Top 10 # Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Mưa Xuân Của Nhà Trẻ Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Bài Thơ Mưa Xuân Của Tác Giả Nguyễn Bính

Mưa xuân

 

Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già,

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng

Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

 

Bữa ấy, mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.

Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ,

Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”.

 

Lòng thấy giăng tơ một mối tình,

Em ngừng thoi lại giữa tay xinh.

Hình như hai má em bừng đỏ,

Có lẽ là em nghĩ đến anh.

 

Bốn bên hàng xóm đã lên đèn,

Em ngửa bàn tay trước mái hiên.

Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh.

Thế nào anh ấy chẳng sang xem!

 

Em xin phép mẹ, vội vàng đi,

Mẹ bảo: Xem về kể mẹ nghe.

Mưa bụi nên em không ướt áo,

Thôn Ðoài cách có một thôi đê.

 

Thôn Ðoài vào đám hát thâu đêm,

Em mải tìm anh chả thiết xem.

Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh,

Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.

 

Chờ mãi anh sang anh chả sang,

Thế mà hôm nọ hát bên làng,

Năm tao bảy tiết anh hò hẹn,

Ðể cả mùa xuân cũng bẽ bàng!

 

Mình em lầm lụi trên đường về,

Có ngắn gì đâu môt dải đê!

Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt,

Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.

 

Em giận hờn anh cho đến sáng

Hôm sau mẹ hỏi hát trò gì.

“- Thưa u họ hát…” – Rồi em thấy,

Nước mắt tràn ra, em ngoảnh đi.

 

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay,

Hoa xoan đã nát dưới chân giày.

Hội chèo làng Ðặng về ngang ngõ,

Mẹ bảo: “- Mùa xuân đã cạn ngày!”

 

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày!

Bao giờ em mới gặp anh đây?

Bao giờ hội Ðặng đi ngang ngõ,

Ðể mẹ em rằng: Hát tối nay?

Nguyễn Bính/Người Hà Nội

Bài Thơ “Giời Mưa Ở Huế” Của Nhà Thơ Nguyễn Bính

Giời mưa ở Huế sao buồn thế!Cứ kéo dài ra đến mấy ngàyThềm cũ nôn nao đàn kiến đóiGiời mờ ngao ngán một loài mâyTrường Tiền vắng ngắt người qua lạiĐập Đá mênh mang bến nước đầyĐò vắng khách chơi nằm bát úpThu về lại giở gió heo may…

Chúng tôi hai đứa xa Hà NộiBốn tháng hình như kém mấy ngàyLăn lóc có dư mười mấy tỉnhĐể rồi nằm mốc ở nơi đâyThuốc lào hút mãi người ra khóiThơ đọc suông tình hết cả hayTúi rỗng nợ nần hơn chúa ChổmÁo quần trộm mượn, túng đồ thay.Hàng xóm có người con gái lẻÝ chừng duyên nợ với nhau đâyChao ơi! Ba bốn tao ân áiĐã đủ tan tành một kiếp traiTôi rờn rợn lắm giai nhân ạ!Đành phụ nhau thôi, kẻo đến ngàyKhăn gói gió đưa sang xứ lạAi cười cho được lúc chia tay?

Giời mưa ở Huế sao buồn thế!Cứ kéo dài ra đến mấy ngàyXa xôi ai nhớ mà thương nhớ?Mà nhớ mà thương đến thế này!Cố nhân chẳng khóa buồng xuân lạiVung vãi ân tình khắp đó đâyMưa chiều, nắng sớm, người ta bảoCả đến ông giời cũng đổi thay!Gia đình thiên cả lên thành thịBuôn bán loanh quanh bỏ cấy cày“Anh em cánh nhạn người Nam BắcTâm sự hồn quyên lệ ngắn dài…”

Giời mưa ở Huế sao buồn thế!Cứ kéo dài ra đến mấy ngàyHôm qua còn sót hơn đồng bạcHai đứa bàn nhau uống rượu sayNón lá áo tơi ra quán chợTrơ vơ trên bến nước sông đầySầu nghiêng mái quán mưa tong tảChén ứa men lành lạnh ngón tayÔn lại những ngày mưa gió cũNhững chiều quán trọ, những đêm sayNgười quen nhắc lại từng tên mộtKể lại từng nơi đặt dấu giàyTrôi dạt dám mong gì vấn vítSòng đời thua nhẵn cả thơ ngâyTỉ tê gợi tới niềm tâm sựCúi mặt soi gương chén rượu đầyBốn mắt nhuộm chung màu lữ thứĐôi lòng hòa một vị chua cayĐứa thương cha yếu thằng thương mẹCha mẹ chiều chiều… con nước mây 1Không hiểu vì đâu hai đứa lạiChung lưng làm một chuyến đi đầy?Giời mưa ở Huế sao buồn thế!Cứ kéo dài ra đến mấy ngày… 2

“Mưa Rừng”, Bài Thơ Ấn Tượng Của Nhà Thơ Hoàng Yến.

Nhà thơ Ngô Thế Oanh nói với tôi rằng nhà thơ Hoàng Yến rất thiêng. Đúng ngày ông mất ( 23/2/2012), Ngô Thế Oanh ra hiệu sách mua tập ” Mắt người Sơn Tây”. Và ông rất ngạc nhiên thấy bài thơ ” Mưa rừng” của nhà thơ Hoàng Yến in nhầm trong tập thơ của thi sỹ lừng danh Quang Dũng. Vài hôm sau, Ngô Thế Oanh nhận được bài viết của Nhất Lãm: ” Về tác giả bài thơ Mưa rừng”. Và ông vội cho in ngay trên Tạp chí Thơ số 3/2012.

Nhà thơ Hoàng yến xuất hiện trên thi đàn bằng tập thơ trình làng : “Tình Người soi dặm đường”- Nhà xuất bản Hội nhà văn -1957. Tập thơ mỏng, 44 trang, khổ 11×16 cm, do họa sỹ Vũ Lập vẽ bìa, chỉ tròn mười bài, ghi dấu 10 năm sáng tác- từ 1947 đến 1957. ( Đường đi mặt trận – 1947; Bạn cũ – 1948; Mưa rừng -1948; Nghe tin anh tử trận -1952; Bứt lá bỏ dòng suối – 1952; Về xuôi – 1953; Bài hát cái thuyền – 1955; Một lời nguyên vẹn – 1956; Tiếng hát chiều chiều – 1956; Một giọng đàn, một dòng sông -1957).

Mười năm mà thi nhân chỉ sáng tác được có mười bài vậy sao? Không phải. Có những bài nhà thơ sáng tác trong thời kỳ này, nhưng ông không đưa vào tập ( mãi 50 năm sau, năm 2007, gia đình mới chọn đưa vào ” Hoàng Yến tuyển tập”( tập 1), như ” 19 tháng 12″- 1950; “Hắn” – 1957; ” Em có biết”- 1952; ” Những ngọn đèn” ( in chung với Yến Lan); ” Cây xoan trên mồ mẹ” – 1956 -Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1956, NXB Văn Nghệ,1956…) Vậy là Hoàng Yến rất có chủ đích với con số toptel: 10 năm và 10 bài thơ kháng chiến.

Lần đầu “ra trận” với tập thơ trình làng”Tình Người soi dặm đường”, nhưng cũng ngay sau đó nhà thơ thọ nạn nghề nghiệp. Nhà văn Huy Phương đã viết về tai nạn này:

Với hiểu biết có hạn, người viết không dám tham vọng phân tích, đánh giá tập thơ “”Tình Người soi dặm đường” của nhà thơ Hoàng Yến, mà chỉ muốn nói đôi chút về bài thơ ” Mưa rừng”, một bài thơ ấn tượng trong tập vừa được Tạp chí Thơ nhắc đến trong số 3 -2012:

Mưa lầm rầm trong rừngMưa xoay tròn không trungHai bờ mưa mờ mịtCon đường vòng mông lung

Rặng núi về đầu mâyXa khuất những dặm câyTừng sóng xanh tre trúcCơn gió đi trút đầyCơn gió đi mất hútNgười và đường còn đây

Mưa lầm rầm trong rừngMưa xoay tròn không trungHai bờ mưa mờ mịtCon đường vòng mông lung

Mờ mờ hoa gạo đỏLợp lầu giữa núi xanhLay bay dầm mái cỏHạt lại hạt – chuyền cànhHạt mưa gần nhắc nhủHạt xa lời nối lờiĐêm nay chưa nhà ngủMà mưa rừng cứ rơi

Mưa lầm rầm trong rừngMưa xoay tròn không trungHai bờ mưa mờ mịtCon đường vòng mông lung

Chiều càng đi bước dồnNgười càng đi chân chồnĐường dài bóng hoàng hôn…Mưa xa dầm quê hươngƯớt áo bao người thươngChùa chuông hay giọng suối?Tình người soi dặm đường

Mưa lầm rầm trong rừngMưa xoay tròn không trung.

Thời điểm sáng tác của bài “Mưa rừng” đã ghi rõ: Trên đường rừng Hòa Bình, 1948. Nếu chúng ta biết nhà thơ Hoàng Yến, quê Hòa Tiến ,Hòa Vang, Đà Nẵng, cháu ruột Xứ ủy Trung kỳ, cựu tù ĐắcPlây, Huỳnh Ngọc Huệ; từng học trường Esepic Phan Thiết, giỏi võ karate; từng hoạt động cách mạng trong tổ ba người với Võ Quảng, Tố Hữu từ năm 1942, gia nhập Đảng CSVN, giữ chức Chủ sự phòng tư pháp Công an Trung bộ, tham gia cướp chính quyền tại Huế CM tháng 8 năm 1945, sau đó, năm 1946 mang vợ con và gia đình ra Thanh Hóa, làm báo Cứu quốc Khu 4, thư ký cho đồng chí Nguyễn Chí Thanh, sau đó tham gia bộ đội, đại đoàn 304. Thời điểm nhà thơ sáng tác bài “Mưa rừng” chính là thời kỳ ông tham gia quân đội, với cương vị một cán bộ nòng cốt, đi chiến dịch Hòa Bình và chiến dịch Thu đông 1951 – 1952.

Bài thơ mở đầu và lặp lại với ba lần điệp khúc: “Mưa lầm rầm trong rừng/ Mưa xoay tròn không trung/ Hai bờ mưa mờ mịt/Con đường vòng mông lung.” Một không gian, thời gian đầy tâm trạng. Nó gợi cho người chiến sỹ – thi sỹ Hoàng Yến, vốn xuất thân từ trí thức tiểu tư sản, có trình độ học vấn ( Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hoàng Yến được trưng tập đi phiên dịch, khai thác tù binh. Rồi sau này ông lại dịch thơ Puskin, bài thơ dài “Đoàn người Tsigan” từ tiếng Pháp ra tiếng Việt), liên tưởng tới quê nhà, vợ con, người thân : Hai bờ mưa mờ mịt/ Con đường vòng mông lung… Cơn gió đi mất hút/ Người và đường còn đây… Đêm nay chưa nhà ngủ /Mà mưa rừng cứ rơi… Đường dài bóng hoàng hôn/ Mưa xa dầm quê hương… Hình tượng Trời mưa và Con đường luôn trở đi trở lại, tạo thành một tứ thơ xuyên suốt toàn bài, mật mã của bài thơ. Mưa xóa mờ đi con đường thực phía trước, làm cho phương hướng nhạt nhòa, mung lung, nhưng Mưa lại làm hiện hữu con đường quá vãng, con đường tâm thức: ” Hạt mưa gần nhắc nhủ/ Hạt xa lời nối lời”, “Mưa xa dầm quê hương/ Ướt áo bao người thương/ Chùa chuông hay giọng suối?/ Tình người soi dặm đường…”

Không phải ngẫu nhiên câu cuối của bài “Mưa rừng”: ” Tình người soi dặm đường” được lấy làm tiêu đề cho cả tập thơ. Cuộc ra đi này, người vệ quốc đi được hết con đường – khắp các nẻo đường – đến cuối con đường, là nhờ có Tình Người soi rọi. Ấy là quê hương, người vợ, bạn bè, người thân…: ” Đường đi mặt trận/ Đi qua ngõ nhà/ Ríu chân dồn bước/ Trăng sáng nõn nà/ Bóng trăng người vợ/ Gửi người đi xa” – ( Đường đi mặt trận) ; “Khói thuốc bốc thành mây/ Mây làng xa vời vợi…- ( Bứt lá bỏ dòng suối); ” Nhớ Trường Sơn xanh ngút/ Cây lá bó chân trời”- ( Về xuôi); ” Sông Thu Bồn có còn nắng chói chang/ Nương dâu xanh có còn mượt lá…”,” Mẹ ơi, sao có thể/ Con đi đông đi tây/ Đi về như đi chợ / Mà mẹ đó con đây/ Chưa một lần gặp gỡ” ( Tiếng hát chiều chiều) ” Tôi giơ tay đẩy cửa/ Bỗng thấy sông Hương/ Con sông tuổi nhỏ/ Vôi trắng cổng trường… Con đường Kim Long/ Tung tăng như con suối nhỏ/ Giữa hai bờ cỏ dâng hương…” ( Một giọng đàn một dòng sông) vv…

Nếu bài ” Mưa rừng” chỉ là một thi phẩm bình thường, có lẽ đã không có sự lầm lẫn. Trong tập ” Mắt người Sơn Tây” – thơ văn tinh tuyển – của nhà thơ tài danh, tác giả bài thơ ” Tây Tiến” bất tử: Quang Dũng, vừa do NXB Hội Nhà văn và Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam ấn hành quí I/ 2012, không hiểu sao cũng có bài ” Mưa rừng” (Ghi chú năm 1956, tư liệu gia đình)?

Như tác giả Nhất Lãm trong bài ” Về tác giả bài thơ Mưa rừng” đăng trên Tạp chí Thơ, số 3/2012 đã chỉ ra sự khác biệt của hai bài ” Mưa rừng” – bản 1,( trong tập “Hoàng Yến tuyển tập) ” và bản 2, (trong tập ” Mắt người Sơn Tây”). Chi tiết hơn, bản 2, ngoài việc bớt 6 câu phần điệp khúc, còn có 12 chữ trong 9 câu khác biệt so với bản 1 ( chữ in nghiêng, trong ngoặc):

– Xa khuất ( cách) những dặm ( rặng) cây– Cơn gió đi ( đã) trút đầy– Người và ( về) đường còn đây– Lợp lầu ( Lấp dần) giữa núi xanh– Lay bay ( Lang bang) dầm mái cỏ– Hạt xa lời ( theo) lối lời– Chiều càng đi bước dồn( rền)– Ướt áo bao ( những) người thương– Tình người ( yêu) soi dặm đường.

Được biết, sinh thời, khi nhà thơ Quang Dũng còn minh mẫn, ông đã kiên quyết không cho in bài” Dặm về” vào thi phẩm của mình ( mãi gần đây nhà thơ Vân Long mới tìm ra tác giả của “Dặm về” là đại tá, nhà văn Nguyễn Đình Tiên ). Và tất nhiên nhà thơ Quang Dũng cũng chưa bao giờ in bài ” Mưa rừng” trong thơ của mình.

Phải chăng khi biên soạn ” Mắt người Sơn Tây”, một biên tập viên nào đó có sự nhầm lẫn trong việc đưa ” Mưa rừng” vào tuyển tập? Rất có thể, Quang Dũng và Hoàng Yến vốn là bạn của nhau ( Quang Dũng sinh 1921, hơn Hoàng Yến một tuổi), đồng cảnh ngộ và trọng tài nhau, nên nhà thơ đã chép thơ bạn tặng và ( cũng rất có thể) muốn sửa một vài từ theo ý mình?

Rất mong NXB Hội Nhà văn và ban biên soạn ” Mắt người Sơn Tây” lưu ý trường hợp bài thơ ” Mưa rừng”, nếu có thể, có đôi lời với độc giả, và lưu ý cho những lần tái bản sau.

Bình Giảng Bài Thơ Mưa Xuân Của Tác Giả Nguyễn Bính

Cùng với Xuân Diệu, Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ tình nổi tiếng nhất của nền văn học Việt Nam. Mang đậm nét dân dã, mộc mạc, thơ của Nguyễn Bính thường gợi ra những gì thân thuộc, gần gũi mà cũng vô cùng xúc động với muôn vàn cung bậc cảm xúc. Từ mạch nguồn trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, anh chị hãy bình giảng bài thơ Mưa xuân. Bài làm

Nguyễn Bính là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của Việt Nam, Ông được coi là nhà thơ của làng quê Việt Nam bởi những sáng tác của ông mang sắc thái dân giã, mộc mạc. Tôi thường nhớ tới Nguyễn Bính mỗi độ xuân về, nhất là lúc mưa xuân. Những cơn mưa phùn như rắc bụi trên cỏ cây hoa lá, những cánh hoa bưởi rụng rơi bên thềm nhà… tất cả đều làm tôi nhớ đến Ông, nhớ đến những sáng tác vô cùng thân quen và mộc mạc, gần gũi với khung cảnh quê hương yên bình. Trong số các sáng tác của Nguyễn Bính, tôi thích nhất là bài thơ “Mưa xuân” nằm trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang” năm 1940.

“Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng

Mẹ già chưa bán chợ làng xa”

Mở đầu bài thơ là hình ảnh của một cô gái sống bằng nghề dệt lụa cùng với mẹ già, tấm lòng trong sáng thuần khiết được ví như cây lụa trắng đã cho ta thấy đây là một cô gái có lòng lương thiện, luôn nghe lời mẹ. Nhà thơ đã sử dụng lối viết tự sự chân thật và gần gũi để giới thiệu về cuộc sống hàng ngày của cô gái làm cho người đọc hiểu hơn về nhân vật trong chuyện.

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ

Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”

Hình ảnh mưa xuân hiện lên thật đẹp chẳng trách Nguyễn Bính đã lấy hình ảnh này để đặt tên cho bài thơ. Các hình ảnh như: mưa xuân, hoa xoan, hội chèo đều là những hình ảnh quen thuộc của mùa xuân và có lẽ đây chính là cơ hội để cô gái có thể gặp chàng trai trong lòng của mình. Tôi nhớ trong bài thơ Tương Tư, tác giả cũng đã sử dụng hình ảnh thôn Đoài trong câu thơ: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông – một người chín nhớ mười thương một người”. Hình ảnh thôn quê hiện lên thật gần gũi tượng trưng cho tình cảm lứa đôi thật đẹp, đây chính là điểm đặc sắc trong thơ của Nguyễn Bính mà chúng ta không thể tìm thấy ở các nhà thơ khác.

Những câu thơ tiếp theo từ “em ngừng thoi lại giữa tay xinh… cho đến thế nào anh ấy chả sang xem” đã diễn tả tâm trạng bồi hồi có chút e thẹn của cô gái khi nghĩ đến chàng. Nguyễn Bính đã sử dụng lối viết tự sự kết hợp với miêu tả đem đến cho người đọc cảm giác rất chân thật, rất gần gũi, dù không có mặt ở đó nhưng người đọc vẫn có thể hình dung ra mọi hành động của cô gái.

“Em xin phép mẹ vội vàng đi

Mẹ bảo em về kể mẹ nghe

Mưa bụi nên em không ướt áo

Thôn Đoài cách có một thôi đê”

Nguyễn Bính đã thực sự hóa thân vào nhân vật, kể lại từng chi tiết cũng như diễn biến tâm trạng của cô gái giúp cho người đọc cảm thấy rất chân thực. Từ “vội vàng” đã cho thấy tâm trạng háo hức của cô gái chỉ muốn mau chóng đến hội hàng để có thể gặp được chàng, trái tim và lý trí của cô đều hướng đến chàng.

“Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm

Em mải tìm anh chả thiết xem

Chắc hẳn đêm nay dường cửi lạnh

Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”

Những câu thơ vô cùng mộc mạc và giản dị, những câu nói rất đỗi đời thường, rất đỗi gần gũi với lối sống thôn quê bình dị đã được Nguyễn Bính sử dụng trong đoạn thơ trên. Cô gái lặn lội sang thôn Đoài nhưng không hề có ý xem hội mà tâm trí của cô chỉ hướng đến người thương trong lòng, cô mải miết đi tìm anh trong vô thức. Biện pháp nhân hóa được sử dụng khéo léo trong hai câu cuối chứng tỏ mọi khi cô luôn gắn bó với khung cửi và thoi ngà nhưng hôm nay cô đã bỏ mặc tất cả để đi tìm chàng, đi tìm hạnh phúc của đời mình.

Sự chờ đợi trong vô vọng của cô gái đã dập tắt niềm hi vọng của cô, tâm trạng chuyển từ hồi hộp nhớ mong đến trách móc:

“Chờ mãi anh sang anh chẳng sang

Thế mà hôm nọ hát bên làng

Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn

Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng”

Những lời trách móc của cô gái rất chân thực, mang nỗi niềm của người con gái khi yêu mong muốn được gặp chàng để thỏa nỗi nhớ mong nhưng chàng lại không đến. Những lời ấy làm tôi nhớ đến những lời trách móc của chàng trai trong bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính: “Hai thôn chung lại một làng – cớ sao bên ấy chẳng sang bên này”. Bên cạnh những lời trách móc giận hờn ấy chính là sự hi vọng, hi vọng có thể được gặp người mình thương dù chỉ là một lần.

“Mình em lầm lũi trên đường về

Có ngắn gì đâu một dải đê!

Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt

Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya”

Chờ hoài mà chàng không đến, cô gái “lầm lũi” đi về trong màn đêm đầy sương gió mang theo bao nhiêu tâm sự với tủi hờn. Tôi rất khâm phục Nguyễn Bính trong việc miêu tả diễn biến tâm lí của cô gái, có lẽ đây chính là yếu tố tạo nên sự thành công và tên tuổi của nhà thơ. Tâm trạng của cô gái trước khi đi xem hội là rất vui, rất háo hức vì tin rằng sẽ gặp được chàng, đường dù xa nhưng cô vẫn thấy rất gần điều này thể hiện rất rõ trong câu: “Thôn Đoài cách có một thôi đê”. Bởi vì cô háo hức muốn đi gặp chàng nên dù đường xa hay mưa gió cũng chẳng màng, đường dù xa nhưng cô vẫn thấy rất gần. Nhưng đến khi không gặp được chàng trai, suy nghĩ của cô gái đã thay đổi hẳn: “Có ngắn gì đâu một dải đê”. Một mình cô trở về trong sự nhớ nhung, tủi hờn, con đường về nhà trở nên dài hơn bao giờ hết.

“Em giận hờn anh cho đến sáng

Hôm sau mẹ hỏi hát trò gì

“- Thưa U họ hát …” rồi em thấy

Nước mắt tràn ra em ngoảnh đi”

Nỗi lòng của người con gái khi yêu là thế, cả đêm cô gái đã trằn trọc không ngủ được, giận hờn anh cho đến khi trời sáng. Tại sao anh lại lỡ hẹn thề để cho cô phải mong ngóng, hi vọng và rồi thất vọng, để rồi khi U hỏi đến thì cô chỉ biết ngoảnh mặt khóc.

“Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay

Hoa xoan đã nát dưới chân giày

Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ

Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày

Bao giờ em mới gặp anh đây?

Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ

Để mẹ em rằng: “Hát tối nay?”

Mùa xuân đang dần qua đi, những cơn mưa xuân đã ngại bay, những cánh hoa xoan đã bị nát dưới giày, hội làng cũng sắp hết, không biết đến bao giờ cô mới gặp được chàng trai, không biết đến khi nào mùa xuân kia lại tươi thắm trở lại.

Bài thơ “Mưa xuân” giống như một câu chuyện đã được Nguyễn Bính kể lại bằng chất thơ mộc mạc và giản dị của mình. Câu chuyện về người con gái thôn quê ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, tiếc thương cho cô gái vì mùa xuân đã nhỡ nhàng nhưng cũng cảm phục vì tình yêu mãnh liệt của cô. Bằng cách sử dụng các hình ảnh đối lập, vận dụng linh hoạt các biện pháp tu từ kết hợp với lối văn tự sự đi vào lòng người, bài thơ “Mưa xuân” của Nguyễn Bính đã để mang đến thật nhiều cảm xúc cho người đọc về tình yêu đôi lứa.