Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Nói Với Con Dâu Của Vương Trọng Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Bài Thơ “chị Dâu” Của Vương Trọng

Cổng Điện Tử Ubnd Huyện Núi Thành

Vương Trọng, Một Mai Nếu Bạn Muốn Đi Tìm

Cảm Nhận Khổ Đầu Của Bài Thơ Nói Với Con( Y Phương)

Cảm Nhận Vẻ Đẹp Người Đồng Mình Trong Bài Thơ “nói Với Con”

Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ “nói Với Con” Của Y Phương

(Baonghean) – Vương Trọng sinh ra ở xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Nhà thơ đã có 12 tập thơ và trường ca được xuất bản. Bài thơ “Chị dâu” được đưa vào tuyển thơ của tác giả nhan đề Ngoảnh lại, Nhà xuất bản Thanh niên in năm 2001, cho thấy đây là một trong những bài thơ được người viết tâm đắc.

Nhà thơ Vương Trọng

Bài thơ viết về chị dâu mở đầu bằng việc cho biết chị là người cùng làng:

Một ngày vui, chị bước vào nhà em

Xưa nay có nhiều cách thể hiện khoảng cách giữa những người sống trong cùng làng xóm. Ở đây tác giả dùng cách ước lượng cách mấy bờ rào. Câu thơ diễn tả khoảng không gian gần gũi đồng thời mở đầu giọng thơ mộc mạc chân thành. Người Việt Nam thường nhìn nhận con người theo kiểu “quen nể dạ, lạ nể áo quần”. Chị là một thành viên mới của gia đình nên các em chồng quan sát như với người lạ:

Áo cánh nâu, quần lụa đen

Cặp ba lá, đường ngôi nghiêng mái đầu

Tất cả các chi tiết đều quen thuộc cho thấy đây là một thôn nữ nền nã một cách giản dị.

Phần dài nhất của bài thơ là để biểu hiện sự chịu thương chịu khó, đức hy sinh của chị dâu. Làm dâu nhà người, cô thôn nữ ấy không chỉ thay đổi nơi ở mà thay đổi cả chức năng và thân phận. Giờ đây chị phải chống chèo lo toan cho nhà chồng. Điều bất thường đó được người đọc thấy dần qua những lời tự sự giản dị:

Nhà chồng, chồng ở nhà đâu

Em chồng đông, mẹ chồng đau ốm nhiều

Nhà chồng vốn là một từ, được tác giả khéo léo và hóm hỉnh tách ra làm hai, tạo nên chút hờn dỗi: chồng ở nhà đâu. Đến đây ta hiểu thêm cách mấy bờ rào không chỉ diễn tả khoảng cách giữa hai nhà mà còn ngợi ca người thôn nữ tự nguyện đảm đương nỗi vất vả. Gia cảnh ấy chị nào có lạ gì. Nhưng vì có tình cảm với một người trai làng, chị trở thành ruột thịt của nhà bên ấy. Người đàn bà này sinh ra, lớn lên và tự nguyện làm dâu ở nơi thời tiết khắc nghiệt:

Quê mình cái nắng chang chang

Trận mưa tháng Tám lụt sang tháng Mười

Khi mưa dầm, lúc nắng phơi

Lâu nay đã có nhiều người nghiên cứu tính cách của người Nghệ, cắt nghĩa nó bằng cả yếu tố thời tiết nơi đây. Cách ứng xử thiếu mềm dẻo, thường cực đoan của nhiều con người xứ này có cả hơi hướng của thời tiết nắng lắm mưa nhiều, cả hai đều quá đà quá độ.

Một thân lầm lũi như cánh cò cánh vạc, gánh vác việc nhà chồng, năm này qua tháng khác phải đối diện với thiên nhiên khắc nghiệt thì hệ quả tất yếu là thời trẻ trung qua âm thầm lúc nào không biết. Câu thơ nhỏ nhẹ chứa chất bao xót xa thương cảm.

Nhớ về những năm tháng nghèo khó, vất vả, nhân vật trữ tình chỉ đặc tả bữa ăn ngày giáp hạt. Ngày thường, chị dâu đã nhường nhịn miếng ăn cho lũ em chồng đông đúc vô lo. Trong ngày giáp hạt, tình cảnh trở nên cùng cực:

Cả nhà trừ bữa một nồi canh rau

Cả nhà chỉ có một nồi. Người Việt Nam gọi bữa ăn là bữa cơm, nghĩa là cơm đóng vai trò chính, canh là thứ phụ để đưa cơm. Vậy mà ở nhà nghèo này, phụ kiêm luôn chính, chỉ có một món, không thể ít hơn được nữa.

Những vấn nạn của kiếp người cùng nhau ùa đến, đè nặng lên vai người phụ nữ nghèo. Cả cơn mưa chiều dường như cũng hùa vào khiến lòng người thêm trống vắng, lạnh lẽo:

Chiều mưa, gạo hết, mẹ đau cuối giường

Từ đầu bài thơ, nhân vật trữ tình em chỉ đứng ra kể và tả, đến đây mới trực tiếp giãi bày cảm xúc thương lắm chị dâu và cầu cho hoàng hôn đừng xuống trước khi chị về! Đó là sự diễn tiến cảm xúc hợp lôgic. Hình bóng chị dâu tần tảo, chịu biết bao khó nhọc vì gia đình chồng, trong đó có cả nhân vật đang hồi tưởng, khiến không chỉ người trong cuộc mà cả người đọc cũng xót xa thương cảm.

Nhà thơ đã diễn tả lôgic thông thường của đời sống mà không phải khi nào người ta cũng nhận ra. Người thôn nữ năm xưa bước vào gia đình này thoạt đầu như khách. Nhưng rồi nhiều năm tháng qua đi, cha mẹ chồng khuất núi, lũ em chồng như những cánh chim bay đi, chị trở thành ruột thịt thiêng liêng, như bến neo đậu cho những con tàu đi xa trở về:

Quê nhà tình chị giữ dành không vơi

Đời chị dâu, cũng theo quy luật thông thường của nhân sinh, có những đổi thay theo hướng tốt đẹp và cả những thay đổi không mong muốn:

Con đầu sinh cháu chị lên bậc bà

Không ít người lẫn lộn văn hoá với học vấn. Học vấn tính được bằng lớp, còn văn hoá thì không thể. Xung quanh chúng ta có nhiều người học vấn thấp nhưng cuộc đời họ toát lên những giá trị văn hoá cao quý. Người chị dâu trong bài thơ này cũng vậy. Chị không quen biểu lộ tư tưởng tình cảm bằng ngôn từ Dù thư không viết một lời nhưng luôn vị tha, luôn là người giữ nếp nhà:

Canh tư chị thức bếp nhà lửa nhen

Đến cuối bài thơ tầm vóc của người chị dâu được nâng cao, hòa nhập với đất trời quê nhà:

Ngoái nhìn núi dựng phía sau

Em tìm dáng chị cuối màu trời xanh.

Khoa Ngữ văn, Đại học Vinh

Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Nói Với Con Của Y Phương

Trình Bày Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Nói Với Con Của Y Phương

Cảm Nhận Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Phân Tích Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Cảm Nhận Về Người Cha Trong Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Bài Thơ Nhớ Mẹ Của Vương Trọng

Lời Bài Hát Con Nhớ Nhà Lắm

Lý Bạch, Ánh Trăng Nghìn Năm Toả Sáng Bầu Trời Thi Ca (P.5)

Gs Ngô Bảo Châu Sáng Tác Bài Thơ Giúp Ghi Nhớ 3.000 Từ Tiếng Anh

Những Bài Thơ Viết Về Nỗi Nhớ Sài Gòn

Tưởng Nhớ Các Bậc Đã Khuất

Bài thơ Nhớ Mẹ của Vương Trọng

Nhà thơ Vương Trọng với bài thơ nhớ mẹ

Nhà thơ Vương Trọng – người con của Đô Lương xứ Nghệ. Ông có nhiều bài thơ cảm động viết về những người phụ nữ ruột thịt và gần gụi trong gia đình. Trong những bài thơ đó có bài “Khóc giữa chiêm bao” nhà thơ viết về người mẹ kính yêu của mình đã khuất núi từ nhiều năm nay.

Ông kể với tôi về xuất xứ của bài thơ này: Đó là một đêm ở Hà Nội nhà thơ nằm mơ thấy mẹ mình. Đây là giấc mơ thường có với ông khi nghĩ về mẹ. Lạ lùng là trong giấc mơ nào cũng vậy bao giờ ông cũng mơ về những tháng năm khốn khó của gia đình.

Những năm mà cuộc sống của anh em ông đè trên đôi vai gánh gồng của mẹ. Ông thường khóc trong giấc mơ gặp mẹ. Giấc mơ là kí ức hiện về sau nỗi nhớ. Nó là vầng huyền ảo kỳ diệu của cảm xúc. Đấy là những ký ức cốt nhục khó có thể quên nhưng lại không thể hiện hữu.

Mơ gặp mẹ khi tỉnh dậy biết là mẹ đã đi xa lâu rồi mà tâm hồn con vẫn bổi hổi bao nỗi nhớ thương. Lúc ấy người làm thơ đã khóc. Đúng ra là đứa con trai đã khóc khi gặp lại mẹ mình. Những giọt nước mắt hiếu thảo trong một đêm Hà Nội vào năm 1988 cách đây hơn hai mươi năm ấy đã thao thức với Vương Trọng để cùng ông hiện lên những dòng chữ cảm động này:

KHÓC GIỮA CHIÊM BAO Vương Trọng Đã có lần con khóc giữa chiêm bao Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó Đồng sau lụt đường đê sụt lở, Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn. Anh em con chịu đói suốt ngày tròn, Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa. Có gì nấu đâu mà nhóm lửa Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về. Chiêm bao tan nước mắt dầm dề, Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng. Dù biết lời con chẳng thể nào vang vọng, Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương. Con lang thang vất vưởng giữa đời thường, Đâu cũng sống không đâu thành quê được. Còn quê mẹ cuối chân trời tít tắp, Con ít về từ ngày mẹ ra đi. Đêm tha hương con tìm lại những gì Với đời thực chẳng bao giờ gặp nữa. Mong hình mẹ lại hiện về giấc ngủ Dù thêm lần con khóc giữa chiêm bao.

Soạn Bài Nhớ Đồng Của Tố Hữu Văn Lớp 11

Lời Bài Hát Thương Nhớ Cha Mẹ

Lời Bài Hát Cha Và Con Gái

Bài Thơ Nhớ (Hồng Nguyên)

Bài Thơ Việt Nam Chống Dịch Covid

An Dương Vương Và Mị Châu Trọng Thủy

Truyện Ngắn “Cô Bé Bán Diêm” Bằng Tiếng Anh

Reading : The Little Match Girl – Cô Bé Bán Diêm – Speak English

Blog Học Tiếng Anh Online, Đọc Báo Song Ngữ.

Cổ Tích Việt Nam Song Ngữ: Sơn Tinh, Thủy Tinh

Ba Chú Heo Con Và Chó Sói Câu Chuyện Cổ Tích – Truyện Cổ Tích Việt Nam – Hoạt Hình – Nhạc Thiếu Nhi.

“Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…”

Qua câu thơ chúng ta hiểu dõ thêm về “Truyện An Dương Vương Và Mị Châu Trọng Thủy” và câu truyện kể về An Dương Vương là vua nước Âu Lạc, ông xây thành nhưng xây đến đâu đổ đến đo, sau đó nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng thì đã xây xong. Khi trở về, Rùa Vàng còn cho vua một cái móng vuốt để làm nỏ thần. Khi Triệu Dà đến xâm lược, thì đã bị nỏ thần của An Dương Vương tiêu diệt. Sau đó, Triệu đà xin cầu hòa và đã sang cầu hôn con gái của An Dương Vương là Mị Châu cho con trai của ông ta là Trọng Thủy. An Dương Vương đồng ý và đã cho Trọng Thủy ở rể. Trong thời gian ở rể thì Trọng Thiuỷ đã lừa Mị Châu để lây nỏ thần và trở về nước. Sau đó, Triệu Đà đem quân sang xâm lược Âu Lạc lần thứ hai, An Dương Vương ỷ có nỏ thần vẫn ngang nhiên ngồi đánh cờ, và kết quả là bị mất nước, An Dương Vương đem Mị Châu chạy ra biển, ra đến biển thì Rùa Vàng hiện lên nói “kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó”. An Dương Vương nghe vậy Mị Châu. Còn ông thì xuống biển. Về sau thì Xác Mị Châu biến thành ngọc, còn Trọng Thủy thương tiếc vợ nên đã nhảy xuống giếng tự tử. sau này, khi lấy nước giếng đó rửa với ngọc thì sắc ngọc tự nhiên rực lên.

🎬 Bác Gấu đen và hai chú Thỏ:

🎬 Cậu bé Tích Chu:

🎬 Câu chuyện bó đũa:

🎬 Bà Chúa Tuyết:

🎬 Chú lính chì dũng cảm:

🎬 Cô bé bán diêm:

🎬 Sơn Tinh Thủy Tinh:

Danh sách Playlist :

Truyện cổ tích:

Truyện ngụ ngôn:

Truyện cổ Andersen:

Phim hoạt hình cổ tích hay nhất:

=======================================================

#truyencotich #anduongvuongmichautrongthuy #hoathinhanduongvong

======================================================

Fanpage:

Email: truyen.ctnn.haynhat@gmail.com

💗💗💗💗💗💗 Thanks for watching! 💗💗💗💗💗💗

Nguồn: https://curbjumperstreeteats.com

Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

Thục An Dương Vương Xây Thành Cổ Loa – Hoàng Thành Thăng Long

Những Đặc Trưng Thi Pháp Cổ Tích Trong Truyện Bánh Chưng Bánh Giầy

Trường Cao Đẳng Sư Phạm Quảng Trị

Đôi Điều Chia Sẻ Khi Dạy Và Học Truyện Cổ Tích

Các Dạng Đề Bài Thơ: Nói Với Con

Dàn Ý Bài Thơ Nói Với Con Ngắn Gọn Hay Nhất

Những Bài Thơ Nói Xấu Con Gái Vui, Hài Hước

Kỹ Năng Tuyệt Đỉnh Khi Nói Chuyện Với Con Gái

Cảm Nhận Và Suy Nghĩ Về Vẻ Đẹp Tình Cảm Gia Đình Trong Bài Nói Với Con Của Y Phương

Cảm Nhận Vẻ Đẹp Tình Cảm Gia Đình Qua Đoạn Trích Trong Bài Thơ Con Cò (Chế Lan Viên) Và Nói Với Con (Y Phương)

– Y Phương tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sước, dân tộc Tày, sinh năm 1948, quê ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Y Phương ra nhập ngũ ngăm 1968, phục vụ trong quân đội đến năm 1981, chuyển công tác về Sở văn hoá Thông tin Cao Bằng. Từ năm 1993, ông được bầu là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng. Thơ Y Phương thể hiện tâm hồn chân thật, mạch mẽ và trong sáng, cách tư duy hình ảnh của con người miền núi.

2. Tác phẩm

– Bài thơ “Nói với con” rất tiêu biểu cho hồn thơ Y Phương: yêu quê hương, làng bản, tự hào và gắn bó với dân tộc mình.

– Mượn lời nói với con, nhà thơ gợi về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người, gợi về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ của quê hương mình.

– Bố cục:

+ Đoạn 1: ( từ đầu đến “ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”): Con lớn lên trong tình yêu thương, sự nâng đỡ của cha mẹ, trong cuộc sống lao động nên thơ của quê hương.

+ Đoạn 2: (phần còn lại): Lòng tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, với truyền thống cao đẹp của quê hương và niềm mong ước con hãy kế tục xứng đáng truyền thống ấy.

⇒ với bố cục này, bài thơ đi từ tình cảm gia đình mà mở rộng ra tình cảm quê hương, từ những kỉ niệm gần gũi mà nâng lên thành lẽ sống. Bài thơ đã vượt ra khỏi phạm vi gia đình để mang một ý nghĩa khái quát: Nói với con nhưng cũng là để nói với mọi người về một tư thế, một cách sống.

Đề 1: Cho hai câu thơ a. Hai câu thơ trên nằm trong tác phẩm nào? Tác giả? Trình bày hoàn cảnh ra đời của bài thơ. Trả lời:

Hai câu thơ nằm trong tác phẩm “Nói với con” của Y Phương. Hoàn cảnh ra đời của bài thơ:

Bài thơ sáng tác năm 1980 khi đất nước gặp nhiều khó khăn do vừa thoát khỏi chiến tranh. Bài thơ như lời tâm sự với đứa con gái về những giá trị về tình người và văn hóa.

b. Chép chính xác 9 câu thơ tiếp để hoàn chỉnh đoạn thơ có chứa hai câu thơ trên. Nêu nội dung của đoạn thơ đó. Trả lời: c. Em hiểu “người đồng mình” là gì? Cách gọi “người đồng mình” của tác giả có gì sâu sắc? Trả lời:

“Người đồng mình” là cách gọi thân thương, chân thành và giản dị của tác giả về người cùng quê, cùng bản với mình.

d. Phân tích giá trị của hai câu thơ: Trả lời:

Tác giả là người am hiểu về phong tục tập quán, đời sống của “người đồng mình”.

Nhà thơ đã vẽ lên khung cảnh sinh hoạt văn hóa mang tính cộng đồng của dân tộc mình. Hai câu thơ gợi lên khung cảnh lao động của người dân miền núi.

+ Đan lờ cài nan hoa: hình ảnh miêu tả trực quan, từ động tác mềm mại của bàn tay những chàng trai, cô gái Tây, nan tre trở thành những bông hoa đẹp đẽ.

+ Vách nhà ken câu hát là câu thơ đầy chất thơ mộng, đây là những yếu tố văn hóa phi vật thể.

Hai câu thơ thi vị bởi trong lao động, người ta vẫn lạc quan, vui vẻ tận hưởng cuộc sống, và sống hạnh phúc bởi bàn tay lao động.

e. Con lớn lên trong tình yêu của cha mẹ và sự đùm bọc của bọc hương. Nội dung ấy được thể hiện như thế nào trong khổ thơ đầu tiên (từ đầu đến Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời) của bài thơ? Trả lời:

Người cha nhắc cho đứa con nhớ về tình cảm gia đình. Cái nôi nuôi dưỡng con trưởng thành.

Con lớn lên hằng ngày trong sự thương yêu, trong sự nâng đỡ và mong chờ của cha mẹ.

– Bằng cách nói cụ thể, bốn câu thơ đầu tạo được không khí gia đình ấm áp, tràn đầy tiếng nói, tiếng cười và niềm hạnh phúc của cha mẹ khi nâng đỡ, dìu dắt đứa con

– Các điệp ngữ chân phải – chân trái; một bước – hai bước; tới cha – tới mẹ, tiếng nói – tiếng cười vừa diễn tả được bước đi chập chững của con, vừa diễn tả được tình cảm nâng niu, chở che của cha mẹ.

– Đứa con còn được lớn lên trong sự nuôi dưỡng, đùm bọc của quê hương: “Người đồng mình yêu lắm con ơi – Đan lờ cài nan hoa – Vách nhà ken câu hát”.

– Người cha hãnh diện, ngập tràn hạnh phúc khi nói về ngày “hạnh phúc nhất trên đời” – ngày cưới – của mình, và con, chính là kết quả của hạnh phúc đó.

– Người cha nhắc cho con biết quê hương mình không chỉ cần cù, chăm chỉ lao động mà còn là tài hoa, khéo léo, gửi cả tâm hồn vào việc làm, những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày của họ.

→ Con lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ, người cha muốn nhắc con nhớ tới cội nguồn sinh dưỡng của mình. Thông qua các hình ảnh cụ thể, tác giả muốn gợi không khí ấm áp, quấn quít của gia đình.

– Cuộc sống lao động cần cù tươi vui của người đồng mình được tác giả gợi lên thông qua các câu thơ thật đẹp:

+ Đan lờ cài nan hoa: dụng cụ bắt cá của người miền núi.

+ Vách nhà ken câu hát: cuộc sống hòa với niềm vui.

+ Các động từ “cài, ken” diễn tả cụ thể khéo léo hoạt động lao động của con người, cũng là sự lạc quan trong lao động.

– Con lớn lên trong sự đùm bọc, che chở của quê hương và núi rừng.

+ Hình ảnh thiên nhiên, rừng quê thơ mộng, trữ tình, nuôi dưỡng tâm hồn và lối sống của đứa con.

+ Thiên nhiên nuôi dưỡng, che chở con người cả về tâm hồn, lối sống.

+ Rừng mang lại vẻ đẹp ban tặng cho con người.

+ Con đường cho những tấm lòng là vẻ đẹp của tình người.

→ Người cha muốn nhắc con nhớ về quê hương là một vùng quê giàu truyền thống văn hóa và nghĩa tình.

⇒ Người cha muốn con nhớ rằng con không chỉ lớn lên bằng tình yêu của cha mẹ, làng quê mà con còn lớn lên giữa thiên nhiên bao la, giàu truyền thống văn hóa, giàu tình nghĩa.

Đề 2. Nhà thơ đã ca ngợi những tình cảm tốt đẹp nào của “người đồng mình” qua lời nói của người cha với con? Trả lời:

Người cha nói với con về những đức tính cao đẹp của “người đồng mình” từ đó nhắc con những điều cần nhớ:

– “Người đồng mình thương lắm con ơi”: Nhắc đứa con hiểu và đồng cảm với nỗi khổ cực nhưng giàu tình thương và đáng tự hào của người đồng mình.

+ Người đồng mình lấy cái cao của trời đất làm thước đo nỗi buồn của mình, lấy cái xa của đất để đo chí lớn.

+ Người cha muốn con lấy hiện trạng thiếu thốn, khó khăn khi dân tộc mình đang nghèo đói để làm động lực sống.

+ Con phải biết sống “như sông như suối” dùng chính nội lực của mình để trải qua gian nan, thử thách.

→ Thể hiện chí hướng, tầm vóc, sức sống của ý chí con người, quê hương.

– “Người đồng mình thô sơ da thịt” nhưng “chẳng mấy ai nhỏ bé” là lời khẳng định chắc chắn rằng sự.

– “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương/ Còn quê hương thì làm phong tục”: người đồng mình giàu lòng tự tôn dân tộc, có ý thức về dân tộc cũng như nền văn hóa, phong tục riêng biệt độc đáo. Trân trọng phong tục, tập quán, hướng về cội rễ chính là cách “người đồng mình” tự hào về quê hương.

→ Tác giả khẳng định phẩm chất của người đồng mình, phẩm chất của quê hương, bởi sức sống của quê hương do người đồng mình tạo ta, bằng lời nói mộc mạc, giản dị, giàu tình yêu thương, sự gần gũi.

Đề 3. Nét đặc sắc là lối tư duy và cách diễn đạt giàu hình ảnh mang bản sắc dân tộc miền núi. Hãy làm sáng tỏ điều đó. Trả lời:

Nét đặc sắc của bài thơ chính là lối tư duy và cách diễn đạt giàu hình ảnh bản sắc dân tộc miền núi, bởi lẽ:

– Tác giả tư duy bằng chính lối suy nghĩ của người miền núi, thẳng thắn, mạnh mẽ và chân thành.

+ Nhắc đứa con hiểu rằng gia đình luôn bên cạnh, nâng đỡ, bảo vệ con.

+ Cho con thấy vẻ đẹp của quê hương, niềm vui của lao động để đứa con thấy bản thân may mắn vì được sinh ra ở đây.

+ Tác giả cũng nêu ra hiện thực khó khăn, thiếu thốn của những con người sống ở miền núi, vốn quý nhất của họ là cơ thể “tuy thô sơ da thịt” nhưng “xa nuôi chí lớn”.

+ Người đồng mình với nhiều phẩm chất quý báu là điều người con cần kế thừa, gìn giữ: tình cảm với thiên nhiên, với nơi mình sinh ra lớn lên, niềm tin vào lao động…

Đề 4: Phân tích tình cảm cha con trong bài thơ : “Nói với con” Trả lời: A. Mở bài:

Tình cảm gia đình, tình yêu đối với quê hương xứ sở là những tình cảm nguyên sơ nhưng cũng thiêng liêng nhất của con người Việt Nam. Lòng yêu thương con cái, ước mong thế hệ sau nối tiếp xứng đáng truyền thống của tổ tiên, dân tộc, quê hương là sự thể hiện cụ thể của tình cảm cao đẹp đó. Nhiều nhà thơ đã giãi bày những sắc thái tình cảm ấy lên trang giấy. Chúng ta bắt gặp trong bài thơ “Nói với con” của tác giả Y Phương một cách diễn đạt mộc mạc, chân chất của người miền núi những lời tâm tình thiết tha, những lời dặn dò ân cần, chia sẻ của người cha đối với con lòng tự hào về con người và quê hương yêu dấu của mình.

B. Thân bài: Luận điểm 1: Mở đầu bài thơ, bằng những lời tâm tình với con, Y Phương đã gợi về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người.

Mở đầu bài thơ, bằng những lời tâm tình với con, Y Phương đã gợi về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người.

Cội nguồn của hạnh phúc con người chính là gia đình và quê hương – cái nôi êm để từ đó con lớn lên, trưởng thành với những nét đẹp trong tình cảm, tâm hồn. Phải chăng đó là điều đầu tiên người cha muốn nói với đứa con của mình.

– Ngay từ bốn câu thơ đầu tiên người cha đã gợi ra một hình ảnh đầm ấm của gia đình qua cách nói thật lạ:

Chân phải/ bước tới cha

Chân trái/ bước tới mẹ

Một bước / chạm tiếng nói

Hai bước / tới tiếng cười.

Nhịp thơ 2/ 3, cấu trúc đối xứng, nhiều từ được láy lại, tạo ra một âm điệu tươi vui, quấn quýt: chân phải – chân trái , rồi một bước – hai bước , rồi lại “tiếng nói – tiếng cười”…. Ta rất dễ hình dung một hình ảnh cụ thể thường gặp trong đời sống: đứa con đang tập đi, cha mẹ vây quanh mừng vui, hân hoan theo mỗi bước chân con. Từng bước đi, từng tiếng nói, tiếng cười của con đều được cha mẹ chăm chút, nâng niu, đón nhận. Cả ngôi nhà như rung lên trong “tiếng nói, tiếng cười” của cha, của mẹ. Tuy nhiên, đằng sau lời nói cụ thể đó, tác giả muốn khái quát một điều lớn hơn: con sinh ra trong hạnh phúc (cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới. Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời) và lớn lên bằng tình yêu thương, trong sự nâng đón, vỗ về, mong chờ của cha mẹ. Những hình ảnh ấm êm với cha và mẹ, những âm thanh sống động, vui tươi với tiếng nói tiếng cười là những biểu hiện của một không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt, hạnh phúc tràn đầy. Hình ảnh ấm lòng này muôn thuở vẫn là khát vọng hạnh phúc của con người. Đó sẽ là hành trang quý báu đối với cuộc đời, tâm hồn con.

– Bên cạnh tình cảm gia đình thắm thiết, hạnh phúc, quê hương thơ mộng nghĩa tình và cuộc sống lao động trên quê hương cũng giúp con trưởng thành, giúp tâm hồn con được bồi đắp thêm lên.

+ Ở khổ thơ tiếp theo này, tác giả đã sử dụng những cách nói, những hình ảnh của người miền núi – nơi sinh dưỡng của chính mình – để nói những điều chân thực về quê hương rừng núi:

+ Y Phương có cách gọi rất độc đáo về những con người quê hương: “người đồng mình”, một cách gọi rất gần gũi và thân thương. Cách gọi ấy gắn liền với lời đối thoại tha thiết “con ơi”.

+ Người cha đã có cách lí giải rất cụ thể của người dân tộc khiến người con có thể hiểu được: Người đồng mình đáng yêu như thế nào. Họ sống rất đẹp. Cuộc sống lao động cần cù và tươi vui của “người đồng mình” – người bản mình – người buôn làng mình được gợi lên qua các hình ảnh đẹp, đậm sắc màu dân tộc. Họ làm một cách nghệ thuật từ các dụng cụ lao động để bắt cá thường ngày : “đan lờ cài nan hoa”. Trong căn nhà của họ, lúc nào cũng vang lên tiếng hát: “vách nhà ken câu hát”. Những động từ “đan, ken, cài” rất gợi cảm bên cạnh giúp cho người đọc hình dung được những công việc cụ thể của con người trên quê hương còn gợi ra tính chất gắn bó, hoà quyện, quấn quýt của con người và của quê hương, xứ sở.

+ Cuộc sống lao động ấy, sinh hoạt gia đình đầy niềm vui ấy được đặt trong cả một quê hương giàu đẹp, nghĩa tình. Quê hương của “người đồng mình” với hình ảnh rừng, một hình ảnh gắn liền với cảnh quan miền núi:

Nếu như hình dung về một vùng núi cụ thể, chắc hẳn mỗi người có thể gắn nó với những hình ảnh khác cách nói của Y Phương: là thác lũ, là bạt ngàn cây hay rộn rã tiếng chim thú hoặc cả những âm thanh “gió gào ngàn, giọng nguồn thét núi”, những bí mật của rừng thiêng….. Nhưng Y Phương chỉ chọn một hình ảnh thôi, hình ảnh “hoa” để nói về cảnh quan của rừng. Nhưng hình ảnh ấy có sức gợi rất lớn, gợi về những gì đẹp đẽ và tinh tuý nhất. Hoa trong “Nói với con” có thể là hoa thực – như một đặc điểm của rừng – và khi đặt trong mạch của bài thơ, hình ảnh này là một tín hiệu thẩm mĩ góp phần diễn đạt điều tác giả đang muốn khái quát: chính những gì đẹp đẽ của quê hương đã hun đúc nên tâm hồn cao đẹp của con người ở đó. Quê hương còn hiện diện trong những gì gần gũi, thân thương với con. Đó cũng chính là một nguồn mạch yêu thương vẫn tha thiết chảy trong tâm hồn mỗi người, bởi “con đường cho những tấm lòng”. Điệp từ “cho” mang nặng nghĩa tình. Thiên nhiên đã che chở, nuôi dưỡng, bồi đắp tâm hồn cũng như lối sống của con người.

⇒ Bằng cách nhân hoá “rừng” và “con đường” qua điệp từ “cho”, người đọc có thể nhận ra lối sống tình nghĩa của “người đồng mình” Quê hương ấy chính là cái nôi để đưa con vào cuộc sống êm đềm.

Luận điểm 2: Lòng tự hào về vẻ đẹp của “người đồng mình” và mong ước của người cha.

– Người đồng mình không chỉ “yêu lắm” với những hình ảnh đẹp đẽ, giản dị gợi nhắc cội nguồn sinh dưỡng tâm hồn, tình cảm, lối sống cho con người mà còn với những đức tính cao đẹp, đáng tự hào. Trong cái ngọt ngào kỉ niệm gia đình và quê hương, người cha đã tha thiết nói với con về những phẩm chất cao đẹp của con người quê hương.

+ Tổ hợp từ “người đồng mình” được lặp lại ba lần đã gây ấn tượng không phai mờ về con người quê hương. Lời gọi con thật tha thiết, lời nhắn nhủ thật chân thành: “Người đồng mình thương lắm con ơi!”

Đoạn thơ bắt đầu bằng cảm xúc “thương lắm con ơi”, đó là tình cảm yêu thương, yêu thương một cách xót xa. Người cha đã lần lượt ngợi ca những phẩm chất dễ thương của “người đồng mình” với cách nói vừa rất cụ thể của người dân miền núi: “Cao đo nỗi buồn. Xa nuôi chí lớn” vừa mang sức khái quát. Lấy sự từng trải (buồn) để đo chiều cao, lấy chí lớn để đánh giá độ xa.

+ Những hình ảnh cụ thể của thiên nhiên như : “sông, suối, thác, ghềnh” đã được người cha dùng với tính chất biểu trưng cho khó khăn, gian khổ và sức mạnh vượt khó khăn gian khổ của những con người của quê hương.

+ Người đồng mình không sợ gian khổ, nghèo đói. Sự chấp nhận gian khổ ấy thể hiện trong điệp ngữ “không chê”, “không lo” và cách nói tha thiết: “vẫn muốn”. Và ông đã tự ví “người đồng mình”mạnh mẽ, hồn nhiên như sông như suối qua các hình ảnh cụ thể “đá, thung, những thác những ghềnh …, dù có lên thác, xuống ghềnh vẫn không nhụt chí khí. Cặp từ trái nghĩa “lên, xuống” đã làm mạnh thêm sự diễn đạt này. Dù quê hương vất vả, nhọc nhằn, dù “người đồng mình” có thể có nỗi đau buồn rất lớn nhưng những người con của quê hương không bao giờ quay lưng lại với nơi mình đã từng chôn rau, cắt rốn, cha mẹ đã từng cáy xới vun trồng. Và phải chăng chính cuộc sống nhọc nhằn đầy nỗi khổ đau ấy lại khiến cho “chí lớn” thêm lên, thêm mãnh liệt?

– Gửi trong những lời tự hào không dấu giếm đó, người cha ước mong, hy vọng người con phải tiếp nối, phát huy truyền thống để tiếp tục sống có tình có nghĩa, thuỷ chung với quê hương đồng thời muốn con biết yêu quý, tự hào với truyền thống của quê hương.

– Phẩm chất của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong nhưng rất đúng với người miền núi:

+ Đó là những con người sống giản dị mà mạnh mẽ, hồn nhiên mà mộc mạc. Người miền núi tuy có thể mộc mạc, thô sơ da thịt, có thể không biết nói khéo, không biết nói hay… nhung ý nghĩ của họ, phẩm chất của họ thì thật là cao đẹp. Chính cái hồn nhiên mộc mạc ấy lại chứa đựng sức sống mạnh mẽ của dân tộc ; giàu chí khí, niềm tin, không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí và đặc biệt là khát vọng xây dựng quê hương. Ý chí và mong ước ấy được cô đúc trong hai câu thơ vừa có hình ảnh cụ thể lại vừa hàm chứa ý nghĩa sâu sắc:

+ Việc ” đục đá” là khó, là đòi hỏi nghị lực, nhưng người quê hương ta đã làm,vẫn làm để làm rạng rỡ quê hương. Chính những đức tính tốt đẹp cùng với sự lao động cần cù, nhẫn nại hàng ngày đã tạo nên sức mạnh để làm nên quê hương với truyền thống với phong tục tập quán tốt đẹp. Người cha đã tâm sự với con về tất cả những gì tốt đẹp nhất của người quê hương, nơi con đang sinh sống, cái nôi đang nuôi con khôn lớn, trưởng thành.

* Nói với con là lời thủ thỉ tâm tình của người cha với con về quê hương, một quê hương nhọc nhằn vất vả đã nuôi dưỡng chí lớn cho những đứa con. Quê hương với sức sống giản dị mà mãnh liệt, hồn nhiên mà mạnh mẽ. Tất cả được thể hiện qua thể thơ tự do với những từ ngữ, hình ảnh mộc mạc, cụ thể nhưng lại có sức khái quát sâu sắc.Gửi trong những lời tự hào không dấu giếm đó, người cha ước mong, hy vọng người con phải tiếp nối, phát huy truyền thống để tiếp tục sống có tình có nghĩa, thuỷ chung với quê hương đồng thời muốn con biết yêu quý, tự hào với truyền thống của quê hương.

– Không chỉ gửi mong ước của mình đầy tự hào, kết thúc bài thơ, người cha còn bộc lộ trực tiếp niềm mong ước này trong lời thủ thỉ dặn dò con thiết tha, chân tình, trìu mến trong tiếng gọi “con ơi!” và lời nhắn nhủ “nghe con”. Song cái điều người cha nói với con thì thật là ngắn gọn, hàm súc mà sâu sắc, đồng thời lại có chút nghiêm nghị của mệnh lệnh trái tim:

Câu thơ ngắn lại như khắc sâu, có câu chỉ có hai tiếng. Điều mà người cha muốn khuyên con qua cách nhắc lại một phẩm chất của người đồng mình đã nêu ở trên: nghĩa là phải sống cho cao đẹp. Trong những lời thơ cuối cùng ấy, người cha dặn dò con cần tự tin mà vững bước trên đường đời, tiếp nối những truyền thống tốt đẹp của “người đồng mình”.Con sống được như thế chính là con phát huy được truyền thống tốt đẹp của cha ông, của quê hương yêu dấu.

C. Kết luận:

Bài thơ “Nói với con” của Y Phương giúp chúng ta cảm nhận vẻ đẹp của một áng thơ về tình cha con cao quý, xúc động, góp thêm một tiếng nói yêu thương của cha mẹ đối với con cái cũng như những kì vọng lớn lao, mong muốn thế hệ sau sẽ kế tục, phát triển những truyền thống quý báu của quê hương. Bằng cách diễn đạt mộc mạc, thô sơ, bằng những hình ảnh cụ thể mà giàu sức khái quát bài thơ đã thể hiện một cách độc đáo mà cũng thật thấm thía về tình cảm thiết tha sâu sắc nhất của con người : tình cảm gia đình và tình yêu quê hương xứ sở. Trong lòng ta như ngân lên câu hát: “Ba sẽ là cánh chim. Cho con bay thật xa…. Ba sẽ là lá chắn. Che chở suốt đời con….”.

Phân Tích Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương (Có Dàn Ý Chi Tiết)

Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ “nói Với Con” Của Y Phương

Cảm Nhận Vẻ Đẹp Người Đồng Mình Trong Bài Thơ “nói Với Con”

Cảm Nhận Khổ Đầu Của Bài Thơ Nói Với Con( Y Phương)

Vương Trọng, Một Mai Nếu Bạn Muốn Đi Tìm

🌟 Home
🌟 Top