Top 7 # Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Tây Tiến Sáng Tác Năm Bao Nhiêu Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Bài Thơ Tây Tiến Được Sáng Tác Ở Hà Nam?

Nhà thơ Quang Dũng (1921-1988) tên thật là Bùi Đình Diệm, quê làng Phượng Trì, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội). Ông gia nhập quân đội sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trở thành phóng viên tiền phương của Báo Chiến đấu. Trong nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học, không gian, thời gian, hay nói khác đi bối cảnh sáng tác là một vấn đề không thể bỏ qua.

Đối với bài thơ “Tây Tiến” cũng vậy. Cuối bài thơ ghi: Phù Lưu Chanh, 1948 cho biết thời gian và địa điểm Quang Dũng sáng tác bài thơ. Thời gian sáng tác đã rõ, các nhà nghiên cứu phê bình đều thống nhất là năm 1948. Trước đây khi nói về địa điểm ra đời của bài “Tây Tiến”, một số ý kiến cho rằng: Phù Lưu Chanh thuộc huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông cũ. Nhưng tra cứu thư tịch biên soạn đầu thế kỷ XIX đối chiếu với “Dư địa chí xã Phù Lưu” trên Cổng thông tin điện tử huyện Ứng Hòa, không thấy có địa danh Phù Lưu Chanh, chỉ có hai thôn Phù Lưu Thượng và Phù Lưu Hạ đều thuộc xã Phù Lưu.

Vậy Phù Lưu Chanh ở đâu? Tác giả Đào Ngọc Đệ (giảng viên Đại học Hải Phòng) viết: “Năm 1948, ở Phù Lưu Chanh (huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam), nhớ đến đồng đội cũ, ông viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến” sau đổi là “Tây Tiến”, ý kiến này cũng chưa thật cụ thể. Một số tác giả khác thì nói chung chung: Năm 1948, nhà thơ Quang Dũng sáng tác bài thơ “Tây Tiến” ở Phù Lưu Chanh.

Tìm hiểu các nguồn tư liệu và ý kiến các cụ cao tuổi ở địa phương thì được biết: Vào thời Nguyễn có xã Phù Lưu thuộc tổng Phù Lưu, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Phù Lưu là một xã nhất thôn, gồm 3 xóm: Thượng, Trung, Hạ.

Sinh thời, nhà thơ đã kể về hoàn cảnh ra đời của bài thơ là: “Bài thơ Tây Tiến tôi làm khi về dự Đại hội toàn quân ở liên khu 3, làng Phù Lưu Chanh. Tôi làm thơ rất nhanh, làm xong đọc trước đại hội, được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt. Nhân có Nguyễn Huy Tưởng, đại biểu nhà văn ở Việt Bắc về dự, lúc đi tôi gửi anh luôn. Sau anh Xuân Diệu cho in ngay ở Tạp chí Văn nghệ. Hồi đó tấm lòng và cảm xúc của mình ra sao thì viết vậy. Tạp chí Văn nghệ số 11 – 12 tháng 4-5.1949 của Hội Văn nghệ Việt Nam (Thư ký tòa soạn Nguyễn Huy Tưởng) in bài thơ ở trang 17 có tên “Nhớ Tây Tiến”, cuối bài ghi: Quang Dũng (Đoàn quân nhân văn nghệ L.K.3).

Từ khi ra đời đến nay, bài thơ “Tây Tiến” đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá cao. Năm 2018, 70 năm bài thơ “Tây Tiến” ra đời, những người yêu văn chương cần tìm hiểu về bối cảnh sáng tác cùng những gắn bó của nhà thơ Quang Dũng với vùng đất sông Châu – núi Đọi Hà Nam.

Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Của Tác Giả Quang Dũng

BÀI LÀM

Tây Tiến – đoàn quân anh dũng đã đi vào lịch sử Việt Nam như một bản hùng ca đầy bi tráng. “Tây Tiến” – một tác phẩm thi ca sáng ngời thể hiện rõ nét nhất về những vị anh hùng ấy. Mà ở đó, cả người và cảnh đều được nhà thơ Quang Dũng thể hiện vừa chân thực vừa lãng mạn bằng những vần thơ giản dị, nhịp nhàng.

Cũng là một người lính Tây Tiến nên Quang Dũng đã có rất nhiều kỷ niệm cùng với đoàn binh của mình trong những năm tháng kháng chiến quyết liệt ở Miền Tây. “Tây Tiến” được ra đời xuất phát từ chính nỗi nhớ đồng đội, nhớ khoảng thời gian cùng nhau hành quân, cùng trải qua những gian khó nơi chiến trường đầy đạn bom khói lửa. Những năm tháng ấy không những là kỷ niệm riêng khó mờ phai trong trái tim ông mà còn là những trang sử hào hùng của cả dân tộc Việt Nam.

Tây Tiến – một bài thơ thật đẹp, đẹp cả cảnh lẫn người:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Cảnh đẹp của một miền quê xa nhớ giờ lần lượt hiện lên dưới ngòi bút tinh tế, lãng mạn của thi sĩ: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu. Những địa danh đã gắn bó mật thiết với Quang Dũng và đoàn quân Tây Tiến trong những năm tháng dài kháng chiến. Mỗi cái tên là mỗi khó khăn trập trùng nối tiếp nhau. “Sài khao sương lấp” khiến “đoàn quân mỏi”. Ở Mường Lát cũng vậy:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngử trời”

Nơi đây, những ngọn núi ngọn đồi chen lấn nhau, át cả đoàn quân nhưng thay vì mệt mỏi, họ vẫn luôn bừng bừng khí thế. Điều đó được thể hiện ngay trong giọng điệu hào hứng của từng câu thơ. Những con dốc khi lên lúc xuống, khúc khuỷu và thăm thẳm. Dốc cao đến nỗi nếu đứng trên đầu dốc sẽ không thể nhìn được xuống chân dốc. Nhưng dù có khó khăn thế nào cũng không làm lay chuyển ý chí của những người lính Tây Tiến đang ngày đêm hành quân. Dù ở nơi xa thẳm heo hút ấy, dù bao khổ cực gian lao, và dù có phải chết đi chăng nữa, chỉ cần còn hơi thở là họ còn bước tiếp. Cũng có những lúc, vì ý chí quyết tâm, họ chẳng màng chi đến thân thể mình. Thế nên, nhà thơ đã đặt một dấu chấm than đầy xúc động sau hai câu thơ:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đởi !”

Hai câu thơ này đã lấy đi rất nhiều nước mắt của bạn đọc bởi hình ảnh một người lính trẻ măng đang căng tràn sức sống, đang ấp ủ bao ước mơ bao hoài bão đẹp của đời trẻ mà nay vì đất nước đã sẵn sàng hi sinh. Tuổi thanh xuân anh còn chưa sống hết. Có thể tuổi anh lúc đó chỉ bằng hoặc hơn kém một – hai tuổi của những bạn học sinh đang đọc bài thơ này. Vậy đấy, ngay cả lúc chết, anh cũng “gục lên súng mũ”, chết cho Tổ quốc thân yêu, cho nhân dân, cho thế hệ đàn em được sống trọn vẹn tuổi thanh xuân. Đằng sau dấu chấm than ấy, sau một người lính đã “bỏ quên đời” là còn bao nhiêu người lính khác nữa. Họ cứ bước, cứ tiến theo một niềm quyết tâm, quyết không bao giờ lui, quyết đuổi sạch quân thù khỏi đất Việt. Có lẽ viết đến đây, Quang Dũng cũng xúc động lắm khi nhớ về người đồng đội của mình đã nằm lại trên chiến trường xa xôi. Nhưng chưa dừng lại ở đó, những mối hiểm nguy khác vẫn còn đầy rẫy trên con đường họ hành quân:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”.

Chỉ có những ngọn thác dựng đứng mới có thể “gầm thét” như trong câu thơ của tác giả. Khi đêm xuống, họ dừng chân nghỉ nhưng giấc ngủ cũng không tròn vì xung quanh là rừng rậm hẻo lánh, là thú dữ khát máu người. Biết là mình luôn cận kề bên bờ vực thẳm của cái chết nhưng họ không hề nao núng. Cả tác giả cũng vậy, ông miêu tả, ông kể lại những khó khăn mình gặp phải nhưng chưa có một từ ngữ nào nói lên sự sợ hãi, thay vào đó là giọng điệu đầy tự hào, phấn chấn và lãng mạn:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

Nhớ đồng đội và giờ nhà thơ đang nhớ những kỷ niệm thân thương của Tây Tiến, nhớ người em gái dịu dàng với mùi nếp thơm quyến rũ. Đây chính là tình đồng đội, sự hẫu thuẫn lẫn nhau giữa quân và dân trong thời kỳ kháng chiến.

Như vậy, đoàn lính Tây Tiến đã băng qua bao gian nan thử thách, thậm chí là song hành cùng với Thần Chết nhưng họ vẫn tiến bước với ý chí quyết chiến cho Tổ Quốc được hòa bình độc lập. Họ đã cùng nhau trải qua bao gian khó: Cả ngày vượt đèo vượt núi trong bao khó khăn khổ cực, đêm đến lại trông cho nhau ngủ để thoát khỏi nanh vuốt của thú dữ… Nhưng sau cùng, vì Tổ quốc, những người lính dẫu có “bỏ quên đời” cũng vẫn oai nghiêm, vẫn giữ vững một niềm tin chiến đấu.

Và rồi, gạt bỏ hết những khó khăn ấy, Quang Dũng đưa ta đến với đêm đốt lửa trại đầy lãng mạn, náo nức:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.

Đến đây, đạn bom khói lửa như được nhà thơ cất giữ riêng một nơi, để nơi này chỉ còn lại đuốc hoa, xiêm áo nhảy múa trong tiếng khèn náo nức của đêm hội. Biết là ngoài kia, nơi chiến trường đang súng đạn quyết liệt, máu của kẻ thù và cả máu của đồng đội vẫn đang từng ngày đổ xuống. Nhưng chẳng có điều gì ngăn cản được những niềm vui của đời trẻ, của thanh xuân. Có thể nói, những câu thơ này rất đẹp. Dường như nơi đây không hề có chiến tranh, không bom đạn, không đổ máu mà chỉ có tiếng hát, tiếng khèn và những điệu nhảy nhịp nhàng bên đống lửa. Họ – bao gồm cả lính và dân. Họ – những con người có thể chưa một lần quen biết nhưng giờ đây đang cùng hòa nhập làm một. Đó chính là tình dân quân, tình đoàn kết gắn bó keo sơn của nhân dân ta trong thời kháng chiến. Nhờ có sự đoàn kết ấy, lịch sử Việt Nam mới có những trang vàng chiến thắng.

Tạm xa những kỷ niệm thân thương ấy, nhà thơ lại quay trở về với đồng đội của mình:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Những người lính Tây Tiến thật hóm hỉnh và bi tráng. Hành quân trong rừng, ắt không tránh khỏi những cơn sốt rét khiến tóc rụng, da xanh, người hao gầy. Thế nhưng, qua ngòi bút tinh tế và hồn thơ lãng mạn đậm chất lính của Quang Dũng, sự thật ấy đã được diễn tả một cách rất vui tươi. Bởi thế, cả đoàn binh “không mọc tóc” hay tóc không thèm mọc chứ không phải vì bị rụng không mọc được. Sự xanh xao trên khuôn mặt các anh lại càng khiến mỗi người thêm oai hùm. Và rồi, trong trái tim những người lính ấy vẫn luôn ấp ủ bóng hình của người con gái mình thương nơi quê nhà xa xăm. Ngày hành quân, đêm lại nhớ về người yêu. Hẳn là chúng ta đã từng nghe nói đến tính yêu của người lính, rất chân thành và chung thủy. Nhưng không phải ai cũng có thể trở về được với gia đình, với những người thân yêu. Không ít người đã bỏ lại mình ở xứ lạ. Đúng như Quang Dũng đã viết “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”. Câu thơ lại một lần nữa làm nhói tim mọi người. Anh ra đi mà “chẳng tiếc đời xanh”, anh đi bỏ lại một “dáng kiều thơm” đang từng ngày ngóng chờ tin anh. Chiến tranh là thế, kẻ ở người đi, người đi chưa biết sẽ có ngày quay lại.

“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

Vẫn biết vào chiến tranh là hiến thân mình, nhưng những người lính ấy vẫn quyết hẹn thề với đất nước, quyết mang lại độc lập tự do cho dân tộc. Họ tình nguyện bỏ lại sau lưng bao ước mơ, bao hoài bão của tuổi trẻ. Thậm chí bỏ lại cả tình yêu đẹp đẽ còn đang dang dở bao dự định cho tương lai. Bởi có lẽ nếu họ không làm vậy thì những đời trẻ sau này, những tuổi thanh xuân tiếp đó sẽ chẳng bao giờ có thể được sống trọn vẹn.

Sự hi sinh của các anh mãi mãi là những kỷ niệm đẹp trong lòng dân tộc. Quang Dũng đã rất thành công khi khắc họa lại những người đồng đội của mình. Đó cũng là hình ảnh chung của người lính Việt Nam trên khắp các chiến trường thời kỳ kháng chiến. Cho đến nay, đất nước đã hòa bình, thế hệ trẻ hãy tận hưởng những gì mà các anh đã chẳng tiếc máu xương mình để giữ lại, đồng thời cố gắng dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp hơn để xứng đáng với tất cả những hi sinh thiêng liêng, cao cả ấy.

Trình Bày Cảm Nhận Về Hình Tượng Người Lính Tây Tiến Trong Bài Thơ Tây Tiến Để Làm Sáng Tỏ Những Nhận Định

1. Mở bài

Giới thiệu tác phẩm: Quang Dũng là một nhà thơ chiến sĩ với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu của một con người tài hoa, đa tài. Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, là kết tinh của những trải nghiệm trong cuộc đấu tranh chống Pháp cùng những người đồng đội trong binh đoàn Tây Tiến.

2. Thân bài

– “Dáng dấp của tráng sĩ thuở trước” là những nét đẹp lí tưởng mang tính ước lệ của văn chương trung đại.

– “Mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời chống Pháp” lại hướng đến những nét đẹp hiện đại của những người chiến sĩ vệ quốc quân thời kháng chiến chống Pháp.

– Trước tiên, hình tượng người lính Tây Tiến hiện lên với dáng vẻ oai phong, lẫm liệt cùng tinh thần xả thân tự nguyện, tư thế ngang tàng, ngạo nghễ coi cái chết nhẹ tựa hồng mao.

+ Hình tượng người lính Tây Tiến được đặt trong không gian đầy hào hùng, cổ xưa gợi cho độc giả liên tưởng đến không gian bi hùng cổ xưa.

+ Quang Dũng đã sử dụng hàng loạt những từ ngữ Hán Việt “biên cương”, “mồ viễn sứ”, “áo bào” để làm tăng tính trang trọng.

+ Không gian chiến trường trong bài thơ Tây Tiến hiện lên là miền viễn xứ chốn biên ải, đây là nơi chiến đấu, cũng là nơi mãi mãi nằm xuống của những người lính vô danh.

+ Nói về cái mất mát, hi sinh nhưng nhờ sử dụng ngôn ngữ trang trọng, hình ảnh ước lệ mà sự hi sinh ấy trở nên thật thiêng liêng, cao đẹp.

– Người lính Tây Tiến còn mang trong mình vẻ đẹp của những người chiến sĩ giải phóng của thời chống Pháp, hào hùng, kiên cường nhưng rất đỗi hào hoa, lãng mạn:

+ Chiến đấu với tinh thần vệ quốc, quyết hi sinh, dâng hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp lớn của đất nước

+ luôn lạc quan, vui vẻ thể hiện được sức sống căng tràn của những chàng trai Hà Thành lãng mạn, mộng mơ.

+ Những người lính trong tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng của những người lính vệ quốc nhưng cũng thể hiện những nét đẹp tươi trẻ, nghịch ngợm của những chàng trai đôi mươi đầy lãng mạn, mộng mơ.

3. Kết bài

Hai ý kiến nhận định về bài thơ Tây Tiến nhìn bên ngoài có vẻ đối lập nhưng hoàn toàn thống nhất vì cùng hoàn thiện cho vẻ đẹp của người lính Tây Tiến, vừa kiên cường, quả cảm vừa lãng mạn hào hoa.

II. Bài tham khảo cho đề cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

Quang Dũng là một nhà thơ chiến sĩ với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu của một con người tài hoa, đa tài. Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, là kết tinh của những trải nghiệm trong cuộc đấu tranh chống Pháp cùng những người đồng đội trong binh đoàn Tây Tiến. Thành công nổi bật của của bài thơ là xây dựng được hình tượng người lính Tây Tiến vừa mang dáng dấp của những người chiến sĩ thuở trước, vừa mang những vẻ đẹp hiện đại của những người chiến sĩ chống Pháp, kiên cường nhưng cũng rất đỗi hào hoa, phong nhã.

Đọc Tây Tiến, có ý kiến cho rằng “người lính ở đây có dáng dấp của tráng sĩ thuở trước. Ý kiến khác thì nhấn mạnh “Hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp”. Hai ý kiến tưởng chừng đối lập nhưng hoàn toàn thống nhất bởi nó đều là những nét đẹp đặc trưng trong hình tượng của những người lính Tây Tiến. “Dáng dấp của tráng sĩ thuở trước” là những nét đẹp lí tưởng mang tính ước lệ của văn chương trung đại. “mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời chống Pháp” lại hướng đến những nét đẹp hiện đại của những người chiến sĩ vệ quốc quân thời kháng chiến chống Pháp.

Trước tiên, hình tượng người lính Tây Tiến hiện lên với dáng vẻ oai phong, lẫm liệt cùng tinh thần xả thân tự nguyện, tư thế ngang tàng, ngạo nghễ coi cái chết nhẹ tựa hồng mao:

“Rải rác biên cương mồ viễn sứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Hình tượng người lính Tây Tiến được đặt trong không gian đầy hào hùng, cổ xưa gợi cho độc giả liên tưởng đến không gian bi hùng cổ xưa, nơi những chiến binh anh hùng ra đi vào cuộc trường trinh, vào nơi lam chướng nghìn trùng. Trong bài thơ Tây Tiến, tác giả Quang Dũng đã sử dụng hàng loạt những từ ngữ Hán Việt “biên cương”, “mồ viễn sứ”, “áo bào” để làm tăng tính trang trọng, để làm cho sự ra đi của người lính giảm bớt đau thương, thiêng liêng hóa cho sự hi sinh thầm lặng đó.

Không gian chiến trường trong bài thơ Tây Tiến hiện lên là miền viễn xứ chốn biên ải, đây là nơi chiến đấu, cũng là nơi mãi mãi nằm xuống của những người lính vô danh, họ đã dâng hiến cả cuộc đời, cả tuổi xanh cho sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ tổ quốc “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Trong sự thiếu thốn của hoàn cảnh, manh áo không lành lặn trên người của những người lính ấy cũng chính là “áo bào”để “thay chiếu anh về đấy”. Tuy nói về cái mất mát, hi sinh đấy nhưng nhờ sử dụng ngôn ngữ trang trọng, hình ảnh ước lệ mà sự hi sinh ấy trở nên thật thiêng liêng, cao đẹp.

Không chỉ mang vẻ đẹp của những người chiến binh xưa mà những người lính Tây Tiến còn mang trong mình vẻ đẹp của những người chiến sĩ giải phóng của thời chống Pháp, hào hùng, kiên cường nhưng rất đỗi hào hoa, lãng mạn. Những người lính trong binh đoàn Tây Tiến chiến đấu với tinh thần vệ quốc của cuộc kháng chiến chống Pháp, quyết hi sinh, dâng hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp lớn của đất nước:

“Người đi Tây Tiến không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa, chẳng về xuôi”

Sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt, thiếu thốn về vật chất, hiểm nguy trong chiến đấu với cái chết kề cận nhưng những người lính ấy chưa từng thoái chí, sờn lòng mà luôn lạc quan, vui vẻ thể hiện được sức sống căng tràn của những chàng trai Hà Thành lãng mạn, mộng mơ:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Cuộc sống quân ngũ gian khổ nhưng những người lính vẫn một lòng hướng về biên giới với tinh thần đấu tranh quyết liệt, mạnh mẽ với kẻ thù. Cùng với sự kiên cường, quả cảm trong chiến đấu là những phút lãng mạn, hào hoa của những chàng trai khi nhớ về bóng dáng kiều thơm. Những người lính trong tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng của những người lính vệ quốc nhưng cũng thể hiện những nét đẹp tươi trẻ, nghịch ngợm của những chàng trai đôi mươi đầy lãng mạn, mộng mơ. Cũng chính tinh thần lạc quan, yêu đời cùng những cảm xúc hào hoa, lãng mạn ấy đã mang đến doanh trại – nơi vốn trang nghiêm với những kỉ luật thép trở nên thật rực rỡ, ấn tượng với “hội đuốc hoa”.

Hình tượng những người lính Tây Tiến cũng được gắn liền với sự kiện lịch sử có thật, đó chính là cuộc hành binh của những người lính Tây Tiến, những địa danh xuất hiện trong bài thơ cũng là những địa danh có thực, ngôn ngữ thơ cũng thật bình dị như lời thì thầm tâm sự của những người lính.

Như vậy, hai ý kiến nhận định về bài thơ Tây Tiến nhìn bên ngoài có vẻ đối lập nhưng hoàn toàn thống nhất vì cùng hoàn thiện cho vẻ đẹp của người lính Tây Tiến, vừa kiên cường, quả cảm vừa lãng mạn hào hoa.

Bài Giảng Bài Thơ Tây Tiến

loading…

– Bút danh: Quang Dũng.

– Sinh năm 1921và mất năm 1988.

– Quê: Phưọng Trì, Đan Phượng, Hà Tây.

– Xuất thân trong một gia đình nho học.

– Là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh soạn nhạc.

b. Tác phẩm:

– Mục đích sáng tác: ghi lại những kỉ niệm một thời của những người lính Tây Tiến.

*Bố cục: chia làm ba đoạn:

– Cảm hứng chính của bài thơ là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tránggắn bó với nhau để làm nên linh hồn, sắc điệu của bài thơ.

II. Đọc hiểu văn bản a. Nỗi nhớ Tây Tiến:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

– Hai câu thơ mở đầu đã cụ thể cho cảm xúc của toàn bài thơ Sông Mã đại diện cho vùng đất miền Tây. Hai hình tượng song song kết động nỗi nhớ. Đó là miền Tây Bắc Bắc Bộ và người lính Tây Tiến.

b. Hình ảnh người lính Tây Tiến:

*Giữa khung cảnh hùng vĩ, dữ dội.

-Câu thơ 3. 4 gợi tên đất, tên làng. Đó là Sài Khao, Mường Lát:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

– Hành quân chiến đấu đầy gian khổ, thử thách và hi sinh:

“Dốc lên khúc khuỷ, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời …………… mũ bỏ quên đời ! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm……… cọp trêu người Nhớ ôi ! Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

*Người lính Tây Tiến giữa khung cảnh núi rừng thơ mộng:

“Doanh trại… bừng …hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

*Tâm hồn lãng mạn:

Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm.

* Sự hy sinh thầm lặng:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh …………anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

*Hình ảnh:

– Đó là nét vẻ hào hoa, lãng mạn đầy thơ mộng của những chàng trai Hà Nội.

3. Khẳng định lí tưởng chiến đấu và tinh thần đồng đội.

“Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

– Mặt khác, đoạn thơ kết bài thể hiện lí tưởng chiến đấu “một đi không về” của người lính. Họ ra đi chiến đấu không hẹn ngày về.

III. Tổng kết:

– Xem phần ghi nhớ SGK.

Nhận xét