy cái “dại” và “khôn” ở đây thật ra là cách nói ngược, thâm trầm ý vị, vừa tự tin, tự cho mình là “dại”, người là “khôn”, vừa hóm hỉnh pha chút mỉa mai. Sự khôn, dại ấy trở lại trong bài thơ số 94: “Khôn mà hiểm độc là khôn dại – Dại vốn hiển lành ấy dại khôn”.

+ Nhàn là “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống – Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Không chỉ xa lánh danh lợi mà dường như còn cười cợt cả cái chôn lao xao lo giành giật nó, rốt cuộc chỉ như giấc mơ dưới góc cây hòe. Hai chữ “nhìn xem” biểu hiện một thế đứng cao hơn, dường như đã tiên liệu ngay từ khi chọn lối sống của một con người luôn tự cho mình là “dại”. Nhịp ngắt 2/5 của câu thơ cuối cùng gợi cảm nhận phú quý chĩ là một giấc mơ mà thôi. Đúng là “Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa!”.

– Kết lại nội dung phân tích: Lối sống nhàn trong bài thơ không đơn thuần là “giải pháp tình thế”, do hoàn cảnh ngẫu nhiên mà con người có. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông chủ động chọn lối sống nhàn. Sự chủ động ấy trong cuộc đời biểu hiện ở việc xin từ quan khi dâng sớ chém lộng thần không có kết quả. Trong bài thơ này, dấu ấn của sự chủ động hiện ra ở việc dứt khoát chọn cho mình một niềm vui riêng, một cách sống riêng so với những “giá trị” khác mà sô’ đông đang theo đuổi. Ngay từ những câu thơ đầu, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xác định “Thơ thẩn… nào” thì “thơ thẩn” với “thú nhàn” đã là một cách chọn lựa vượt lên vô vàn những “thú nào” của bất cứ ai. Sự chọn lựa cũng dứt khoát, quyết liệt trong cách sống: “Ta dại… lao xao”. “Ta” kiên định với chọn lựa của ta đầy tự tin. Chủ động trong thế “Rượu… chiêm bao”. Có người đang đứng trên phú quý, vượt ra ngoài “lực hấp dẫn” của phú quý để “nhìn xem” và cười cợt về nó. Như vậy nhàn không chỉ là tâm thế sống, niềm vui sống mà còn là một quan niệm sống, một triết lí sống.

Triết Lý Nhân Sinh Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ “nhàn”

Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Phân Tích Triết Lí Nhân Sinh Trong Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Anh Chị Hãy Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 38: Nhàn

🌟 Home
🌟 Top