Top 21 # Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Mùa Thu Của Em / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Cảm Nghĩ Về Mùa Thu Của Em / 2023

Cảm nghĩ về mùa thu của em

Bài làm

Trong một năm mùa thu có lẽ là ngắn nhất nhưng lại luôn mang đến nhiều điều thay đổi nhất trong năm. Nắng thu không chói chang như nắng hạn không xanh xao vàng vọt yếu ớt như nắng mùa đông. Nắng thu óng ánh sắc vàng cuối cùng nhẹ nhàng nhưng cũng rất tươi đẹp. Đã tự khi nào màu vàng đã là màu đặc trưng  mỗi khi thu đến từ hoa cúc trên đường đến những chiếc lá khẽ rơi rụng khi có những cơn gió nhẹ nhẹ lướt qua. Mùa thu còn là mùa của những ngày tựu trường, tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên bước chân vào một ngôi trường hoàn toàn xa lạ với nhiều sự bỡ ngỡ và cũng là lần đầu tiên được mẹ dắt tay đến lớp cùng với sự vỗ về của mẹ và ánh mắt trìu mến đong đầy yêu thương của cô giáo. Ôi mùa thu mùa của những kỉ niệm tôi yêu, tôi yêu cả những cơn gió hiu hiu nhẹ nhàng mênh mang mát lạnh đến nao lòng. Chợt thấy tâm hồn mình xao động trước những con đường ngập tràn ánh nắng dịu dàng bên cạnh là những chiếc lá vàng cùng với những bông hoa ven đường đang rung rinh trong nắng sớm. Điều đó thật khiến tâm hồn ta trở nên thanh thản biết bao.

Mùa thu cũng là mùa của những sự kiện quan trọng. Nhắc đến mùa thu không thể không nhắc đến những vầng trăng sáng tròn vành vạnh trong dịp Tết Đoàn Viên bên gia đình cùng ăn những chiếc bánh trung thu cùng ngắm trăng và thưởng thức những cơn gió mát của đêm mùa thu. Mùa thu cũng là mùa của sự kiêu hãnh tự hào chung của dân tộc trong ngày lễ kỷ niệm chào mừng cách mạng Tháng 8 thành công và ngày quốc khánh mùng 2 tháng 9. Khắp nơi  trên mọi miền đất nước đều tưng bừng rộn rã với bầu trời xanh cùng những chiếc lá cờ đỏ sao vàng được treo tung bay trước gió.

Trên khắp các nẻo đường dòng người tấp nập ngược xuôi gương mặt ai cũng hân hoan rạng ngời. Dường như trong mỗi người đều đều có một cảm xúc chung  đó là niềm xúc động và tưởng nhớ đến công lao của những thế hệ cha ông đã làm nên đất nước ngày nay. Những người đã viết nên trang sử hào hùng làm rạng danh non sông đất nước và trong chúng ta lại thầm nhắc lòng mình phải biết cố gắng hết sức để cùng nhau chung tay xây dựng tổ quốc giàu đẹp. Nhiều người bảo mùa thu luôn mang lại vẻ buồn nhưng với tôi mùa thu lại quyến rũ đến lạ kỳ không ổn à mà rất đối tĩnh lặng không màu mè nhưng cũng rất lấp lánh… Tất cả những điều ấy đều khiến tôi yêu mùa thu yêu những cánh đồng đến mùa thu hoạch Cốm nồng nàn.

Mùa thu còn đẹp trong những khi chiều tà được thả mình vào giữa những cơn mưa  lá bước trên những thảm lá vàng rụng dày cùng thưởng thức những hương vị của thiên nhiên của đồng nội ấy tôi lại cảm thấy dễ chịu đến lạ thường. Mùa thu không phải ai cũng thấy được hết vẻ đẹp của nó có lẽ vì vậy mà trong văn học Việt Nam có rất nhiều tác phẩm viết về mùa thu như: Thu Điếu, Thu Vịnh. Mỗi tác phẩm đều nói lên vẻ đẹp khác nhau của mùa thu nhưng tất cả những con người đó đều trân quý và mong đợi sự quay lại của mùa thu mỗi khi mùa đông giá lạnh đến. Họ là những người mang lại những bức tranh mùa thu tuyệt diệu khác nhau mang lại cho người đọc những cảm xúc sự dao động khác nhau nhưng đều luôn ngập tràn niềm tin trong đó.

Mùa thu đến thật nhẹ nhàng tình cảm mùa thu đến đem theo không khí mát lành của đất trời cây cỏ mùa thu là thế đấy. Chỉ có những người yêu mùa thu mới có thể cảm nhận được sự ấm áp tình yêu thương tôi yêu mùa thu yêu những gì thuộc về mùa thu.

“Mùa Lại Thu Rồi Em Có Hay…” / 2023

Câu thơ này chẳng nhớ ngấm vào mình từ khi nào. Cứ mỗi khi thấy lành lạnh ở cổ vào buổi sáng, thấy man mát vào buổi chiều và thấy bóng tối ập xuống rất nhanh sau một ngày làm việc là lại nhớ đến câu thơ này, mà chỉ nhớ mỗi câu này.

Tìm loanh quanh một lúc trên Google tìm được nguyên văn của bài thơ nhưng cũng không biết được tác giả, lại tìm được một bài thơ tình tên “Mùa lại thu” của Trương Huyền. Thế mới biết Google cũng chỉ là một cỗ máy, một cỗ máy dù tốt đến đâu cũng chỉ là cỗ máy và cái dở nhất của nó là làm người ta biến mất dần sự uyên bác cũng như sâu sắc. Nghĩ mãi đến khi đọc được nguyên văn bài thơ mới nhớ ra là ngày xưa đọc trong quyển “Văn học và tuổi trẻ” của em Ngọc. Hehe, đời buồn cười thật, cái đứa học sinh giỏi văn cấp toàn quốc ngày xưa giờ đi làm ngân hàng. Nói thật, cái kiểu dạy học trò “tập làm văn” theo lối “tầm chương trích cú” như người ta vẫn làm bấy lâu nay thì chỉ tạo ra được đám học trò như thế thôi, đám học trò được nuôi dưỡng để đi thi chứ không phải để tạo ra hương hoa cho đời. Nguyễn Văn Thạc mà sống lại chắc cũng khóc chứ đừng nói là Nguyễn Tuân…

Ờ, hôm nay mới thấy trời có tí không khí mùa thu! Đến gần cuối tháng 8 âm lịch mà trời vẫn có lúc đến 30 độ. Giời đất giờ đảo lộn hết rồi. Con người đang trả giá cho những gì mình làm đây mà. Đến cái mùa thu vốn rất bảng lảng, vốn đã dễ mất rồi cũng sẽ mất sạch thôi. Đổi lại là những mùa hè thiêu đốt, những mùa đông tê cóng và cả mùa xuân ướt nhớp.

Làm sao cho em gái phương Nam thấy được trời xanh Hà Nội hay hơi gió heo may hanh hao khi mà Hà Nội hay bất cứ nơi nào ở miền Bắc giờ đây cũng chẳng còn bóng dáng của một mùa thu người ta từng ca tụng trong thơ, văn, nhạc là “trong vắt, trong xanh, vàng rực, thơm nồng…”. Bây giờ làm sao thấy được “đám mây mùa hạ vắt nửa mình sang thu” nữa!

Mùa thu này, buổi sáng Hà Nội trời xám xám, đến giữa trưa nóng như mùa hè và tối đến cứ yên tâm bật quạt máy mà ngủ.

Ở ngoài Bắc, mỗi khi chuyển mùa dù chẳng tinh tế lắm cũng thấy người ta thay đổi quần áo, thức ăn. Vậy mà cuối tháng 8 âm lịch rồi, mấy em gái chân dài vẫn yên tâm với váy ngắn, quần sooc ngắn. Cả thực đơn bữa cơm hàng dù biết rằng đìu hiu cũng chẳng thấy thay đổi gì, vẫn từng đấy món ăn từ đầu năm. Có chăng là chuyện “chiếc lá xanh hôm trước bỗng nhiên vàng”. Chiều đi làm về với hộp cơm uể oải, bỗng nhớ tới mỗi lần đổi mùa là mẹ đổi món ăn. Chẳng nhớ là được ăn thêm món gì, bớt món gì nhưng chỉ biết là mùa nào thức nấy. Rồi còn bao nhiêu thứ dưa muối nữa. Lúc này ăn dưa cải sen cũng được mà dưa cải bắp cũng ngon. À, có thể muộn hơn nữa, cuối thu đầu đông (hay chính lúc này) sẽ có món ngó sen (củ sen) nấu canh sườn. Miếng củ sen trắng ngà, mập mạp như cổ tay bé cháu nấu với sườn lại thành màu hồng hồng. 3 miếng là hết một bát cơm. Hạnh phúc gia đình có khi chỉ là một bát canh nóng! “Ăn Bắc, mặc Nam” mà!

Mùa thu của Hà Nội chạy trốn đâu mất rồi. Ngày trước còn ở trong làng Vòng làm cốm, những ngày này nghe giã thậm thình từ sáng đến tối. Bà cụ Cận đầu ngõ vẫn còn cốm ngon nhất làng. Thằng cháu bà cụ vừa chịu khó làm cốm vừa trông hàng net, chẳng biết năm nay đã lấy vợ chưa. Những ngày ngồi luyện ở hàng net đó cũng làm công lực tăng lên đáng kể. Bây giờ cũng chẳng có tí thời gian nào mà la cà xuống dưới làng Vòng nữa. Bao nhiêu thời gian giờ đổi cho cất cánh, hạ cánh hết rồi còn đâu. Nếu xuống làng Vòng chắc cũng không chết đói, hàng cơm bên chỗ đình làng Hậu chắc vẫn bán, vừa rẻ, vừa nhiều món.

Hay là mùa thu vẫn quanh quất đâu đó nhưng mình không còn thời gian để cảm nhận nữa? Chắc vậy. Tối ngày vùi đầu với đống giấy tờ, máy tính trong phòng lạnh thì còn biết quái gì trời đất rộng lớn nữa.

Xem lại những bức hình cũ thấy những ngày tháng chưa xa mà sao đã như quá vãng. Thời gian trôi nhanh quá. Cuộc sống là dòng chảy không cưỡng được. Đừng nói là dừng lại, nghỉ một chút thôi cũng đã không được rồi. Trong hình vẫn thấy nắng vàng, vẫn thấy hoa vàng, những búp, những chồi…Xem kỹ thấy mình chụp những bức hình đó đúng 3 năm trước (tháng 10/2006), vậy mà cứ ngỡ đã lâu lắm rồi. Ngày ấy mới đi học cao học được gần 1 năm, ở cùng mấy anh em trong căn nhà ẩm thấp trong làng Vòng. Cả xóm thật vui vẻ. Giờ cao học đã xong. Anh em mỗi người mỗi việc, có thằng đã có con. Vài dòng về mùa thu cho đỡ nhớ đỡ thương.

Mùa lại thu rồi

Mùa lại thu rồi em có thấy

Chiếc lá xanh hôm trước bỗng nhiên vàng

Gió dừng chân tần ngần bên ngõ vắng

Hoa cúc ngập ngừng nhớ nắng nở bâng khuâng

Mùa lại thu rồi em thấy không

Hương sữa nồng len trong từng nếp áo

Con hẻm nhỏ vắng tiếng cười huyên náo

Bầy trẻ con theo sách học tới trường

Mùa lại thu rồi em nhớ không

Trời xanh như lọc nắng giữa dòng

Những bà rượu nếp rong hôm nọ

Nay đổi cốm vòng rao ngõ trong

Mùa lại thu rồi em có nghe

Trăng thở giữa đôi bờ nước lặng

Cá quẫy vàng hồn nhiên trên mặt sóng

Lá trở mình nghe phố vắng lao xao

Những mùa thu… rồi lại những mua thu

Nắng cứ bạc dần trên tóc mẹ

Gió trở mùa thoáng như lời nói khẽ

Mùa lại thu rồi…hằn trán mẹ: thời gian!

******

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Posted in Uncategorized

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Sang Thu / 2023

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Sang Thu” của Hữu Thỉnh

Cảm nhận của em về bài thơ Sang Thu – Sang Thu của nhà thơ Hữu Thỉnh là một bài thơ vô cùng tinh tế, đặc sắc thể hiện một phong cách thơ lôi cuốn với những ngôn ngữ giản dị trong nền văn học hiện đại.

Bài thơ “Sang Thu” là một tác phẩm tuyệt vời của Hữu Thỉnh thể hiện sự giật mình của tác giả khi đất trời vào thu. Trong buổi thiên nhiên giao mùa đầy lãng mạn. Tác giả đã khắc họa lên bức tranh mùa thu vô cùng sinh động, với những nét vẽ lung linh, nhiều màu sắc làm đắm say lòng người.

“Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Gió chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về”

Trong khổ thơ đầu tiên của bài thơ này tác giả Hữu Thỉnh thể hiện sự giật mình khe khẽ khi mùa thu đang tới thật gần bên ô cửa sổ một sớm mai. Động từ “bỗng” thể hiện một sự ngỡ ngàng, không ngờ mùa thu mùa mà tác giả yêu thích đã đến thật nhanh qua những cơn gió heo may, khiến cho con người bớt đi cái nóng của mùa hè oi bức.

Trong mùa hương theo làn gió tác giả cảm nhận được dư vị của mùa thu đâu đấy, thấy mùa thu đang tới qua từng ngõ ngách từng con phố. Mùi hương ổi, một thứ quà quê quen thuộc đã phảng phất đâu đâu khiến trái tim con người thổn thức bởi mùi thơm quyến rũ của nó.

Những cơn gió của mùa thu dường như nhẹ nhàng dịu dàng hơn rất nhiều không có ồn ào như những cơn giông tố, những cơn bão lốc của mùa hè đầy giận dữ. Những tia nắng gắt gỏng của ngày hè cũng nhường chỗ cho sự dịu dàng khoan thai.

Mùa thu chính là mùa của những mùi thơm của hương cốm, vị ngọt lành trong trẻo của mùa thu. Những hạt cốm thơm nồng được ủ trong lớp lá sen thơm ngát rồi ăn với chuối tiên tạo thành món ăn không thể nào quên của người Hà Nội.

Sang Thu thể hiện sự tinh tế của đất trời và tự nhiên. Trong ngôn ngữ của mình tác giả Hữu Thỉnh đã mượn những hình vô cùng tươi đẹp của những đám mây lững lờ trôi, của những dòng nước trên sông để nói lên nỗi lòng của mình.

“Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu.”

Những dòng nước trôi trên sông tựa như những con sóng nhỏ bé trôi hững hờ khoan thai, bình tĩnh không thể hiện sự ồn ào của thác chảy. Dòng sông và những đàn chim như có sự đối lập với nhau. Sự vội vã của từng đàn chim đi di cứ tránh rét ở phương Nam xa xôi đối nghịch với sự điềm tĩnh thư thái của dòng chảy trên sông.

Tạo thành bức tranh mùa thu vô cùng tươi đẹp, sinh động và mang nhiều màu sắc khác nhau vô cùng độc đáo tinh tế trong quan sát tỉ mỉ của tác giả Hữu Thỉnh. Những đám mây như những nàng thiếu nữ dịu dàng bước qua mùa hạ, “vắt nửa mình sang thu” đây là sự độc đáo trong sử dụng từ ngữ của tác giả.

“Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi”

Sang Thu những tia nắng trở nên tinh khôi, trong trẻo hơn, không còn gay gắt nóng nực khó chịu nữa. Những cơn mưa rào hối hả cũng dần biến mất nhường lại cho tiết trời dịu nhẹ, khi những bông cúc vàng, cúc trắng thi nhau đua nở khoe mình trong nắng sớm.

Không còn những tiếng sấm chớp đinh tai, làm cho con người nhiều khi phải giật mình khiếp sợ, khiến cho những hàng cây hai bên đường nhiều lần kinh hãi. Trong khổ thơ này tác giả Hữu Thỉnh đã vô cùng tinh thế khi có sự liên tưởng hình ảnh ẩn dụ giữa hàng cây đứng tuổi và sự trưởng thành của con người. Con người vượt qua những khó khăn giông bão sẽ trở nên kiên cường hơn, trưởng thành và điềm tĩnh hơn.

Những người trưởng thành không bao giờ nóng vội, hoảng sợ trước những sóng gió của cuộc đời. Những cơn mưa rào, những tia sấm chớp bất ngờ không làm họ sợ hãi chùn bước.

Sang Thu của Hữu Thỉnh l à một bài thơ để hay, dạt dào cảm xúc. Tác giả Hữu Tỉnh đã viết bài thơ bằng cả trái tim mình thể hiện sự khéo léo, quan sát tinh tế, tỉ mỉ, sử dụng hình ảnh ẩn dụ vô cùng đắt giá sâu sắc làm cho bài thơ có sức sống mãnh liệt trong lòng bạn đọc.

Diệu Linh

Phân Tích Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến / 2023

Bài thơ Câu Cá Mùa Thu (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến được xem là một bài thơ xuất sắc nhất trong chùm bốn bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Ông được xem là một nhà thơ của miền quê nên những cảnh đẹp trong bài thơ luôn giản dị nhưng đẹp đến bất ngờ.

Qua đôi mắt của tác giả, những cảnh đẹp bình thường nhưng hóa thi vị, cảnh đẹp không phải ở đôi mắt người nhìn sao? Ông đã khám phá ra những nét đẹp mà người khác tưởng chừng như không thấy.

Bài 1. Bài văn của em Nguyễn Trần Hoài đã phân tích bài thơ Câu Cá Mùa Thu của Nguyễn Khuyến:

Trong nền thơ ca dân tộc có nhiều bài thơ tuyệt hay nói về mùa thu. Riêng Nguyễn Khuyến đã có chùm thơ ba bài: “Thu vịnh”, “Thu ẩm” và “Thu điếu”. Bài thơ nào cũng hay cũng đẹp cho thấy một tình quê dào dạt. Riêng bài “Thu điếu”, nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. “Thu điếu” là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc : Cảnh đẹp mùa thu quê hương, tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu dẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết.

“Thu điếu” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm. Cảnh thu, trời thu xinh đẹp của làng quê Việt Nam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt vời dưới ngọn bút thần tình của Nguyễn Khuyến.

Hai câu đầu nói về ao thu và chiếc thuyền câu. Nước ao “trong veo” tỏa hơi thu “lạnh lẽo” . Sưong khói mùa thu như bao trùm cảnh vật. Nước ao thu đã trong lại trong thêm, khí thu lành lạnh lại trở nên “lạnh lẽo”. Trên mặt nước hiện lên thấp thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ – “bé tẻo teo”. Cái ao thuyền câu là hình ảnh rung tâm của bài thơ, cũng là hình ảnh bình dị, thân thuộc, đáng yêu của quê nhà. Theo Xuân diệu cho biết vùng đất đồng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam có cơ man nào là ao, nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà “bé tẻo teo”:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”.

Các từ ngữ: “lạnh lẽo, trong veo, bé tẻo teo” gợi tả đường nét, dáng hình, màu sắc của cảnh vật, sắc nước mùa thu; âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng về.

Hai câu thơ tiếp theo trong phần thực là những nét vẽ tài ba làm rõ thêm cái hồn của cảnh thu:

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”.

Màu “biếc” của sóng hoà hợp với sắc “vàng” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật đối trong phần thực rất điêu luyện: “lá vàng” với “sóng biếc”, tốc độ “vèo” của lá bay tương ứng với mức độ “tí” của gợn sóng. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ngợi ca chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến. Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới có được câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu”: “vèo trông lá rụng đầy sân”.

Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời “xanh ngắt” với “những tầng mây lơ lửng” trôi theo chiều giớ nhẹ. Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc trời thu là “xanh ngắt”:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” (Thu vịnh)

“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” (Thu ẩm)

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Thu điếu)

“Xanh ngắt” là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (xám) mà xanh ngắt, thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Thế rồi ông lơ đãng đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Hình như bà con dân làng đã ra đồng hết. Xóm thôn vắng lặng. Mọi con đường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại:

“Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

Cảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm trong giấc mộng mùa thu. Tất cả cảnh vật từ mặt nước “ao thu lạnh lẽo” đến “ngõ trúc quanh co” hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh,… có khi thoáng chút bâng khuâng, man mác nhưng rất gần gũi, thân thiết với mọi con người Việt Nam. Phong cảnh thiên nhiên của mùa thu quê hương sao đáng yêu thế!

Cái ý vị của bài “Thu điếu” là hai câu kết:

“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo”.

“Tựa gối ôm cần” là tư thế của người câu cá, cũng là một tâm thế nhàn, thoát vòng danh lợi. Cái âm thanh “cá đâu đớp động”, nhất là từ “đầu” gợi lên sự mơ hồ, xa vắng và chợt tỉnh. Người câu cá ở đây chính là nhà thơ, một ông quan to triều Nguyễn, yêu nước thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc, không cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp đã cáo bệnh, từ quan. Đằng sau câu chữ hiện lên một nhà nho thanh sạch trốn đời đi ở ấn. Đang ôm cần câu cá nhưng tâm hồn nhà thơ như đang đắm chìm trong giấc mộng mùa thu, bỗng chợt tỉnh trở về thực tại khi “cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Cho nên cảnh vật ao thu, trời thu êm đềm, vắng lặng như chính nỗi lòng của nhà thơ vậy: buồn cô đơn và trống vắng.

Âm thanh tiếng cá “đớp động dưới chân bèo” đã làm nổi bật khung cảnh tịch mịch của chiếc ao thu. Cảnh vật như luôn luôn quấn quýt với tình người. Thiên nhiên đối với Nguyễn Khuyến như một bầu bạn tri kỷ. Ông đã trang trải tình cảm, gửi gắm tâm hồn, tìm lời an ủi ở thiên nhiên, ở sắc vàng của lá thu, ở màu “xanh ngắt” của bầu trời thu, ở làn “sóng biếc” trên mặt ao thu “lạnh lẽo”…

Thật vậy, bài thơ “Câu cá mùa thu” là một bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả bằng những gam màu đậm nhạt, nhưng nét vẽ xa gần, tinh tế gợi cảm. Âm thanh của tiếng lá rơi đưa “vèo” trong làn gió thu, tiếng cá “đớp động” chân bèo – đó là tiếng thu dân dã, thân thuộc của đồng quê đã khơi gợi trong lòng chúng ta bao hoài niệm đẹp về quê hương đất nước.

Nghệ thuật gieo vần của Nguyễn Khuyến rất độc đáo. Vần “eo” đi vào bài thơ rất tự nhiên thoải mái, để lại ấn tượng khó quên cho người đọc; âm hưởng của những vần thơ như cuốn hút chúng ta: trong veo – bé tẻo teo – đưa vèo – vắng teo – chân bèo. Thi sĩ Xuân Diệu đã từng viết: “Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu xanh vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi…”

Thơ là sự cách điệu tâm hồn. Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên mùa thu, yêu cảnh sắc đồng quê với tất cả tình quê nồng hậu. Ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Đọc “Thu điếu”, “Thu ẩm”, “Thu vịnh”, chúng ta yêu thêm mùa thu quê hương, yêu thêm xóm thôn đồng nội, đất nước. Với Nguyễn Khuyến, tả mùa thu, yêu mùa thu đẹp cũng là yêu quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất đã chiếm một địa vị vẻ vang trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam.

Bài 2. Bài văn của em Đặng Thanh Bình đã phân tích bài thơ Câu Cá Mùa Thu của Nguyễn Khuyến:

Mùa thu vốn là một đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam. Thu thường mang đến cho thi sĩ một nỗi buồn man mác, gợi nhớ hay nuối tiếc về một cái gì đó xa xôi, đầy bí ẩn. Dường như không ai vô tình mà không nói đến cảnh thu, tình thu khi đã là thi sĩ! Đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta sẽ thấy được điều đó. Cảnh mùa thu trong thơ ông không phải là mùa thu ở bất cứ miền nào, thời nào, mà là mùa thu ở quê ông, vùng đồng chiêm Bắc Bộ lúc bấy giờ. Chỉ với bầu trời “xanh ngắt” (Thu vịnh), với cái nước “trong veo” của ao cá (Thu điếu), và cái “lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, làn ao lóng lánh bóng trăng loe” ( Thu ẩm). Nguyễn Khuyến đã làm say đắm lòng bao thế hệ! Khi nhận xét về bải thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu có viết: “Bài thơ thu vịnh là có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. Vậy ta thử tìm hiểu xem thế nào mà “Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”?

Nếu như ở Thu vịnh, mùa thu được Nguyễn Khuyến đón nhận từ cái không gian thoáng đãng, mênh mông, bát ngát, với cặp mát hướng thượng, khám phá dần các tầng cao của mùa thu để thấy được: ” Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, thì ở Thu điếu, nhà thơ không tả mùa thu ở một khung cảnh thiên nhiên rộng rãi, không phải là trời thu, rừng thu hay hồ thu, mà lại chỉ gói gọn trong một ao thu: ao chuôm là đặc điểm của vùng đồng chiêm trũng, vùng quê của Nguyễn Khuyến:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Câu thơ đầu tồn tại hai vần “eo”, câu thơ thể hiện sự co lại, đọng lại không nhúc nhích, cho ta một cảm giác lạnh lẽo, yên tĩnh một cách lạ thường. Không có từ “lẽo” và từ “veo” cũng đủ cho ta thấy cảnh tĩnh, nhưng thêm hai từ này lại càng thấy cảnh tĩnh hơn nữa. Khung ao tuy hẹp nhưng tác giả lại không bị giới hạn mà mở rộng ra nhiều chiều, trong cái không khí se lạnh đó dường như làm cho làn nước ao ở độ giữa thu, cuối thu như trong trẻo hơn. Những tưởng trong “ao thu lạnh lẽo” ấy, mọi vật sẽ không xuất hiện, thế mà thật bất ngờ: Khung ao không trống vắng mà có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Có khung cảnh thiên nhiên và có dấu vết của cuộc sống con người, khiến cảnh thu thêm được phần nào ấm cúng. Chiếc thuyền “tẻo teo” trông thật xinh xắn. Câu thơ đọc lên, làm cho đối tượng miêu tả trở nên gần gũi và thân mật biết bao!Với hai câu mở đầu, nhà thơ sử dụng những từ ngữ gợi hình ảnh, tạo độ gợi cao: “lẽo”, “veo”, “tẻo teo” mang đến cho người đọc một nỗi buồn man mác, cảnh vắng vẻ, ít người qua lại. Và rồi hình ảnh:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Càng làm cho không khí trở nên tĩnh lặng hơn, nhà thơ đã dùng vcái động của “lá vàng trước gió” để miêu tả cái tĩnh của cảnh thu làng quê Việt Nam. Những cơn gió mùa thu đã xuất hiện và mang theo cái lạnh trở về, khiến ao thu không còn “lạnh lẽo”, không còn tĩnh lặng nữa vì mặt hồ đã “gợn tí”, “lá vàng khẽ đưa vèo”, cảnh vật dường như đã bắt đầu thay đổi hẳn đi! Cơn “sóng biếc” nhỏ “hơi gợn tí” và chiếc lá “trước gió khẽ đưa vèo” tưởng như mâu thuẫn với nhau, nhưng thật ra ở đây Nguyễn Khuyến đã quan sát kĩ theo chiếc lá bay trong gió, chiếc lá rất nhẹ và thon thon hình thuyền, chao đảo liệng đi trong không gian, rơi xuống mặt hồ yên tĩnh. Quả là phải có một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thật sâu sắc thì Nguyễn Khuyến mới có thể cảm nhận được những âm thanh tinh tế, tưởng chừng như chẳng ai để ý đến như thế! Như trên đã nói: mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng vần “eo” nhưng tác giả không bị giới hạn mà đã mở rộng không gian theo chiều cao, tạo nên sự khoáng đạt, rộng rãi cho cảnh vật:

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Bầu trời thu xanh ngắt xưa nay vẫn là biểu tượng đẹp của mùa thu. Những áng mây không trôi nổi bay khắp bầu trời mà “lơ lửng”. Trước đây Nguyễn Du đã từng viết về mùa thu với:

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng

Nay Nguyễn Khuyến cũng thế. Mở ra không gian rộng, cảm hứng Nguyễn Khuyến lại trở về với khung cảnh làng quê quen thuộc cũng vẫn hình ảnh tre truc, vẫn bầu trời thu ngày nào, vẫn ngõ xóm quanh co…tất cả đều thân thương vè nhuốm màu sắc thôn quê Việt Nam. Chỉ đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta mới thấy được những nét quê tĩnh lặng, êm ả như vậy. Trời sang thu, không khí giá lạnh, đường làng cũng vắng vẻ. “Ngõ trúc quanh co” cũng “vắng teo” không bóng người qua lại. Sau này Xuân Diệu trong bài Đây mùa thu tới cũng đã bắt đựơc những nét điển hình đó của sông nước ở vùng quê, khi trời đã bắt đầu bước vào những ngày giá lạnh:

Những luồng run rẩy rung rinh lá…

… Đã nghe rét mướt luồn trong gió

Đã vắng người sang những chuyến đò

Cùng với: Cành biếc run run chân ý nhi (Thu)

Thế rồi trong cái không khí se lạnh đó của thôn quê, những tưởng sẽ không có bóng dáng của con người, ấy vậy mà thật bất ngờ đối với người đọc:

Tựa gối buông cần, lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Hai câu thơ kết thúc đã góp phần bộc lộ đôi nét về chân dung tác giả. Tôi nhớ không lầm dường như đã có tài liệu cho rằng: “tựa gối, ôm cần lâu chẳng được”, “ôm” chứ không phải là “buông”. Theo Việt Nam tự điển thì “buông” hay hơn, phù hợp với tính cách của nhà thơ hơn. Trong những ngày từ quan lui về ở ẩn, mùa thu câu cá, đó là thú vui của nhà thơ nơi làng quê để tiêu khiển trong công việc, để hoà mình vào thiên nhiên, mà quên đi những bận lòng với nước non, cho tâm hồn thanh thản. “Buông”: thả lỏng, đi câu không cốt để kiếm cái ăn (hiểu theo đúng nghĩa của nó), mà để giải trí, cho nên “ôm” không phù hợp với hoàn cảnh. Từ “buông” mang đến cho câu thơ hiệu quả nghệ thuật cao hơn.

Tóm lại, qua Thu điếu, ta phần nào thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với thiên nhiên, đối với cuộc sống: chỉ có những ao nhỏ, những “ngõ trúc quanh co”, màu xanh của bầu trời, cũng đã làm say đắm lòng người. Thì ra mùa thu ở thôn quâ chẳng có gì là xa lạ, mùa thu ở thôn quê chính là cái hồn của cuộc sống, cái duyên của nông thôn. Câu cuối này là thú vị nhất, vừa gợi được cảm giác, vừa biểu hiện đựơc cuộc sống ngây thơ nhất với sự việc sử dụng những âm thanh rất trong trẻo có tính chất vang ngân của những cặp vần, đã chiếm được cảm tình của độc giả, đã đọc qua một lần thì khó mà quên được.