Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Nhàn Mang Âm Hưởng Gì Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Nhận Xét Về Âm Hưởng, Giọng Điệu Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá

1001 Bài Thơ Về Biển, Tình Thơ Biển Lãng Mạn, Cô Đơn & Nỗi Nhớ

Phân Tích Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Của Xuân Quỳnh Để Thấy Kí Ức Đẹp Tuổi Thơ

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “tiếng Gà Trưa” Của Xuân Quỳnh

Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Tiếng Gà Trưa

Cảm Nhận Khi Đọc Bài Tiếng Gà Trưa Của Xuân Quỳnh

Đề bài: Nhan xet ve am huong, giong dieu trong bai tho Doan thuyen danh ca. Bài thơ có nhiều từ hát, cả bài cũng như một khúc ca. Đây là khúc ca gì và tác giả thay lời ai. Em có nhận xét gì về âm hưởng, giọng điệu của bài thơ Đoàn thuyền đánh cá.

Mở bài: Nhận xét về âm hưởng, giọng điệu bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của nhà thơ Huy Cận, từ “hát” đươc điệp đi điệp lại bốn lần trong bảy khổ thơ khiến cho bài thơ không chỉ là bức tranh lao động đầy khỏe khoắn của những người ngư dân mà còn như một khúc ca lao động đầy hào sảng. Đây là khúc ca mà tác giả Huy Cận hát thay chơ những người lao động nghèo ven biển, họ sống bằng nghề đánh bắt cá trên biển, công việc tuy vất vả, nặng nhọc nhưng lại có niềm vui, sự hăng say bởi con người say mê công việc, biết làm chủ công việc của mình. Bút pháp khoa trương cường điệu kết hợp với nghệ thuật ẩn dụ làm cho tiếng hát mạnh mẽ khác thường- sức mạnh căng buồm đẩy thuyền lướt tới, ra khơi. Tiếng hát xao động bầu trời.Tiếng hát âm vang mặt sóng. Tiếng hát khỏe khoắn phát ra từ những lồng ngực khỏe khoắn. Tiếng hát trở thành biểu tượng của sức mạnh.

Thân bài: Nhận xét về âm hưởng, giọng điệu bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Về âm điệu: Bài thơ đoàn thuyền đánh cá có âm hưởng vừa khỏe khoắn, sôi nổi, vừa bay bổng, lãng mạn với lời thơ hào sảng, dõng dạc; âm điệu thơ như khúc hát say mê cùng với điệp ngữ từ “hát” khiến cho bài thơ như một khúc ca- bài ca của tình yêu lao động.

Bài thơ đoàn thuyền đánh cá đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp đẽ tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước cuộc sống và đất nước.

Kết bài: Nhận xét về âm hưởng, giọng điệu bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo, có âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng, lạc quan.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ HUY CẬN DOAN THUYEN DANH CA BÀI THƠ ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ Theo chúng tôi

Từ khóa tìm kiếm:

nhận xét chung về giọng điệu âm hương bài thơ đoàn thuyền đanh cá

Phân Tích Vẻ Đẹp Bức Tranh Thiên Nhiên Và Hình Ảnh Người Lao Động Trong Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá

Nêu Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa

Thuyết Minh Về Tác Giả Huy Cận Và Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá (Bài Làm Của Học Sinh Giỏi)

Thuyền Và Biển: Ngọt Bùi Cay Đắng Của Tình Yêu

Thơ Về Thuyền Và Biển Hay Và Ý Nghĩa Nhất Mọi Thời Đại

Bài Thơ Làm Anh (Phan Thị Thanh Nhàn) – Mang Tính Giáo Dục Cao

Vilam: Đọc Thơ Tiếng Anh

Học Tiếng Anh Qua Thơ Ca

69+ Caption Và Stt Hay Về Tình Yêu Hot Nhất Mxh Facebook

Với Bài Thơ “Áo Trắng” Của Huy Cận

Thơ Làm Bác Sĩ – Các Bài Thơ Về Chủ Đề Nghề Nghiệp

Làm Anh

Làm anh khó đấy

Phải đâu chuyện đùa

Với em gái bé

Phải “người lớn” cơ.

Khi em bé khóc

Anh phải dỗ dành

Nếu em bé ngã

Anh nâng dịu dàng

Mẹ cho quà bánh

Chia em phần hơn

Có đồ chơi đẹp

Cũng nhường em luôn

Làm anh thật khó

Nhưng mà thật vui

Ai yêu em bé

Thì làm được thôi

Bài thơ Làm Anh của tác giả Phan Thị Thanh Nhàn được sáng tác dựa trên sự chứng kiến tình cảm của một người anh trai dành cho em gái mình. Sử dụng những từ ngữ nhẹ nhàng, êm tai với những hành động, thái độ thể hiện sự yêu thương, thấu hiểu của người anh trai đối với em gái mình. Cũng qua bài thơ, nhà thơ muốn nhắn nhủ với những người làm anh là phải biết yêu thương em gái mình, chiều chuộng đứa em gái bé bỏng của mình. Đó là tình cảm đùm bọc, tình thân, tình anh em ruột thịt.

Mở đầu của bài thơ là 4 cầu thơ:

Làm anh khó đấy

Phải đâu chuyện đùa

Với em gái bé

Phải người lớn cơ.

Với cách sử dụng những từ ngữ tinh tế như “chuyện đùa”, tác giả cho thấy sự làm anh khi chăm sóc em gái là một chuyện vô cùng khó khăn không thể nào cho đó là một trò đùa. Đây là một thực tế mà nhiều người thường gặp phải. Tiếp đến tcs giả nói lên lên sự dỗ dành em gái của mình. Bằng các hình ảnh, em khóc phải dỗ dành, em ngã phải nâng niu nhẹ nhàng.

Khi em bé khóc

Anh phải dỗ dành

Nếu em bé ngã

Anh nâng dịu dàng

Với 4 câu thơ tiếp theo nhà thơ miêu tả cách Làm anh thì phải thật nhẹ nhàng, phải luôn là người yêu thương, dỗ dành em gái của mình. Khi em bá ngã thì phải nâng lên dịu dàng, khi em bé khóc thì phải dỗ dàng. Những từ ngữ đơn giản nhưng chứa đựng những tình cảm thật lớn lao. Những hành động yêu thương của anh đối với em gái rất thật và rất rõ nét.

Mẹ cho quà bánh

Chia em phần hơn

Có đồ chơi đẹp

Cũng nhường em luôn.

Làm anh là phải biết chia phần bán, phần đồ chơi cho em, biết nhường em không tranh giành đồ chơi, đồ ăn của em. Với 4 câu thơ trên tác giả lại một lần nữa khẳng định tình cảm, sự yêu thương của người anh trai đối với người em gái.

Làm anh thật khó

Nhưng mà thật vui

Ai yêu em bé

Thì làm được thôi.

4 Câu thơ cuối bài tác giả lại một lần nữa khẳng định chuyện làm anh thật khó, nhưng hơn hết lại thật vui. ác cả đều gói gọn trong tình yêu thương em gái của mình mà người anh làm được tất cả.

Bài thơ Làm anh với những câu thơ ngắn gọn, nhưng mang ý nghĩa vô cùng lớn lao thể hiện tình yêu thương của người anh dành cho người em. Bài thơ ca ngợi tình cảm anh em nồng ấm và gắn bó bên nhau. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này 

Soạn Bài Lượm Trang 72 Sgk Văn 6

Bài Văn: Cảm Nhận Về Bài Thơ “Lượm” (2)

Cảm Nhận Về Bài Thơ “Lượm” (2)

Giáo Án Ngữ Văn Lớp 6 Tiết 99: Lượm (Tố Hữu)

Soạn Bài: Lượm – Ngữ Văn 6 Tập 2

Ngữ Âm Học Và Âm Vị Học

Trả Lời Chính Thức Của Viện Ngôn Ngữ Học Về Đề Xuất Cải Cách Chữ Viết Của Ông Bùi Hiền

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Hay Nhất

Phân Tích Hình Ảnh Người Phụ Nữ Qua Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

Vẻ Đẹp Của Người Phụ Nữ Việt Nam Qua Bài Thơ

Một Số Đề Ôn Thi Vào Lớp 10

Ngữ âm học và âm vị học

Việc nghiên cứu ngôn ngữ âm thanh của con người thuộc cấp độ âm vị học. Đối tượng âm thanh tiếng nói con người có thể được 2 ngành khác nhau nghiên cứu là ngữ âm học và âm vị học. Cùng tìm hiểu về các đặc điểm âm thanh, tiếng nói con người nhưng chúng có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:

1. Âm thanh tiếng nói con người, về bản chất là vô tận bởi tuỳ theo các đặc điểm cá nhân khác nhau, các đặc điểm về hoàn cảnh phát âm khác nhau, mục đích phát âm khác nhau mà tiếng nói phát ra có những phần khác nhau.

Ngữ âm học là ngành nghiên cứu về cơ chế tạo sản các âm thanh của tiếng nói con người, cho nên, ngoài việc mô tả một cách chính xác cơ chế đó hoạt động như thế nào thì cần phải đặc tả một cách chính xác các sự biểu hiện khác nhau của tiếng nói ấy, tức là các kết quả của cơ chế tạo sản âm thanh tiếng nói con người. Chính vì thế, các dạng thể âm thanh là vô hạn. Và đơn vị của ngữ âm học là các âm tố, tức là các âm thanh tự nhiên của tiếng nói con người.

Ngược lại, bởi vì con người sống theo xã hội, theo cộng đòng nên muốn giao tiếp được với nhau thì người ta phải có mã do cộng đồng quy định sử dụng. Dẫu người ta có thể khác nhau về các đặc điểm tâm lí, sinh lí, trình độ học vấn, địa phương cư trú nhưng muốn để giao tiếp được, truyền được thông điệp, yêu cầu của mình tới người khác thì mã âm thanh sử dụng phải có tính xã hội hoá. Chính vì vậy, sự khác nhau về dạng thể giữa các âm thanh của có những hình thức, những biến thể của những đơn vị âm thanh mang chức năng trong xã hội loài người. Những đơn vị âm thanh mang chức năng đó được ngôn ngữ học là các âm vị. Theo nguyên tắc tối thiểu về đặc điểm cấu trúc, tối đa về khả năng sử dụng, các đơn vị âm thanh của ngôn ngữ buộc phải là hữu hạn và đếm được.

Sự phân biệt giữa ngữ âm học và âm vị học về mặt đơn vị có nguồn gốc từ một lưỡng phân nổi tiếng của F. de Saussure (1913) về sự phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói. Theo ông, người ta không bao giờ lặp lại được lời nói của chính mình, cho nên, lời nói là vô hạn, lời nói biến đổi theo hoàn cảnh, theo thời gian và theo không gian. Ngược lại là thiết chế của xã hội, là một trong những đặc điểm để xác định tộc người của quốc gia nên tính ổn định của nó rất cao, cao như hoặc cao hơn các thiết chế xã hội khác). Ổn định về ngôn ngữ để nối tiếp được các thế hệ với nhau trong cả một truyền thống lịch sử; đồng thời, ổn định về ngôn ngữ còn có tác dụng liên kết những nhóm người ở những vùng đất khác nhau thành một quốc gia. Trong tính ổn định như vậy, ngôn ngữ được tao nên bằng các giá trị hữu hạn, có tính hệ thống. Sự phản ánh mối quan hệ giữa lời nói và ngôn ngữ trong âm vị học trở thành sự đối lập giữa ngữ âm học và âm vị học.

2. Để quan sát được các hiện tượng âm thanh tiếng nói con người, các nhà nghiên cứu có thể tận dụng tất cả các phương tiện kĩ thuật và máy móc. Với yêu cầu tính chính xác và chi tiết về đặc điểm âm thanh, người ta có thể nhìn các âm tố từ nhiều bình diện khác nhau:

– Từ bình diện sinh lí cấu âm;

– Từ bình diện thẩm nhận âm thanh;

– Từ bình diện thực thể âm thanh.

Ở tất cả các bình diện này người ta đều sử dụng các quan niệm có thánh chất khoa học tự nhiên để nghiên cứu âm thanh, nghĩa là mô tả về các đặc điểm cấu trúc của âm thanh, giống như ở trong thế giới tự nhiên, các hiện tượng là vô tận thì các đặc điểm về âm thanh tiếng nói con người cũng vô tận như vậy. Chính vì theo quan điểm của khoa học tự nhiên nên ngữ âm học chia các hiện tượng âm thanh thành các loại thể âm thanh cũng tương tự như sinh vật học phân loại các giống loài thực vật và động vật có trong thiên nhiên, dựa trên các đặc điểm hình thể. Ngược lại, đối với âm vị học, do xuất phát từ định đề coi ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội nên sự phân loại các hiện tượng âm thanh cũng như sự nhận diện ra các đặc điểm âm thanh là theo quy chiếu của chức năng của âm thanh đối với giao tiếp xã hội. Như vậy, có nghĩa là có rất nhiều các đặc điểm cấu trúc của âm thanh không được sử dụng làm gì trong quan điểm âm vị học, do đó nó không có chức năng phục vụ xã hội và bị coi là dư thừa, không mang tính âm vị học.

Ví dụ:

3. Nghiên cứu âm thanh theo quan điểm cơ chế tạo sản và sự phân loại có tính hình thức về âm thanh theo quan điểm của ngữ âm học sẽ dẫn đến chủ nghĩa cân đối hình thức của các âm. Đó là sự nghiên cứu các âm lí tưởng lẫn các âm hiện thực, các âm tiềm năng và các âm đã được sử dụng.

1, Số thanh bằng phải ít hơn nếu hệ thanh đó thiên về hệ thanh đường nét;

2, Số thanh đi lên, hoặc có thành phần đi lên ở cuối cấu trúc thanh, nhiều hơn so với số thanh đi xuống, hoặc có thành phần đi xuống;

3, Nếu như hệ thanh thiên về bằng phẳng thì số thanh đường nét phải ít hơn so với số thanh bằng.

Đó chính là cái lí ở trong thực tế, cái lí của sự tồn tại. Xu hướng của con người là tìm đến sự đơn giản nên không thể có những sự kiện âm thanh quá phức tạp, có những cấu trúc bị đánh dấu đến mức vừa khó phát âm, vừa khó cảm thụ lại khó nhớ. Đó chính là quan điểm của âm vị học khi nhìn vào các hiện tượng âm thanh: ngôn ngữ là của con người, ngôn ngữ phải phục vụ con người theo nguyên tắc tiết kiệm và ít bị đánh dấu, mang tính tự nhiên cao.

Bất kì ngôn ngữ nào, cho đến ngày nay, tồn tại được và phục vụ con người được cho con người đều phải trải qua những quá trình tiếp xúc với những nền văn hoá khác nhau. Những va chạm và tiếp xúc ấy đã làm cho tính cân đối của hệ thống âm thanh (nếu có) bị mai một, biến dạng đi theo thời gian trước những nhu cầu sử dụng rất khác nhau của con người đối với ngôn ngữ.

Ví dụ: Tính cân đối giữa âm môi vô thanh-hữu thanh của loạt trước trong tiếng Việt đã từng tồn tại trong thời xa xưa (trước thế kỉ 17). Nhưng do áp lực từ những tiếp xúc khác nhau đối với tiếng Hán cận hiện đại, tiếng Hán thổ ngữ mà âm /p/ đã bị tiêu biến đi. Từ sau năm 1987 trở lại đây, hình như đã có dấu hiệu xuất hiện trở lại của âm /p/. Do nhu cầu định danh cho sự vật mới, người Việt phải vay mượn các từ có gốc Ấn-Âu. Ngược lại, sự kết hợp trong vần giữa /–/ và /-w/, /–/ và /-w/ để tạo nên các vần /u/ và /w/ là một sự kết hợp rất Mon-Khmer, nhưng do tiếng Việt tiếp xúc với các ngôn ngừ Tày-Thái ở phía bắc (đây là những ngôn ngữ mà ngay cả âm

4. Để phân biệt âm thanh tiếng nói con người với âm thanh của các loài vật khác, người ta căn cứ vào các cơ chế sinh lí học của các cơ quan phát âm, khả năng thụ cảm của các cơ quan thính giác và thần kinh. Ví dụ như, đẻ mô tả sự tạo thành một phụ âm, người ta phải căn cứ trên các thuộc tính sau đây về sinh lí cấu âm:

Ví dụ:

Như vậy, âm của mọi người đều giống nhau vì đó là nguyên lí chung để định nghĩa âm thanh con người, phân biệt với các loài khác. Đó là quan điểm mang tính tự nhiên về bản chất âm thanh con người. Do đó, người ta nói ngữ âm học mang bản chất nhân loại, bản chất thế giới. Chính vì thế, ngay từ thế kỉ 19, các nhà ngữ âm học thế giới đã lập cho mình một hội nghề nghiệp mang tên Hội Ngữ âm học quốc tế – IPA.

Vậy, ngữ âm học là ngành nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người không phân biệt tuổi tác, giới tính, quốc gia…

Còn âm vị học không mang tính nhân loại, âm vị học là ngành nghiên cứu hệ thống âm thanh của một cộng đồng xác định. Cộng đồng ấy là chủ nhân của một hệ thống âm thanh. Họ sử dụng nó cho những mục đích rất khác nhau trong đời sống giao tiếp cộng đồng. Và vì họ nằm lòng ngôn ngữ ấy, hệ thống âm thanh ấy ngay từ khi còn trong bụng mẹ nên họ có trực cảm về nó như là một vật rất thân quen nhưng lại không ý thức được điều đó.

* Tóm lại:

Có hai ngành nghiên cứu về âm thanh tiếng nói con người vì đối tượng, phương pháp, phương pháp luận và mục đích giữa hai ngành là khác nhau. Một bên nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người nói chung cho nên mang tính phổ niệm, tính khái quát; một bên là nghiên cứu về một hệ thống âm thanh được sử dụng ở một cộng đồng hoặc một phạm vi cụ thể nên nó mang tính đặc thù. Hiểu được sự khác nhau giữa hai ngành học này, người ta có thể ứng dụng các kết quả nghiên cứu một cách hiệu lực cho những lĩnh vực khác nhau. Ví dụ: trong việc phục hồi chức năng của những người bị bệnh lời nói thì phải sử dụng ngữ âm học nhưng trong việc nhận diện ra các bệnh thất ngôn thì người ta phải dùng các kết quả của âm vị học. Cũng tương tự như vậy, để dạy cho người nước ngoài nói tiếng Việt thì phải tận dụng các kiến thức của ngữ âm học nhưng để phân biệt các giọng nói khác nhau của từng vùng đất khác nhau trong một quốc gia thì phải có thái độ âm vị học (phân biệt từ địa phương về mặt ngữ âm và từ địa phương về mặt từ vựng).

Nguồn: Ngonngu.net

Hình Ảnh Người Phụ Nữ Trong Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Hồ Xuân Hương

Cảm Nhận Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước

Đề Số 4: Phân Tích Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

4 Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

Soạn Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Lập Dàn Ý Phân Tích Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn

Tìm Hiểu Bài Thơ “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nhàn

Giáo Án Thao Giảng Bài Nhàn

Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 53 Đọc

BÀI LÀM

TIỂU DẪN

Những nét chính về tác giả

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1492 – 1585) quê ở Hải Phòng.

Ông làm quan dưới triều Mạc.

Ông cáo quan về quê, lấy hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ. Ông mở trường dạy học.

Mặc dù về ở ẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm vân tham vấn cho triều đình nhà Mạc. Ông được phong tước Trình Tuyền hầu, Trình quốc công nên có tên gọi là Trạng Trình.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của dân tộc.

Ông để lại tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập (Khoảng 700 bài) và tập thơ chữ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi (Khoảng 170 bài).

Những nét chính về tác phẩm

– Nhàn là bài thơ Nôm trong Bạch Vân quốc ngữ thi.

– Nhan đề bài thơ do người đời sau đặt.

– Nội dung bài thơ là lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi.

ĐỌC HIỀU VĂN BẢN

Câu 1.

Hai Câu thơ đầu:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Cách dùng ố từ “một” và các danh từ trong câu thơ thứ nhất cho thấy sự giản dị trong lối sống của nhà thơ. Ông chỉ cần chiếc mai, chiếc cuốc và chiếc cần câu để câu cá theo thú vui của mình.

Nhịp điệu câu thơ chậm rãi nhưng vẫn thể hiện thấp thoáng niềm vui, cùng sự ung dung tự tại của một con người đang rất bình tâm, bình thản.

Hai câu thơ ấy cho ta hiểu hoàn cảnh sống của tác giả rất bình dị, đơn sơ. Tuy không giàu có nhưng tâm trạng ông luôn mãn nguyện, vui vẻ và hòa đồng với thiên nhiên, với tất cả mọi người xung quanh.

Câu 2.

Nơi “vắng vẻ” mà tác giả để cập đến ở đây chính là chốn bình yên, thanh bình như quê hương nơi ông đang ở. Về nghĩa bóng, nơi “vắng vẻ” còn là nơi mà không có sự ganh đua, bon chen về danh lợi, về lợi lộc.

Ngược lại, chốn “lao xao” trong ý niệm của tác giả chính là chốn quan trường, nơi mà ngày ngày người ta phải sống bon chen, phải lừa lọc, phải đấu đá lẫn nhau.

Tác giả tự nhận mình là người “dại” khi tìm nơi “vắng vẻ” để sống. Vì nơi này không có lương bổng, cũng không có kẻ hầu người hạ, chỉ hoàn toàn là cuộc sống bình dị đơn sơ như bao người dân thường khác. Còn kẻ “khôn” tìm đến chốn quan trường, chốn “lao xao” để sống với những đấu đá, những bon chen của lề luật, của quan chức, của lợi danh.

” Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao “

Sự đối lập trong hai câu thơ giữa “dại” và “khôn”, giữa “vắng vẻ” và “lao xao” đã góp phần thể hiện quan điểm và triết lý sống rất rõ ràng của tác giả. Ông không ham mê danh lợi hay tiền tài, mà chỉ cần một cuộc sống an yên, tự tại.

Câu 3.

Các sản vật và khung cảnh trong hai câu thơ 5,6 :

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”.

Những sản vật trong câu thơ hoàn toàn từ thiên nhiên : măng trúc, giá.

Nếp sống sinh hoạt cũng thuận theo tự nhiên : Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Chỉ hai câu thơ ngắn gọn nhưng tác giả đã trưng bày nếp sống của mình trong cả bốn mùa. Ông sống hòa hợp với thiên nhiên, đạm bạc mà thanh cao.

Giá trị nghệ thuật của hai câu thơ : Nhịp điệu câu thơ vẫn nhẹ nhàng, chậm rãi như một tiếng đàn du dương về cuộc sống bình dị và êm đềm.

Câu 4.

Hai câu thơ cuối :

“Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Hai câu thơ có ý dẫn điển Thuần Vu Phần uống rượu say nàm ngủ gưới gốc cây hòe, rồi mơ thấy mình ở nước Hèo an, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hòe phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý : phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.

Nguyễn Bỉnh Khiêm cố ý nhắc đến câu chuyện trên để ý nói đến cuộc sống hiện tại của mình. Ông không mong chi cuộc sống giàu sang phú quý, cũng chẳng mong làm quan chốn quan trường chật chội nhiều xô bồ lẫn lộn. Ông chỉ cần một cuộc sống thanh bình, giản dị và đơn sơ.

Tuy nhiên, bất cứ lúc nào có thể giúp được triều đình việc gì, ông vẫn luôn sẵn sàng tham vấn.

Câu thơ thể hiện ông không những là người có học thức uyên thâm, thấu hiểu cuộc sống chốn quan trường, mà còn là người có tâm hồn thanh cao, trong sáng và đáng kính.

Câu 5.

Quan niệm sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là :

– Không vất vả, cực nhọc

– Không quan tâm tới xã hội, chỉ lo cho cuộc sống nhàn tản của bản thân

– Xa lánh nơi quyền quý để giữ cốt cách thanh cao.

– Hòa hợp với tự nhiên.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một người có học thức, có cốt cách thanh cao. Ông sống nhàn không phải vì sợ vất vả, cực nhọc, cũng không phải để tránh những phiền lụy đến bản thân mình. Bởi ông vẫn luôn sẵn sàng tham vấn cho triều đình mỗi khi vua cần. Hơn nữa, sống ở quê, ông vẫn mở lớp dạy học với mục đích đào tạo nhân tài cho đất nước, truyền đạt cái hay cái đẹp cho học trò. Đó là một cuộc sống rất bình dị mà thanh cao, rất đáng trân trọng.

Ông sống hòa hợp với thiên nhiên, tự thân vận động nuôi dưỡng bản thân mình với những món ăn giản dị từ thiên nhiên như măng trúc, như giá. Ông lấy đó là niềm vui cho cuộc sống chứ không phải sự thiếu thốn hay cực nhọc.

Ông về quê sống là vì không được vua chấp thuận đề nghị chém đầu mười tám lộng thần. Nhưng khi về quê, ông vẫn luôn hướng lòng mình đến triều đình.

Tất cả những quan niệm và cách sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện trong bài thơ cho thấy ông là một người có cốt cách thanh cao, trong sạch, liêm khiết và yêu nước, thương dân.

Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Mở Bài Kết Bài Nhàn Hay Nhất

Lời Bài Hát Vị Quê Nhà

Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ

6 Bài Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du Viết Về Mùa Xuân

🌟 Home
🌟 Top