Top 4 # Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Ngắm Trăng Sáng Tác Năm Nào Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Phân Tích Bài Thơ Ngắm Trăng Của Tác Giả Hồ Chí Minh

Đề bài: Phân tích bài thơ Ngắm Trăng của tác giả Hồ Chí Minh

Bài làm

Được đánh giá chính là một trong những tác giả viết nhiều về trăng là Hồ Chí Minh. Có thể thấy được rằng trong chính cuộc đời cách mạng như cũng thật đầy gian truân nữa thì trăng với Bác như một người bạn tri kỷ, tri âm. Bài thơ “Ngắm trăng” cũng chính là một trong những bài thơ hay khi Bác cũng thể hiện được những tâm tư tình cảm của Bác.

Bài thơ “Ngắm trăng” được Bác Hồ viết trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt, đó chính là giữa chốn lao tù, dưới chế độ Tưởng Giới Thạch, thì Bác đã thanh thản và viết lên những hồn thơ thật đẹp biết bao nhiêu:

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa

Đối thử lương tiêu nại nhược hà?

(Trong tù không rượu cũng không hoa)

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ).

Ngay ở câu thơ mở đầu trong bài thơ thì Hồ Chính Minh cũng lại tả thực cảnh lao tù khắc nghiệt và thiếu thốn trăm bề “Trong tù không ruợu cũng không hoa”. Bác không tả những bức tường giam thật lạnh lẽo và những bộ mặt của cai ngục, thế nhưng mà hai chữ “ngục trung” mà Bác sử dụng nghe mới chua xót làm sao!. Đã ở trong tù thì làm gì có rượu và hoa cơ chứ. Nhắc đến rượu và hoa là người ta như cũng luôn là những thứ vốn để tạo thi hứng cho tâm hồn thi sĩ. Và hình ảnh hoa rượu như đã gắn liền với người thi sĩ ngày xưa đó là việc uống rượu và thưởng trăng. Hiện thực hiện ra vô cùng khắc nghiệt và thiếu thốn nơi ngục tù cũng không ngăn nổi trong trái tim yêu đời bao la của Người cảm hứng vẫn dạt dào, và như nồng đượm khiến Người phải thốt lên rằng:

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt

Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

Trong cảnh ngục tù đó thì người chiến sĩ và nói chính xác chính là người thi nhân đã quên đi hiện thực để có thể ngắm trăng. Trong tâm trí của người thi nhân này đây tay, chân đeo gong và xiềng xích nhưng vẫn cứ hướng qua song sắt của nhà tù để hỏi thăm người bạn tri kỷ – ánh trăng sáng. Thế rồi ánh trăng cũng không quên như cũng đã nhòm lại khe cửa kia để có thể ngắm nhà thơ.

Khi đứng trước sự hiện diện của trăng đẹp của cái đẹp đến thanh cao và vô ngần như cũng đã soi chiếu chính cái hiện thực tối tăm u ám của nhà tù dường như bị xóa nhòa hết. Tất cả dường như cũng đã lại nhường chỗ cho mối giao hòa thiêng liêng giữa nhà thơ tự do và khung cảnh thiên nhiên đẹp đến vĩnh cửu. Bác Hồ cũng đã lại hướng cái nhìn vào ánh trăng sáng trong đêm lao ngục kia như biết bao nhiêu lần khác đó chính là một hoàn cảnh sống cực kỳ gian khổ. Đau khổ là vậy thế cho nên Người luôn luôn biết hướng đến những cái cao cả, những cái đẹp đẽ nhất trong cuộc đơig. Độc giả như cũng nhận thấy được trong suốt bài thơ không hề có một âm thanh hay một tiếng động nhỏ nào như đã làm tôn lên được cái sâu thẳm vẻ đẹp trong tâm hồn của nhà thơ.

Qủa thật bài thơ “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh mang vẻ đẹp giản dị mà khác lạ. Bài thơ như đã tôn lên một tâm hồn, một nghị lực hàm chứa tuyệt vời sâu sắc và đạo đức và hơn hết chính là nét đẹp trong tâm hồn của người chiến sĩ. Dù trong đau khổ, khó khăn Bác vẫn luôn luôn tin tưởng vào tương lai, luôn hướng đến ánh sáng đẹp đẽ, ánh sáng của tự do.

Minh Tân

Phân Tích Bài Thơ Ngắm Trăng Trong Tác Phẩm Nhật Ký Trong Tù

Ngắm trăng là một nét đẹp truyền thống của biết bao thi sĩ đời xưa và nay như: Trương Cửu Linh, Vương Xương Linh, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Trương Kế, Bạch Cư Dị, Tô Đông Pha, Nguyễn Trãi, Hàn Mặc Tử… Đối với Hồ Chí Minh ánh trăng không những mang đến thi hứng nồng nàn cho tâm hồn nghệ sĩ của Người mà còn là một người bạn tri âm, tri kỷ. Trong những tháng ngày Người ở tù, trăng đã cùng N£ười sẻ chia tâm sự:

“Trong tù không rượu củng không hoa,

Cảnh đẹp đèm nay, khó hững hờ;

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

Câu đầu giới thiệu hoàn cảnh của tù nhân: “Trong tù không rượu cũng không hoa’. Hoàn cảnh này rất thực, ở tù không như ở ngoài, cơm hẩm chưa chắc đã có ăn huống chi có rượu uống, có hoa ngắm. Thật ra, đây là một cách nói thể hiện sự khát khao của một tâm hồn cao đẹp, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Người xưa khi ngắm cảnh đẹp cần phải hội đủ: phong (gió), hoa, tuyết, nguyệt (trăng), cầm (đàn), kỳ (cờ), thi (thơ), tửu (rượu). Như vậy, Bác đã đáp ứng được: nguyệt (trăng), thi (thơ). Ngoài ra, có thể thêm phong (gió) bởi lẽ bên song cửa sổ, Bác được cơ hội hưởng chút gió mát.

Câu hai bộc lộ tâm trạng của nhà thơ:

“Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ”.

Ánh trăng thiên nhiên hiền hòa, dịu êm, đẹp đẽ như vậy, một người bình thường cũng không thể hững hờ được. Huống hồ, đây là một con người dạt dào cảm xúcngất ngây trước cái đẹp của thiên nhiên. Thi hứng của Bác đã dâng lên cao độ. Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng, trong thơ Bác, trăng là người bạn tri âm, tri.y. Thật đúng như vậy. Chúng ta hãy đọc câu chuyển và câu hợp:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

Nguyên văn chữ Hán hai câu thơ này như sau:

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,

Nguyệt tòng song khích khán thi gia”.

Bản dịch thơ đã làm mất đi hai kiểu đối nhau. Lối tiểu đối trong cùng tâu chuyển: “nhân” và “minh nguyệt” (người – trăng). Lối tiều đối trong cùng câu hợp: “nguyệt” và “thi gia” (trăng – nhà thơ). Và lối đối giữa cầu chuyển và câu hợp: “nhản” và “nguyệt” (người – trăng)-, “minh nguyệt” và “thi gia” (trăng-nhà thơ). Cùng với phé,p; nhân hóa ở câu hợp, trăng và người trở thành hai tầm hồn đồng điệu: người – trăng; trăng- người. Đúng là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Ngày xưa, Đọ Phủ lúc ở ngoại thành Thành Đô cất nhà bên bờ suối Cán Khê, tuổi cao, sức yếu, bỗng có khách đến chơi mà nhà không có thứ gì để chiêu đãi. Ông mời khách ngắm hoa:

“Không hiềm đồng nội không thức nhắm,

Thừa hứng xin mời ngắm khóm hoà”.

(Tân chí – Khách đến)

Nguyễn Khuyến tiếp bạn chỉ có tấm lòng cao quý, ấm áp:

“Đầu trò tiếp khách trầu không có,

Bác đến chơi đây ta với ta”.

(Bạn đến chơi nhà)

Còn đối với Hồ Chí Minh, bạn trăng đã đến nhưng “Trong tù không rượu cũng không hoa” biết lấy gì tiếp bạn bây giờ? Vâng! Giải pháp cuối cùng của Hồ Chí Minh cũng tương tự Đỗ Phủ, Nguyễn Khuyến, chỉ có tấm lòng với tấm lòng: người ngắm trăng, trăng ngắm người, vượt lên trên mọi thiếu thốn. Hồ Chí Minh đã dùng thủ pháp của các bậc đại nhân, hiền sĩ ngày xưa: lấy không để nói có. Cái “không” chính là cái không có vật chất. Cái “có” đồng nghĩa với tâm hồn cao đẹp của Hồ Chí Minh.

Ở câu 3 và 4, chúng ta còn thấy sự hài hòa giữa chất hiện thực và chất lãng mạn. Và cả bài thơ, có sự giao hòa giữa con người chiến sĩ và nghệ sĩ. Trong con người chiến sĩ của Hồ Chí Minh nổi lên chất thép vừa rắn rỏi vừa mềm dẻo. Tại sao cả bài thơ “không nói giọng thép, không lèn tinh thần thép” nhưng lại đậm đà “chất thép”? Chúng ta cần hiểu rõ hoàn cảnh của Bác. Bác sống trong một nhà lao ẩm thấp, chật hẹp, tối tăm, hôi hám, muỗi đốt, rệp cắn, ghẻ lở mọc đầy thân, lại còn bị xiềng xích. Ngoài ra, những đêm trời trở rét “Gối quắp lưng còng chẳng ngủ an”, lại còn bao nỗi đau khổ vất vả, thiếu thốn khác nữa. Thế mà hồn thơ Bác vẫn cất cánh bay cao vút. Đó chẳng phải là “thép” hay sao?

Mặt khác, trong bài tho’ Ngắm trăng chất “thép” còn thế hiện ở thái độ ung dung, lạc quan, đầy bản lĩnh của Bác. Nhờ phép thắng lợi về tinh thần, kẻ thù chỉ giam hãm Bác về mặt thể xác:

“Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao”.

Như vậy, tinh thần của Bác đã vượt khỏi nhà giam, hoàn toàn tự do. Theo Các-Mác “Tự do là nắm được cái tất yếu”. Bác nắm được “cái tất yếu” nên Bác luôn được tự do – “kể thù không giam được trí óc”.

Hơn nữa, cả bài thơ còn thể hiện một tâm hồn trong nghịch cảnh nào cũng luôn hướng ra ánh sáng. Nhà lao là đại diện cho bóng đen hắc ám. Tinh thần Bác vượt ra khỏi bốn bức tường giam tìm đến trăng, có nghĩa là Bác đã tìm đến nguồn ánh sáng vĩnh cửu của tự nhiên. Chính tâm hồn thanh cao của Bác đã đưa ánh trăng dát vàng dát bạc lọt qua khung cửa số’ nhỏ bé của nhà lao u tối. Nhà lao bỗng bừng sáng giữa đêm tối mênh mông của những cuộc đời oan khuất, bất hạnh.

Bên cạnh chất thép rắn rỏi, bài thơ này còn bộc lộ khá rõ chất cổ điển và hiện đại. Chất cổ điển thể hiện ở nền thơ tứ tuyệt Đường luật cô đọng, hàm súc, “ý tại ngôn ngoại” cùng với thú vui của người xưa – ngắm trăng. Chất hiện đại của một tư tưởng cao đẹp, lớn lao, kỳ vĩ, một người chiến sĩ kiên cường, bất chấp gian khổ trên con đường cách mạng, xem ngục tù chỉ là nơi tạm dừng chân.

Tóm lại, đọc bài thơ Ngắm trăng chúng ta chẳng những kính yêu Bác Hồ vô vàn mà còn học tập được nhân sinh quan cao vời của một bậc vĩ nhân. Đồng thời, chúng ta càng thấm thía lời của nhà thơ Tố Hữu khi đọc tập thơ Nhật ký trong tù:

“Lại thương nỗi đoạ đày thân Bác

Mười bốn trăng tê tái gông cùm

Ôi chân yếu, mắt mờ, tóc bạc

Mà thơ bay cánh hạc ung dung!”.

Bài 21. Ngắm Trăng (Vọng Nguyệt)

Câu 1: Chép thuộc lòng bài thơ “Ngắm trăng” phần dịch thơ của Hồ Chí Minh và trả lời những câu hỏi sau:a) Bài thơ được viết theo thể thơ gì? Nội dung và nghệ thuật của bài thơ?b) Ở bài thơ này Bác đã ngắm trăng trong hoàn cảnh nào? Qua đây em thấy Bác có tâm trạng như thế nào trước cảnh đẹp đêm trăng ngoài trời?c) Từ bài thơ ngắm trăng của Bác em có suy nghĩ gì về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của thế hệ trẻ trong thời đại hiện nay. Trình bày đoạn văn theo cách tổng – phân – hợp có sủ dụng câu nghi vấn (gạch chân và chỉ rõ câu nghi vấn mà em sử dụng trong đoạn văn).

Câu 1: Chép thuộc lòng bài thơ “Ngắm trăng” phần dịch thơ của Hồ Chí Minh và trả lời những câu hỏi sau:a) Bài thơ được viết theo thể thơ gì? Nội dung và nghệ thuật của bài thơ?– Chép thuộc lòng bài thơ: “Ngắm trăng”“Trong tù không rượu cũng không hoa,Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ;Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.”– Bài thơ được viết theo thể thơ tứ tuyệt– Nội dung: Ngắm trăng là bài thơ tứ tuyệt hàm súc, cho thấy tình yêu thiên nhiên đến say mê và phong thái ung dung của Bác Hồ ngay cả trong cảnh ngục tù cực khổ tối tăm– Nghệ thuật: điệp ngữ, đối, nhân hóa

Câu 1: Chép thuộc lòng bài thơ “Ngắm trăng” phần dịch thơ của Hồ Chí Minh và trả lời những câu hỏi sau:b) Ở bài thơ này Bác đã ngắm trăng trong hoàn cảnh nào? Qua đây em thấy Bác có tâm trạng như thế nào trước cảnh đẹp đêm trăng ngoài trời?– Hoàn cảnh ngắm trăng Thi nhân xưa, gặp cảnh trăng đẹp, thường đem rượu uống trước hoa để thưởng trăng.Ở bài thơ này Hồ Chí Minh đã ngắm trăng trong hoàn cảnh rất đặc biệt: trong tù ngục! Không rượu cũng không hoa. Bậc tao nhân mặc khách thưởng trăng đó đang là tù nhân bị đày đọa, vô cùng cực khổ.– Tâm trạng của Bác Trước cảnh đẹp đêm trăng tâm hồn Bác xốn xang, bối rối: “Đối thử nhân tiêu nại nhược hà”. Câu thơ cho thấy tâm hồn nghệ sĩ đích thực của người. Người chiến sĩ cách mạng ấy đã rung động trước cảnh đẹp đêm trăng dù đang phải chịu cảnh tù đày điều này thể hiện tình yêu thiên nhiên, phong thái ung dung và tinh thần lạc quan của Bác.Câu 1: Chép thuộc lòng bài thơ “Ngắm trăng” phần dịch thơ của Hồ Chí Minh và trả lời những câu hỏi sau:c) Từ bài thơ ngắm trăng của Bác em có suy nghĩ gì về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của thế hệ trẻ trong thời đại hiện nay. Trình bày đoạn văn theo cách tổng – phân – hợp có sử dụng câu nghi vấn (gạch chân và chỉ rõ câu nghi vấn mà em sử dụng trong đoạn văn).Gợi ý– Từ bài thơ “Ngắm trăng” của Bác, em thấy thế hệ trẻ chúng em ngày nay đã và đang học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.– Về tư tưởng: Thế hệ trẻ luôn nhận thức được vai trò trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

– Về hành động: + Ở trường luôn nỗ lực trau dồi tri thức, rèn luyện phẩm chất đạo đức, vâng lời thầy cô, yêu thương quan tâm giúp đỡ bạn bè, tích cực tham gia những phong trào do trường và lớp phát động.+ Ở nhà vâng lời ông bà cha mẹ; giúp đỡ ông bà, cha mẹ nhiều hơn; yêu thương quan tâm đến những người thân trong gia đình.– Bản thân em: là một học sinh em sẽ cố gắng học tập thật chăm chỉ, luôn phấn đấu trở thành con ngoan trò giỏi để mai này góp phần xây dựng quê hương đất nước giàu đẹp.→ Từ những nhận thức và việc làm trên chẳng phải thế hệ trẻ ngày nay đã và đang học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đó sao?

Cảm Nhận Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh

Cảm nhận Bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh

Cảm nhận Bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh

“Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ. Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

Bài thơ rút trong “Nhật ký trong tù”; tập nhật ký bằng thơ được viết trong một hoàn cảnh đoạ đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng trong nhà tù, qua đó nói lên một tình yêu trăng, yêu thiên nhiên tha thiết. Đọc bài thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện.

Hai câu thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện. Đang sống trong nghịch cảnh, và đó cũng là sự thật “Trong tù không rượu cúng không hoa” thế mà Bác vẫn thấy lòng mình bối rối, vô cùng xúc động trước vầng tăng xuất hiện trước cửa ngục đêm nay. Một niềm vui chợt đến cho thi nhân bao cảm xúc, bồi hồi.

Trăng, hoa, rượu là ba thú vui tao nhã của khách tài tử văn chương. Đêm nay trong tù, Bác thiếu hẳn rượu và hoa, nhưng tâm hồn Bác vẫn dạt dào trước vẻ đẹp hữu tình của thiên nhiên. Câu thơ bình dị mà dồi dào cảm xúc. Bác vừa băn khoăn, vừa bối rối tự hỏi mình trước nghịch cảnh: Tâm hồn thì thơ mộng mà chân tay lại bị cùm trói, trăng đẹp thế mà chẳng có rượu, có hoa để thưởng trăng?

“Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”.

Sự tự ý thức về cảnh ngộ đã tạo cho tư thế ngắm trăng của người tù một ý nghĩa sâu sắc hơn các cuộc ngắm trăng, thưởng trăng thường tình. Qua song sắt nhà tù, Bác ngắm vầng trăng đẹp. Người tù ngắm trăng với tất cả tình yêu trăng, với một tâm thế “vượt ngục” đích thực? Song sắt nhà tù không thể nào giam hãm được tinh thần người tù có bản lĩnh phi thường như Bác:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ”…

Từ phòng giam tăm tối, Bác hướng tới vầng trăng, nhìn về ánh sáng, tâm hồn thêm thư thái. Song sắt nhà tù tỉnh Quảng Tây không thể nào ngăn cách được người tù và vầng trăng! Máu và bạo lực không thể nào dìm được chân lý, vì người tù là một thi nhân, một chiến sĩ vĩ đại tuy “thân thể ở trong lao” nhưng “tinh thần” ở ngoài lao”

Câu thứ tư nói về vầng trăng. Trăng có nét mặt, có ánh mắt và tâm tư. Trăng được nhân hóa như một người bạn tri âm, tri kỷ từ viễn xứ đến chốn ngục tù tăm tối thăm Bác. Trăng ái ngại nhìn Bác, cảm động không nói nên lời, Trăng và Bác tri ngộ “đối diện đàm tâm”, cảm thông nhau qua ánh mắt. Hai câu 3 và 4 được cấu trúc đăng đối tạo nên sự cân xứng hài hoà giữa người và trăng, giữa ngôn từ, hình ảnh và ý thơ:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

Ta thấy: “Nhân, Nguyệt” rồi lại “Nguyệt, Thi gia” ở hai đầu câu thơ và cái song sắt nhà tù chắn ở giữa. Trăng và người tù tâm sự với nhau qua cái song sắt nhà tù đáng sợ ấy. Khoảnh khắc giao cảm giữa thiên nhiên và con người xuất hiện một sự hóa thân kỳ diệu: “Tù nhân” đã biến thành thi gia. Lời thơ đẹp đầy ý vị. Nó biểu hiện một tư thế ngắm trăng hiếm thấy. Tư thế ấy chính là phong thái ung dung, tự tại, lạc quan yêu đời, yêu tự do. “Ngắm trăng” là một bài thơ trữ tình đặc sắc. Bài thơ không hề có một chữ “thép” nào mà vẫn sáng ngời chất “thép”. Trong gian khổ tù đầy, tâm hồn Bác vẫn có những giây phút thảnh thơi, tự do ngắm trăng, thưởng trăng.

Bác không chỉ ngắm trăng trong tù. Bác còn có biết bao vần thơ đặc sắc nói về trăng và niềm vui ngắm trăng: Ngắm trăng trung thu, ngắm trăng ngàn Việt Bắc, đi thuyền ngắm trăng,… Túi thơ của Bác đầy trăng: “Trăng vào cửa sổ đòi thơ…”, “… Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền…”, “Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng thơ…” Trăng tròn, trăng sáng… xuất hiện trong thơ Bác vì Bác là một nhà thơ giàu tình yêu thiên nhiên, vì Bác là một chiến sĩ giàu tình yêu đất nước quê hương. Bác đã tô điểm cho nền thi ca dân tộc một số bài thơ trăng đẹp.

Đọc bài thơ tứ tuyệt “Ngắm trăng” này, ta được thưởng một thi phẩm mang vẻ đẹp cổ kính, hoa lệ. Bác đã kế thừa thơ ca dân tộc, những bài ca dao ói về trăng làng quê thôn dã, trăng thanh nơi Côn Sơn của Nguyễn Trãi, trăng thề nguyền, trăng chia ly, trăng đoàn tụ, trăng Truyện Kiều. “Song thưa để mặc bóng trăng vào”… của Tam Nguyên Yên Đổ, v.v….

Uống rượu, ngắm trăng là cái thú thanh cao của các tao nhân mặc khách xưa, nay – “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén” (Nguyễn Trãi). Ngắm trăng, thưởng trăng đối với Bác Hồ là một nét đẹp của tâm hồn rất yêu đời và khát khao tự do. Tự do cho con người. Tự do để tận hưởng mọi vẻ đẹp thiên nhiên của quê hương xứ sở. Đó là cảm nhận của nhiều người khi đọc bài thơ “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh.