Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Hay Của Nguyễn Bính Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Top Những Bài Thơ Hay Nhất Của Nguyễn Bính

Câu Nói Hay Về Ông Bà

Thơ Vui Về Con Trai

299+ Caption Hay Về Con Trai Ý Nghĩa Nhất Mọi Thời Đại

Tổng Hợp Những Bài Thơ Phật Giáo Ngắn Ấn Tượng Nhất Hiện Nay

Tự Hào Nữ Quân Nhân!

Nguyễn Bính có những bài thơ nào hay nhỉ?

Top những bài thơ hay nhất của Nguyễn Bính

Thơ Nguyễn Bính 1: Lỡ Bước Sang Ngang

Em ơi! em ở lại nhà

Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương

Mẹ già một nắng hai sương

Chị đi một bước trăm đường xót xa

Cậy em, em ở lại nhà

Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương

Hôm nay xác pháo đầy đường

Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng

Chuyến này chị bước sang ngang

Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây

Rượu hồng em uống cho say

Vui cùng chị một vài giây cuối cùng

Rồi đây sóng gió ngang sông

Đầy thuyền hận, chị lo không tới bờ

Miếu thiêng vụng kén người thờ

Nhà hương khói lạnh chị nhờ cậy em

Đêm qua là trắng ba đêm

Chị thương chị kiếp con chim lìa đàn

Một vai gánh lấy giang san…

Một vai nữa gánh muôn vàn nhớ thương

Mắt quầng tóc rối tơ vương

Em còn cho chị lược gương làm gì!

Một lần này bước ra đi

Là không hẹn một lần về nữa đâu

Cách mấy mươi con sông sâu

Và trăm ngàn vạn nhịp cầu chênh vênh

Cũng là thôi cũng là đành

Sang sông lỡ bước riêng mình chị sao?

Tuổi son nhạt thắm phai đào

Đầy thuyền hận, có biết bao nhiêu người!

Em đừng khóc nữa em ơi!

Dẫu sao thì sự đã rồi, nghe em!

Một đi bảy nổi ba chìm

Trăm cay nghìn đắng con tim héo dần

Dù em thương chị mười phần

Cũng không ngăn nổi một lần chị đi

Chị tôi nước mắt đằm đìa

Chào hai họ để đi về nhà ai

Mẹ trông theo, mẹ thở dài

Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran

Tôi ra đứng tận đầu làng

Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa…

Trời mưa ướt áo làm gì?

Năm mười bảy tuổi chị đi lấy chồng

Người ta pháo đỏ rượu hồng

Mà trên hồn chị một vòng hoa tang

Lần đầu chị bước sang ngang

Tuổi son sông nước đò giang chưa tường

Ở nhà em nhớ mẹ thương

Ba gian trống, một mảnh vườn xác xơ

Mẹ ngồi bên cửi xe tơ

Thời thường nhắc: “- Chị mày giờ ra sao?”

Chị bây giờ… nói thế nào?

Bướm tiên khi đã lạc vào vườn hoang

Chị từ lỡ bước sang ngang

Trời dông bão giữa tràng giang lật thuyền

Xuôi dòng nước chảy liên miên

Đưa thân thế chị tới miền đau thương

Mười năm gối hận bên giường

Mười năm nước mắt bữa thường thay canh

Mười năm đưa đám một mình

Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên

Mười năm lòng lạnh như tiền

Tim đi hết máu mà duyên không về

Nhưng em ơi! một đêm hè

Hoa xoan nở, xác con ve hoàn hồn

Dừng chân trên bến sông buồn

Nhà nghệ sĩ tưởng đò còn chuyến sang

Đoái thương thân chị lỡ làng

Đoái thương phận chị dở dang những ngày

Rồi… rồi chị nói sao đây?

Em ơi! nói nhỏ câu này với em…

Thế rồi máu trở về tim

Duyên làm lành chị duyên tìm về môi

Chị nay lòng ấm lại rồi

Mối tình chết đã có người hồi sinh

Chị từ dan díu với tình

Đời tươi như buổi bình minh nạm vàng

Tim ai khắc một chữ “nàng”

Mà tim chị một chữ “chàng” khắc theo

Nhưng yêu chỉ để mà yêu

Chị còn dám ước một điều gì hơn

Một lầm hai lỡ keo sơn

Mong gì gắn lại phím đờn ngang cung

Rồi đêm kia lệ ròng ròng

Tiễn đưa người ấy sang sông, chị về

Tháng ngày qua cửa buồng the

Chị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùa

Úp mặt vào hai bàn tay

Chị tôi khóc suốt ba ngày ba đêm

– Đã đành máu trở về tim

Nhưng khôn buộc nổi cánh chim giang hồ

Người đi xây dựng cơ đồ

Chị về giồng cỏ nấm mồ thanh xuân

Người đi khoác áo phong trần

Chị về may áo liệm dần nhớ thương

Hồn trinh ôm chặt chân giường

Đã cùng chị khóc đoạn trường thơ ngây

Năm xưa đêm ấy giường này

Nghiến răng nhắm mắt cau mày… cực chưa?

Thế là tàn một giấc mơ

Thế là cả một bài thơ não nùng

Tuổi son má đỏ môi hồng

Bước chân về đến nhà chồng là thôi

Đêm qua mưa gió đầy giời

Mà trong hồn chị có người đi qua

Em về thương lấy mẹ già

Đừng mong ngóng chị nữa mà uổng công

Chị giờ sống cũng bằng không

Coi như chị đã ngang sông đắm đò.

Lỡ bước sang nganglà câu chuyện về một người con gái bị mẹ cha bán gả cho người mà mình không yêu phải lên xe hoa từ năm mười bảy tuổi. Bỏ lại sau lưng mối tình đầu vừa chớm nở bỏ lại vườn dâu bỏ lại mẹ già người con gái ấy đi một chuyến đi định mệnh “Rồi đây sóng gió ngang sông/Đầy thuyền hận chị lo không tới bờ”.

Thơ Nguyễn Bính 2: Tâm Hồn Tôi

Tâm hồn tôi là bình rượu nhỏ

Rót lần rót mãi xuống nàng Oanh

Không xua tay nhưng nàng đã vô tình

Hất ly rượu hồn tôi qua cửa sổ…

Bài thơ là nỗi niềm của Nguyễn Bính khi đang thất tình. “Nàng Oanh” là người trong mộng của nhà thơ, nhưng nàng đã “hất ly rượu hồn tôi qua cửa sổ” mặc dù không xua tay. Cho thấy được tác giả bị tổn thương và buồn bã như thế nào trước lời cự tuyệt của nàng.

Thơ Nguyễn Bính 3: Hương Cố Nhân

Thuở trước loài hoa chửa biết cười

Vô tình con bướm trắng sang chơi

Khác nào tôi đã sang chơi đấy

Rước bướm dừng chân. Hoa hé môi.

Từ đấy loài hoa mới biết cười

Cũng như nàng mới biết yêu tôi

Hoa yêu dấu bướm cho nên bướm

Quả quyết yêu hoa đến trọn đời.

Ai dạy nàng yêu? Có phải là

Nào ngờ hư đến thế là hoa!

Hoa đi đón rước bao nhiêu bướm

Từ bướm xuân xanh đến bướm già.

Tôi chỉ thèm yêu lấy một lần

Có người đi giữa xứ mùa xuân

Thấy con bướm trắng bay thơ thẩn

Ý hẳn đi tìm hương cố nhân.

Thơ Nguyễn Bính 4: Hoa Với Rượu

Thấy rét u tôi bọc lại mền,

Cô hàng cất rượu ủ thêm men,

Mẹ cha mất sớm còn em nhỏ,

Say cả tư mùa cho khách quen.

Em nhỏ là Nhi, bạn nhỏ tôi,

Suốt ngày hai đứa nhẩn nha chơi .

Chị Nhi bán rượu đôi chiều chợ,

Vẫn nhớ mua quà cho cả đôi .

Hai đứa thường nhân buổi vắng nhà,

Người ta bắt chước chị người ta!

Ra vườn nhặt những hoa cam rụng,

Về bỏ đầy nồi cất nước hoa .

Nước hoa tuy chẳng thơm là mấy,

Hai đứa bôi đầy cả tóc nhau .

Hí hửng bảo nhau: “Thơm đấy chứ,

Nước hoa ngoài tỉnh thấm vào đâu!”

Một tối nhà Nhi có giỗ thầy,

Chị Nhi cho uống rượu cay cay,

Chừng đâu chén nhỏ làm hai đứa

Mặt đỏ lên rồi chếnh choáng say .

Hai đứa ôm nhau đánh giấc dài,

Bất đồ ngủ đến sáng ngày mai.

Chị Nhi cứ chế làm sao ấy,

Hai đứa nhìn nhau ngớ ngẩn cười.

Chị Nhi thường nói với u tôi:

“–Hai đứa, thưa bà, đến đẹp đôi!”

U tôi cười đáp ngay như thật:

“Tôi có nàng dâu giúp đỡ rồi!”

Thuở ấy làm sao thật thái bình,

Trai hiền bạn với gái đồng trinh.

Đời say men rượu thơm hoa rụng,

Tràn những thơ ngây, ngập cảm tình.

Ấy thế mà rồi cách biệt nhau,

Nhà Nhi không biết chuyển đi đâu .

Mình tôi giời bắt làm thi sĩ,

Mẹ mất khi chưa bạc mái đầu.

Bỏ lại vườn cam, bỏ mái gianh,

Tôi đi dan díu với kinh thành.

Hoa thơm mơ mãi vườn tiên giới,

Chuốc mãi men say rượu ái tình.

Rượu ái tình kia thành thuốc độc,

Vườn trần theo bướm phấn hương bay.

Đời tôi sa mạc, ôi sa mạc,

Hoa hết thơm rồi rượu hết say.

Trăm sầu nghìn tủi mình tôi chịu,

Ba bốn năm rồi năm sáu năm.

Khóc vụng mỗi lần tôi nhớ lại,

Men nồng gạo nếp nước hoa cam.

Xa lắm rồi Nhi! Muộn lắm rồi,

Bẽ bàng lắm lắm nữa Nhi ơi!

Từ ngày Nhi bỏ nơi làng cũ,

Mộng ngát duyên lành cũng bỏ tôi.

Chắc ở nơi nào dưới mái tranh,

Chị em Nhi vẫn sốn yên lành.

Chị Nhi cất rượu cho Nhi bán,

Hồn vẫn trong và mộng vẫn trinh.

Ngày xưa con bé Nhi còn đẹp,

Huống nữa giờ Nhi đã đến thì.

Tháng tháng mươi mười lăm buổi chợ,

Cho người thiên hạ phải say Nhi.

Xóm chị em Nhi ở mấy nhà?

Bến đò đông vắng? Chợ gần xa?

Nhà Nhi thuê có vườn không nhỉ?

Vườn có trồng cam có nở hoa?

Mơ tưởng vu vơ lòng dối lòng,

Thực ra có phải thế này không.

Chị Nhi đã lấy chồng năm trước,

Nhi đến năm sau lại lấy chồng?

Ước gì trên bước đường lưu lạc,

Một buổi chiều nào lạnh gió mưa,

Gõ cửa nhà ai xin ngủ trọ,

Giật mình tôi thấy tiếng Nhi thưa.

Ngồi bên lò rượu đêm hôm đó,

Nhi rót đưa tôi nước rượu đầu.

Nhắc lại ngày xưa mà thẹn lại,

Ngậm ngùi hai đứa uống chung nhau.

Tôi kể: “U tôi đã mất rồi,

Cửa nhà còn có một mình tôi …”

Nhi rằng: “Ngày trước u thường nói

Hai đứa mình trông đến đẹp đôi …”

“Chị em mới lấy chồng năm trước,

Chồng chị trồng cam ở mé sông.

Em ở mình đây nhà trống trải,

Trăng vàng đầy ngõ gió mênh mông …”

Như truyện Tương Như và Trác Thị

Đưa nhau về ở đất Lâm Cùng

Vườn xuân trắng xóa hoa cam rụng.

Tôi với em Nhi kết vợ chồng.

Rượu cất kỹ ngon, men ủ khéo,

Say người thiên hạ lại say nhau .

Chiều chiều hai đứa sang thăm chị,

Chồng hái hoa cho vợ giắt đầu.

Chao ôi! Là mộng hay là thực?

Là thực hay là mộng bấy lâu?

Hai đứa sống bằng hoa với rượu,

Sống vào trời đất, sống cho nhau.

Nhưng mộng mà thôi, mộng mất thôi,

Hoa thừa rượu ế, ấy tình tôi.

Xa rồi vườn cũ hoa cam rụng,

Gặp lại nhau chi muộn lắm rồi.

Đây là một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Bính. Hồn vẫn trong mà mộng vẫn Trinh, Trinh chứ không phải xinh. Hay Bến đò Đông Vắng, chứ không phải sông vắng…Đây là một siêu phẩm, đọc đi đọc lại đọc hoài vẫn không chán.

Thơ Nguyễn Bính 5: Viếng hồn trinh nữ

Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh

Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ,

Tôi thấy quanh tôi và tất cả

Kinh thành Hà Nội quấn khăn sô.

Nước mắt chạy quanh, tình thắt lại,

Giờ đây tôi khóc một người về,

Giờ đây tôi thấy lòng cay đắng,

Như có ai mời chén biệt li.

Sáng nay vô số lá vàng rơi,

Người gái trinh kia đã chết rồi.

Có một chiếc xe màu trắng đục,

Hai con ngựa trắng bước hàng đôi.

Đem đi một chiếc quan tài trắng,

Và những vòng hoa trắng lạnh người

Theo bước những người khăn áo trắng,

khóc hồn trinh trắng mãi không thôi.

Để đưa nàng đến nghĩa trang này,

Nàng đến đây rồi ở lại đây,

Ờ nhỉ! Hôm nay là mấy nhỉ

Suốt đời tôi nhớ mãi hôm nay…

Sáng nay, sau một cơn mưa lớn.

Hà Nội bừng lên những nắng vàng.

Có những cô nàng trinh trắng lắm,

Buồn rầu theo vết bánh xe tang.

Từ nay xa cách mãi mà thôi,

Tìm thấy làm sao được bóng người

Vừa mới hôm nào còn thẹn thẹn,

Tay cầm sáp đỏ để lên môi.

Chiếc áo màu xanh tựa nước hồ,

Nàng vừa may với gió đầu thu.

Gió thu còn lại bao nhiêu gió,

Chiếc áo giờ đây ở dưới mồ!

Chắc hẳn những đêm như đêm qua,

Nàng còn say mộng ở chăn hoa.

-Chăn hoa ướp một trời xuân sắc

Đến tận tàn canh, rộn tiếng gà.

Chắc hẳn những đêm như đêm kia,

Nửa đêm lành lạnh gió thu về,

Nàng còn thao thức ôm cho chặt

Chiếc gối nhung mềm giữa giấc mê.

Nhưng sáng hôm nay nàng lặng im,

Máu đào ngừng lại ở nơi tim.

Mẹ già xé vội khăn tang trắng

Quấn vội lên đầu mấy đứa em.

Người mẹ già kia tuổi đã nhiều,

Đã từng đau khổ biết bao nhiêu!

Mà nay lại khóc thêm lần nữa,

Nước mắt còn đâu buổi xế chiều?

Những đứa em kia chưa khóc ai,

Mà nay đã khóc một người rồi!

Mà nay trên những môi ngoan ấy,

Chả được bao giờ gọi: chị ơi!

Nàng đã qua đời để tối nay

Có chàng đi hứng gió heo may,

Bên hồ để mặc mưa rơi ướt,

Đếm mãi bâng quơ những dấu giày.

Người ấy hình như có biết nàng,

Có lần toan nói chuyện sang ngang,

Nhưng hồn nàng tựa con thuyền bé,

Đã cắm nghìn thu ở suối vàng.

Có gì vừa mất ở đâu đây?

Lòng thấy mềm như rượu quá say.

Hốt hoảng chàng tìm trong bóng tối

Bàn tay lại nắm phải bàn tay.

Chỉ một vài năm nữa, thế rồi

(Người ta thương nhớ có ngần thôi).

Người ta nhắc đến tên nàng để

Kể chuyện nàng, như kể chuyện vui.

Tôi với nàng đây không biết nhau

Mà tôi thương tiếc bởi vì đâu?

“Mới hay tự cổ bao người đẹp,

Chẳng hẹn trần gian đến bạc đầu”.

Thơ Nguyễn Bính 6: Thư cho chị

Viết cho chị cánh thư này

Một đêm lữ thứ em say rượu cần

Nhớ người cách một mùa xuân

Hình như người đã một lần sang sông

Ồ! Say! Thương nhớ vô cùng

Rượu hay lệ ướt khăn hồng chị ơi!

Làm sao giấc ngủ không dài

Sao đêm không ngắn, mà trời cứ mưa ?

Làm sao em sống như thừa

Cố đem men rượu tẩm vừa lòng đau

Kể từ hai đứa thôi nhau

Em thường chả có đêm nào không say

Sao em đơn chiếc thế này ?

Sao em lại khóc như ngày chị đi …?

Ở đây còn có vui gì!

Vườn dâu xa lắm! lối về chị xa

Con đường sang xóm Trữ La

Cách một ngày ngựa, cách ba ngày đò

Lúc này em nghĩ mà lo

Cứ thương nhớ mãi thì cho hết đời!

Hôm qua có chuyến đò xuôi

Toan về Hà Nội lại thôi không về

Em trồng được một cây lê

Hẹn bốn năm nữa thì về hái hoa

Nhưng là vườn đất người ta

Mình là khách trọ một vài đêm thôi

Sáng mai có lẽ em xuôi

Nếu không đãng trí và trời không mưa

Nhưng mà khăn gói gió đưa

Lại về Hà Nội thì chưa muốn về

Đò thuê, ngày ngựa cũng thuê

Sang nhìn qua kẻ lỗi thì sang sông

Ồ! Say! Thương nhớ vô cùng

Rượu hay lệ ướt khăn hồng chị cho?

Thơ của các tác giả kia đa phần thuộc dạng “thơ mới”, chỉ riêng Nguyễn Bính “một mình, một chiếu” với phong vị chân quê, đẹp như những bài ca dao, đồng dao thấm đẫm hương đồng gió nội và thấm đẫm cả tâm hồn lứa tuổi mới lớn.

Bài thơ của Nguyễn Bính 7: Hôn nhau lần cuối

Cầm tay anh khẽ nói:

Khóc lóc mà làm chi?

Hôn nhau một lần cuối

Em về đi, anh đi …

Rồi một hai ba năm,

Danh thành anh trở lại,

Với em anh chăn tằm,

Với em anh dệt vải.

Ta sẽ là vợ chồng,

Sẽ yêu nhau mãi mãi.

Sẽ se sợi chỉ hồng,

Sẽ hát câu ân ái.

Anh và em sẽ sống

Trong một mái nhà tranh.

Lấy trúc thưa làm cổng,

Lấy tơ liễu làm mành.

Nghe lời anh em hỡi!

Khóc lóc mà làm chi?

Hôn nhau một lần cuối,

Em về đi, anh đi…

Bài Thơ của Nguyễn Bính 8: Nhớ

Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ

Em thử quay xem được mấy vòng

Vì chăng nhớ có như vừng nhỉ

Em thử lào xem được mấy thưng!

Anh ơi! Em nhớ em không nói

Nhớ cứ đầy lên cứ rối lên

Từ đấy về đây xa quá đỗi

Đường đi bằng ngựa hay bằng thuyền?

Gieo thoi gieo thoi lại gieo thoi

Nhớ nhớ mong mong mãi mãi rồi

Thoi ạ làm sao thoi lại cứ

Đi về giăng mắc để trêu tôi?

Hôm qua chim khách đậu trên cành

Kêu mãi làm em cứ tưởng anh

Nội nhật hôm qua về tới bến

Ai ngờ chim khách cũng không linh!

Anh bốn mùa hoa em một bề

Anh muôn quán trọ, em thâm khuê

May còn hơn được ai sương phụ

Là nhớ người đi có thể về.

Nguyễn Bính là nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám. Giữa những giọng điệu mới lạ, thơ Nguyễn Bính vẫn giữ được âm hưởng gân gũi với ca dao dân ca, giản dị hồn nhiên mà ngọt ngào, thắm thiết.

Bài thơ của Nguyễn Bính 9: Bài Thơ Quê Hương

Trải nghìn dặm trời mây bạn tới.

Thăm quê tôi, tôi rất đỗi vui mừng!

Bạn nán lại cùng tôi thêm buổi nữa.

Để tôi xin kể nốt chuyện quê hương.

…Quê hương tôi có cây bầu cây nhị

Tiếng “đàn kêu tích tịch tình tang…”

Có cô Tấm náu mình trong quả thị,

Có người em may túi đúng ba gang.

Quê hương tôi có ca dao tục ngữ,

Ông trăng tròn thường xuống mọi nhà chơi.

Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ,

Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi.

Con chim nhỏ cũng đau hồn nước mất

“Cuốc cuốc” kêu rỏ máu những đêm vàng

Chân ngựa đá cũng dính bùn trận mạc.

Theo người đi cứu nước chống xâm lăng.

Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu

Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa, trả thù chung.

Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến,

Hưng Đạo vương đã mở hội Diên Hồng.

Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm,

Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo.

Có Nguyền Trãi, có “Bình Ngô đại cáo”.

Có Nguyễn Du và có một “Truyện Kiều”.

Quê hương tôi có Trường Sơn một dải,

Có Hồng Hà lại có Cửu Long Giang

Có Hà Nội có hồ Tây, hồ Kiếm.

Chợ Đồng Xuân bày đủ mặt hàng.

Quê hương tôi có sầu riêng, măng cụt

Lòng bưởi đào, lòng gấc đỏ như son.

Có gạo tám xoan thổi nồi đồng điếu,

Cam xã Đoài ai bóc cũng thơm ngon.

Cánh đồng nào cũng chôn vàng giấu bạc,

Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu.

Có thanh quế ngửi qua là khỏi bệnh,

Có cây lim đóng cả một thân tầu.

Quê hương tôi có những người con gái

“Một ngày hai bữa cơm đèn…”

Cách sông cái cũng bắc cầu dải yếm,

Cho chàng sang đính ước chuyện nhân duyên.

Trong bụng mẹ đã từng mê tiếng hát;

Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ.

Những trẻ nhỏ nằm nôi hay đặt võng,

Sớm hay chiều, đều mượn cánh cò đưa.

Khi có giặc những tre làng khắp nước,

Đều xả thân làm ngọn mác, mũi chông,

Những trai gái thôn Đông, xóm Bắc

Thoắt vươn vai thành những anh hùng…

Quê tôi đó – bạn ơi! – là thế đó.

Mà nghìn năm rặt những tiếng kêu thương

Sung sướng làm sao! Bỗng một ngày: có Đảng

Có Bác Hồ, làm sống lại quê hương.

Đánh Nhật, đuổi Tây cứu dân, dựng nước

Hai mươi năm kể biết mấy công trình!

Và từ đây, núi sông và cuộc sống.

Và quê hương mới thực sự của minh.

Cuộc đời mới con người cũng mới,

Khắp bốn phương lộng lẫy ánh sao cờ,

“Đoàn quân Việt Nam đi… chung lòng cứu quốc…”

Đầu ngẩng cao từ cách mạng mùa thu.

Những xiềng xích nghìn năm đều bẻ gãy.

Những bài ca điệu múa lại vui tươi.

Những trận khóc đêm dài không có nữa.

Thành thị nông thôn rộn rã tiếng cười.

Trong luỹ tre xanh vui mùa hợp tác,

Mái ngói nhô lên như những nụ hoa hồng.

Chung ruộng, chung trâu, chung lòng, chung sức

Chung con đường gặt lấy ấm no chung.

Trong xưởng máy tưng bừng như đám hội.

Những chủ nhân là chính những công nhân.

Tiếng máy reo chen tiếng cười tiếng hát,

Chẳng còn đâu tiếng chủ thét, cai gầm!

Những nhà thơ được tự do ca ngợi,

Quê hương. Tổ quốc, con người…

Và đời sống khỏi túng, nghèo, đói, khổ.

Khỏi bị ai khinh rẻ, dập vùi!

Đời trước thường mơ chuyện tiên, chuyện Phật,

Truyện thiên đường trong những cõi hư vô…

Đời nay dựng thiên đường trên mặt đất,

Dựng mùa xuân trong tất cả bốn mùa.

Khi con người được tự do giải phóng.

Đất rộng hơn mà trời cũng xanh hơn.

Quả trên cành cũng thêm ngon, thêm ngọt,

Hoa trong vườn cũng thêm sắc, thêm hương.

Và ý nghĩa những ca dao, tục ngữ

Ngày càng thêm thắm thiết, ngọt ngào.

Và “Truyện Kiều” mới có chân giá trị,

Và Nguyễn Du mới thành đại thi hào.

Thửa ruộng cũ cấy thêm mùa lúa mới,

Khung trời quê mọc những nóc lò cao.

Dây “cao thế” đã chăng dài khắp nẻo,

(Xóm làng tôi điện sẽ át trăng sao).

Những gỗ tốt đã dựng câu lạc bộ,

Gạo tám xoan thơm bếp lửa nhân dân.

Những cô Tấm tự tay xây hạnh phúc

Chẳng phải gian nan hoá kiếp mấy lần.

Và lớp lớp những anh hùng xuất hiện.

Sức thanh niên: sức Phù Đổng là đây!

Đẩy biển lùi ra, ngăn sông đứng lại,

Khẩu súng trường cũng hạ nổi máy bay.

Hội Diên Hồng thôn xã nào cũng mở,

Chuyện “kháng chiến trường kỳ” ai cũng nhớ nhập tâm.

“Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”

Câu ấy giờ đây đã đúng cả trăm phần.

Đảng cùng dân đã viết thêm lịch sử,

Lửa Điện Biên sáng dậy cả trăm năm.

Lửa Ấp Bắc, Chu Lai cũng bừng rực rỡ,

Lửa chiến công đang chói lọi miền Nam.

Khi có Đảng, có Bác Hồ lãnh đạo;

Có truyền thống cha ông để lại tự bao đời.

Thì đánh Mỹ nhất định là phải thắng

Chuyện ấy, quê tôi, thành chuyện dĩ nhiên rồi.

***

Câu chuyện quê tôi, sơ sài mấy nét.

Bạn trở về xin kể mọi người hay.

Riêng phần tôi có thơ này tặng bạn,

Tặng quê mình, nhân dịp tết năm nay.

Bài thơ này nói lên tâm trạng khắc khoải chờ mong của một chàng trai nhớ lại quê hương của mình. Bài thơ được đặt vào khung cảnh nông thôn với dáng dấp một mối tình chân chất như trong ca dao và mang hương vị đồng quê mộc mạc…

Thơ hay của Nguyễn Bính 10: Bạch Đào

Tình cờ không hẹn bỗng mà nên

Một buổi đầu năm tếtKỷ Hợi

Cónăm người bạnbếnsông Hoàng

Gặp nhau uống rượu mừng năm mới

Chuyện thơ chuyện phú, chuyện non sông

Chuyện trước chuyện sau thật sôi nổi

Bỗng nhiên Hiếu Lang vỗ đùi khoe:

Đệ có cây đào hoa mới bói

Giống đào thật quý nhất xưa nay

Cánh trắng, bông to, sương tuyết gội…

Chợt nghe hoa quý nở vườn xuân

Bỏ ngay câu chuyện, lòng phơi phới

Nửa đêm đội mưa ra đi ngay

Quản chi nhà xa đường ướt lội

Như có người yêu hé cửa chờ

Như có bạn cũ đốt trầm đợi

Nhớ lại thời xưa Bất Thượng Thuyền

Lý Bạch nằm say không trở gối

Vì hoa nên phải đánh đường tìm

Đây phải chín tầng đem chiếu gọi

Đến nơi mở cửa, đốt đèn lên

Kẻ trước người sau bước vồi vội

Ra méTây Viên, tới gốc đào

Lặng ngắm hoa cười, im chẳng nói

Tất cả cùng chung nhớ một câu:

Hoa lưu động khẩu ưng trường tại

Khách nhân cao hứng đề thơ này.

Thơ hay của Nguyễn Bính 11: Bắt gặp mùa thu

Xơ xác hồ sen đã nhạt hương

Bên song hoa lựu cũng phai hường

Sớm mai lá úa rơi từng trận

Bắt gặp mùa thu khắp nẻo đường

Tóc liễu hong dài nỗi nhớ nhung

Trăng nghiêng nửa mái gội mơ mòng

Sầu nghiêng theo cánh chim lìa tổ

Biết lạc về đâu lòng hỡi lòng

Thu về sông núi bỗng tiêu sơ

Cây rũ vườn xiêu, cỏ áy bờ

Xử nữ đôi cô buồn tựa cửa

Nghe mùa gió lạnh cắn môi tơ

Sương phủ lưng đồi rặng núi xa

Thương ôi! Lữ khách nhớ quê nhà

Mấy thu mưa gió ngoài thiên hạ

Vườn cũ còn chăng cúc nở hoa?

Cha già ngừng chén biếng ngâm thơ

Đưa mắt nhìn theo hút dặm mờ

Xe ngựa người về tung cát bụi

Con mình không một lá thư đưa

Nghìn lạy cha già lượng thứ cho

Trót thân con vướng nợ giang hồ

Lòng son bán rẻ vào sương gió

Lãi được gì đâu? Đã mấy thu!

Một chút công danh rất hão huyền

Và dang dở nữa cuộc tình duyên

Thu sang, quán lẻ con đăm đắm

Rõi bóng quê nhà mắt lệ hoen.

Thơ hay của Nguyễn Bính 12: Bướm nói điêu

Em thấy đời em trống trải nhiều

Vì đời em chả có ai yêu

Đời em là một vườn hoa nở

Bướm hẹn về, rồi bướm nói điêu…

“Nói Điêu” tức là nói dối. Tác giả mượn hình ảnh con bướm để chỉ về người con gái “đời em chả có ai yêu”, thể hiện nỗi niềm muốn được yêu của một người phụ nữ, muốn được như bao cô gái khác trên đời.

Thơ hay của Nguyễn Bính 13: Cái quạt

Cái quạt mười tám cái nan

Anh phất vào đấy muôn vàn nhớ nhung

Gió sông, gió núi, gió rừng

Anh niệm thần chú thì ngừng lại đây.

Gió Nam Bắc, gió Đông Tây

Hãy hầu công chúa thâu ngày, thâu đêm

Em ơi công chúa là em

Anh là quan trạng đi xem hoa về

Trên giời có vẩy tê tê

Đôi bên ước thề duyên hãy tròn duyên

Quạt này trạng để làm tin

Đêm nay khép mở tình duyên với nàng.

Từ ngàn xưa, trên các làng quê Việt Nam đã có nhiều nghệ nhân làm quạt. Nhiều nhất là ở vùng quê Bắc Bộ. Đã có nhiều làng nghề làm quạt phát triển gắn bó cùng với những thăng trầm của quê hương. Đặc biệt, quạt đã trở thành hình tượng văn hóa nghệ thuật và ăn sâu vào đời sống văn hóa con người Việt Nam qua các câu chuyện cổ tích, thơ ca, hò vè, chẳng hạn như chuyện Thằng Bờm là một ví dụ. Bài thơ này Nguyễn Bính cũng cho ta thấy được hình ảnh cái quạt gần gũi, thân quen, nhưng lại mượn nó để nói về nỗi nhớ người yêu.

Thơ hay của Nguyễn Bính 14: Chiều thu

Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ,

Mùi hoa thiên lý thoảng chiều thu.

Con cò bay lả trong câu hát,

Biấc trẻ say dài nhịp võng ru.

Lá thấp cành cao gió đuổi nhau,

Góc vườn rụng vội chiếc mo cau.

Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác,

Đàn kiến trường chinh tự thủa nào.

Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non,

Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con.

Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín,

Điểm nhạt da trời những chấm son.

Hai cánh chia quân chiếm mặt gò,

Bê con đùa mẹ bú chưa no.

Cờ lau súng sậy giam chân địch,

Trận Điện Biên này lại thắng to.

Sông đỏ phù sa, nước lớn rồi,

Nhà bè khói bếp lững lờ trôi.

Đường mòn rộn bước chân về chợ,

Vú sữa đẫy căng mặt yếm sồi.

Thong thả trăng non dựng cuối làng,

Giữa nhà cây lá bóng xiên ngang.

Chiều con, cặm cụi đôi ngày phép,

Ngồi bẻ đèn sao, phất giấy vàng.

Ai đọc thơ của nhà thơ Nguyễn Bính mà không thấy cái độc đáo của hồn dân tộc đã ấp ủ trong thơ của ông, hay nói cách khác Nguyễn Bính đã đưa hồn dân tộc vào thi ca Việt nam hiện đại.

Thơ hay của Nguyễn Bính 15: Chờ

Hẹn cho một hẹn, anh chờ

Em may áo nái bao giờ cho xong

Lạy giời, tắt gió ngang sông

Qua đò biếu áo yên lòng em tôi.

Chị anh đi lấy chồng rồi.

Anh mong tằm tốt bằng mười mọi năm.

Nguyễn Bính là người đã góp công rất lớn vào nền văn học Việt Nam, những câu thơ giản dị, bình dân đã làm cho người đọc, khi đọc lên chỉ một lần đã thấy lòng mình lâng lâng giao cảm, dễ đọc, dễ mến và nhất là dễ thuộc. Nhưng có ai ngờ được rằng Nguyễn Bính lại có một cuộc sống lãng mạn và giang hồ giống như thơ của ông.

Thơ hay của Nguyễn Bính 16: Con tằm

Tôi rút ruột nhả dòng tơ óng mượt

Hôm nay đây dệt áo với thêu cờ.

Cờ non sông bay lộng giữa trời thu,

Sao sáng mọc, sắc tơ vàng óng ánh,

Áo lụa ấm những ngày đông giá lạnh.

Uốn xiêm tơ nhịp múa hội xuân lành,

Tôi âm thầm trong đống lá dâu xanh,

Nằm gọn ghẽ giữa lòng tơ vấn vít.

Tôi mải miết (cho dù tôi sẽ chết)

Tôi nhảy vào nước lửa để dâng tơ,

Nồi ươm sôi, khói nước tỏa sương mờ…

Người hãy gắng quay tơ và dệt lụa.

Xin hiển trọn cuộc đời tôi bé nhỏ

Cho cờ thiêng, cho áo ấm, cho người.

Xót xa thay! Xưa họ lấy hồn tôi,

Xe những sợi tơ đàn kỹ nữ,

Mê hát xướng, những chàng tuấn tú,

Đêm liền đêm rượu thịt say sưa.

Họ dệt tôi thành những tấm khăn tơ

Thêu nắn nót đôi trái tim rớm máu,

Mũi tên cắm, gửi tặng người yêu dấu.

Họ lại may thành những tấm long bào,

Khoác lên mình những kẻ ngự ngôi cao

Chuyên vui sướng trên máu xương trăm họ.

Kẻ quyền quý cắt tôi từng mảnh nhỏ,

May áo quần, xếp chặt những rương son.

Mà dân gian thì rét mướt gầy mòn

Quần áo vải rách bươm như mớ giẻ,

Tôi đã sống phí mùa xuân tuổi trẻ,

Oan dâu xanh mà uổng cả tơ vàng,

Làm trò chơi cho một bọn giàu sang,

Đem thiên hạ vùi sâu vòng khổ não…

Cách mạng nổi, một mùa thu gió bão

Gông ách xưa đều đổ gãy tan tành,

Tôi, con tằm, ăn những lá dâu xanh,

Của dân tộc do mồ hôi nước mắt

Bao dân lành trần cánh tay cuốc đất

Để nuôi tôi, tôi xin nhả tơ vàng,

Đây dòng tơ từ buổi gió thu sang!

Người hãy gắng quay tơ mà dệt lụa.

Xin hiến trọn cuộc đời tôi bé nhỏ

Cho cờ thiêng, cho áo ấm, cho người.

Thơ hay của Nguyễn Bính 17: Gái xuân

Em như cô gái hãy còn xuân,

Trong trắng thân chưa lấm bụi trần,

Xuân đến, hoa mơ, hoa mận nở.

Gái xuân giũ lụa trên sông Vân.

Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng.

Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng,

Đôi tám xuân đi trên mái tóc.

Đêm xuân cô ngủ có buồn không?

Mùa xuân là mùa của lễ hội, mùa của đôi lứa hẹn hò, trao nhau những lời hẹn ước. Mùa xuân cũng là mùa của cảm xúc thơ ca, thăng hoa trong tâm hồn các thi sĩ. Nếu như mùa xuân trong thơ Xuân Diệu đẹp đến vô thực, nồng cháy đến khiến ta say mê, điên cuồng muốn chiếm hữu thì mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính lại hoàn toàn khác. Với “Gái Xuân”, mùa xuân của Nguyễn Bính cũng đậm chất giản dị, thanh bình của làng quê Việt Nam như chính tâm hồn ông vậy!

Thơ của Nguyễn Bính 18: Hành phương Nam

Đôi ta lưu lạc phương Nam này

Trải mấy mùa qua én nhạn bay

Xuân đến khắp trời hoa rượu nở

Mà ta với người buồn vậy thay

Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu

Mà không uống cạn mà không say

Lời thề buổi ấycầu Tư Mã

Màáo khinh cừukhông ai may

Người giam chí lớn vòng cơm áo

Ta trí thân vào nợ nước mây

Ai biết thương nhau từ buổi trước

Bây giờ gặp nhau trong phút giây

Nợ thế chưa trả tròn một món

Sòng đời thua đến trắng hai tay

Quê nhà xa lắc, xa lơ đó

Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc

Ly tán vì cơn gió bụi này

Người ơi buồn lắm mà không khóc

Mà vẫn cười qua chén rượu đầy

Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết

Ngày mai ra sao rồi hãy hay

Ngày mai có nghĩa gì đâu nhỉ?

Cốt nhất cười vui trọn tối nay

Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn

Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay

Hỡi ơiNhiếp Chínhmà băm mặt

Giữa chợai người khócnhận thây

Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén

Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay?

Mơ gìấp Tiếtthiêu văn tự

Giày cỏ gươm cùn ta đi đây

Ta đi nhưng biết về đâu chứ?

Đã đẩy phong yênlộng bốn trời

Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ

Uống say mà gọi thế nhân ơi!

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ

Ta với nhà ngươi cả tiếng cười

Dằn chén hất cao đầu cỏ dại,

Hát rằng phương Nam ta với ngươi.

Ngươiơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!

Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!

Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh,

Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi…

Thơ của Nguyễn Bính 19: Hết bướm vàng

Anh trồng cả thảy hai vườn cải

Tháng chạp, hoa non nở cánh vàng.

Lũ bướm láng giềng đang khát nhuỵ

Mách cùng gió sớm rủ rê sang.

Qua dậu tầm xuân, thấy bướm nhiều

Bướm vàng vàng quá, bướm yêu yêu,

Em sang bắt bướm vườn anh mãi

Quên cả làng Ngang động trống chèo.

Cách có một hôm em chẳng sang

Hôm nay rã đám ở làng Ngang

Hôm nay vườn cải, hoa tàn hết

Em hỡi từ nay hết bướm vàng!

Năm sau vườn cải nở hoa vàng

Bướm lại sang mà em chẳng sang

Thui thủi một mình anh bắt bướm

Trống trèo thưa thớt đám làng Ngang.

Em đã sang ngang với một người

Anh còn trồng cải nữa hay thôi?

Đêm qua mơ thấy hai con bướm

Khép cánh tình chung ở giữa trời.

Thơ của Nguyễn Bính 20: Mắt nhung

Bao năm đi giữa kinh thành

Bao năm lẻ bóng, lẻ hình, lẻ đôi.

Cả kinh thành có những ai?

Cả kinh thành có một người mắt nhung!

Người ơi cứu vớt tôi cùng

Dành đôi mắt đẹp cho lòng rất đơn

Tôi còn mơ ước gì hơn!

Hai tay người chắp phím đờn cho tôi

Phải chăng tôi đã yêu rồi?

Hồn xin qùi dưới mắt người từ đây

Đêm qua buồn quá tôi say

Đã mơ một giấc mơ đầy mắt nhung!

Thơ của Nguyễn Bính 21: Màu tím Huế

Thôi thế là em cách biệt rồi!

Đường đi mỗi bước lại xa xôi

Tim tím rừng chiều, tim tím núi

Tim tím chiều hôm, tim tím mai

Ban chiều tim tím nhớ mong nhau

Đêm tối kìa em tím rất nhiều

Anh cúi xuống hôn màu tím giấy

Thư về em, tím nét thương đau

Mai mốt rồi đây lầm cát bụi

Anh lại đường xa trải kiếp người

Tim tím rừng chiều, tim tím núi

Chiều hôm nhiều tím thế em ơi!

Thơ của Nguyễn Bính 22: Mùa đông đan áo

Đã quyết không… không… được một ngày

Rồi yêu mất cả buổi chiều nay

Chiều nay bướm trắng ra nhiều quá!

Không biết là mưa hay nắng đây?

Lâu nay tôi thấy ở lòng tôi

Như có tơ vương đến một người

Người ấy, nhưng mà tôi chả nói

Tôi đành ngậm miệng nữa mà thôi.

Tôi quen ngậm miệng với tình xưa

Tình đã sang sông đã tới bờ

Tình đã trao tôi bao oán hận

Và đem đi cả một thuyền mơ.

Mơ có năm năm đã vội tàn,

Có nàng đan mãi áo len đen.

Có nàng áo đỏ đi qua đấy,

Hương đượm ba ngày hương chưa tan.

Mà hương đượm mãi ở hồn tôi,

Tôi biết là tôi yêu mất rồi!

Tôi biết từ đây tôi khổ lắm,

Chiều nay gió lạnh đấy, nàng ơi!

Tất cả mùa đông đan áo len

Cho người cho tất cả người quen

Còn tôi người lạ, tôi người lạ,

Có cũng nên mà không cũng nên.

Oán đã bao la, hận đã nhiều

Cớ sao tôi vẫn chả thôi yêu?

Tôi đi mãi mãi con đường ấy

Qua lại hôm nay, sáng lại chiều.

Thơ của Nguyễn Bính 23: Mùa xuân xanh

Mùa xuân là cả một mùa xanh

Giời ở trên cao, lá ở cành

Lúa ở đồng tôi và lúa ở

Đồng nàng và lúa ở đồng anh.

Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh

Tôi đợi người yêu đến tự tình

Khỏi luỹ tre làng tôi nhận thấy

Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.

Thơ của Nguyễn Bính 24: Mưa xuân (II)

Chiều ấm mùi hương thoảng gió đưa

Tà tà mưa bụi rắc thưa thưa

Cây cam cây quít cành giao nối

Lá ngửa lòng tay hoa đón mưa.

Nào ai nhìn thấy rõ mưa xuân

Tơ nhện vừa giăng sợi trắng ngần

Bươm bướm cứ bay không ướt cánh

Người đi trẩy hội tóc phơi trần.

Đường mát da chân lúa mát mình

Đôi bờ cỏ dại nở hoa xanh

Gò cao đứng sững trâu kềnh bụng

Nghếch mõm nghe vang trống hội đình.

Núi lên gọn nét đá tươi màu

Xe lửa về Nam chạy chạy mau

Một toán cò bay là mặt ruộng

Thành hàng chữ nhất trắng phau phau.

Bãi lạch bờ dâu sẫm lá tơ

Làng bên ẩm ướt giọng chuông mờ

Chiều xuân lưu luyến không đành hết

Lơ lửng mù sương phảng phất mưa.

Thơ của Nguyễn Bính 25: Nàng đi lấy chồng

Hôm nay ăn hỏi tưng bừng

Ngày mai thì cưới, độ chừng ngày kia

Nàng cùng chồng mới nàng về

Rồi cùng chồng mới nàng đi theo chồng

Tôi về dạm vợ là xong

Vợ người làng, vợ xóm Đông quê mùa

Vợ tôi không đợi, không chờ

Không nhan sắc lắm, không thơ mộng gì

Lấy tôi bởi đã đến thì

Lấy tôi không phải bởi vì yêu tôi

Hôm nay tôi lấy vợ rồi

Từ đây tôi sẽ là người bỏ đi

Pháo ơi, mày nổ làm gì?

Biến ra tất cả pháo xì cho tao!

Thơ của Nguyễn Bính 26: Nhớ người trong nắng

Hà Nội có hồ loạn tiếng ve,

Nắng dâng làm lụt cả trưa hè,

Năm xưa, một buổi đang mưa lụt

Tôi tiễn chân người sang biệt ly.

Từ buổi về đây, sầu lại sầu

Người xa vời quá, ai thương đâu!

Tôi đi ngửa mặt trên hè vắng

Xem những cành cây nó cưới nhau.

Nhớ nhung trắng xoá cả mây trời,

Trắng xoá hồn tôi, ai nhớ tôi?

Hoa cuối cùng xoan rồi rụng hết

Lấy gì phảng phất được màu môi?

Có một trai hiền, một gái xinh

Ngang qua, chừng giữa chuyện ân tình

Trai cười: “Bữa ấy mình toan giữ

Mãi dấu môi son giữa má mình…”

Cây bỗng thưa dần, bóng dãn ra

Quanh tôi chỉ thấy nắng chan hoà,

Hồn này lãng đãng trôi trong nắng

Cho được trôi về bến Trữ La!

Thơ của Nguyễn Bính 27: Oan nghiệt

Hôm nay bắt được thư Hà Nội

Cho biết tin Dung đã đẻ rồi

Giờ Sửu, tháng ngâu, ngày nguyệt tận

Bao giờ tôi biết mặt con tôi?

Nào xem thử đoán tên con gái

Oanh, Yến, Đào, Trâm, Bích, Ngọc, Hồi?

Tôi biết vô tình Dung lại muốn

Con mình mang lấy nghiệp ăn chơi.

Ngọc nữ trót sinh vào tục luỵ

Đời con rồi khổ đấy con ơi!

Mẹ con đeo đẳng nghề ca xướng

Nuôi được con sao, giời hỡi giời!

Mẹ con chỉ đợi hồng đôi má

Chỉ đợi chiều xuân kia thắm tươi

Hôn con một chiếc, hay là khóc

Rồi gửi cho người thiên hạ nuôi.

Mẹ con nịt vú cho tròn lại

Chiều cái hoang đàng lũ khách chơi.

Đời cha lưu lạc quê người mãi

Kiếp mẹ đêm đêm bán khóc cười.

Có mẹ, có cha mà đến nỗi

Miệng đời mai mỉa gái mồ côi.

Vài ba năm nữa, con khôn lớn

Uốn lưỡi làm sao tiếng “mẹ ơi!”

Đời em xuống dốc, tôi lên dốc

Nào có vui gì, khổ cả đôi.

Sương chiều, gió sớm, bao đơn chiếc

Bướm lại, ong qua, mấy ngậm ngùi?

Sắt son một chuyến trăng còn sáng

Tâm sự đôi dòng nước chảy xuôi.

Cỏ bồng trở lại kinh kỳ được

Hoa đợi hay bay xứ khác rồi.

Vô khối ngọc trong the thắm đấy

Dung còn chung thuỷ nữa hay thôi?

Rồi có một đêm, màn rủ thấp

Ngã vào tay một khách làng chơi.

Em có nghĩ rằng trong hắt hủi

Con mình trằn trọc cánh tay ai?

Em có nghĩ rằng trong quán trọ

Đầu tôi lại gối cánh tay tôi?

Cha mẹ đã không nuôi dạy được

Con là phận gái, hạt mưa sa

Chân bùn, tay lấm hay hài hán

Hay lạiBình Khang, lại nguyệt hoa

Cành đưa, lá đón theo đòi mẹ

Phách ngọt, đàn hay tục xướng ca

Cha lo ngại lắm là con gái

Chẳng có bao giờ biết mặt cha

Con mười sáu, bảy xuân đương độ

Cha bốn, năm mươi chửa trót già.

Cha buồn tiễn khách hơi thu quạnh

Con thẹn che đàn nửa mặt hoa.

Chàng chàng, thiếp thiếp, vui bằng được

Bố bố, con con, chẳng nhận ra

Một lứa lên giời chung lận đận

Thương nhau, cha soạn khúc “Tỳ bà”

Áo xanh mà ướt vì đêm ấy

Tội nghiệp đời con, xấu hổ cha.

“Khóm cúc tuôn đôi dòng lệ cũ

Con thuyền buộc một mối tình nhà…”

Giờ đây cha khóc mà thương nhớ

Gửi vọng về con một chiếc hôn.

Tiền, cha không đủ hoàn lương mẹ

Còn lấy đâu mà nuôi nấng con?

Thôi cha cầu chúc cho con gái

Mắt chớ lưu cầu, môi chớ son

Càng tài sắc lắm càng oan nghiệt

“Bảy nổi ba chìm với nước non”

Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ

Nghèo lắm, con ơi! Bạc lắm con!

Ở đây, cha khóc mà thương nhớ

Đất Huế dầm mưa mấy tháng tròn…

Thơ của Nguyễn Bính 28: Quê tôi

Quê tôi có gió bốn mùa

Có giăng giữa tháng, có chùa quanh năm.

Chuông hôm, gió sớm, giăng rằm:

Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi.

Tôi về đây, đã lâu rồi,

Nằm trong cô tịch nhớ người phồn hoa

Tóc tơ, mình liễu da ngà,

Một người càng nhớ, càng xa một người

Ngày trông mây trắng bay hoài,

Đêm mơ áo trắng bay dài năm canh

Lòng vàng lạc cánh chim xanh,

Lạc từ cái ý chung tình lạc đi.

Chẳng điên chẳng dại là gì.

Bổng dưng mà biệt mà ly mọi người.

Chưa xa đã nhớ nhau rồi.

Nữa là hơn một tháng giời xa nhau.

Người đi nghỉ mát những đâu,

Đồ Sơn, Tam Đảo, nhà lầu xe hơi:

Ở đây, tôi chỉ đợi giời,

Mưa vàng một trận là tôi lên đường.

Sông ngang, núi trái bất thường,

Buồng the chẳng xót dậm trường thì thôi.

Mai ngày tôi bỏ quê tôi,

Bỏ giăng, bỏ gió, chao ôi! bỏ chùa.

Đem thân đi với giang hồ,

Sân ga phẳng lặng, bến đò lênh đênh.

Quê hương chẳng nhớ cũng đành,

Cũng xin dâng cả chân tình cho ai.

Năm năm mây trắng bay hoài,

Hồn tôi áo trắng tang dài đêm đêm.

Thơ của Nguyễn Bính 29: Trở Về Quê Cũ

Đi đã mười năm mới trở về

Tâm tình tràn ngập bước đường quê

Nghe sao nao nức như hồi trẻ

Níu áo theo cha buổi hội hè!

Dãy núi Trang Nghiêm đứng chống trời

Mười năm núi vẫn đợi chờ tôi

Sườn cao rêu phủ xanh đồn giặc

Tôi đã về đây: núi mỉm cười!

Ruộng vỡ đường cày, ngõ trải rơm

Phải đây Văn Miếu lối vào thôn?

Đi lâu quên cả màu hoa đại

Quên cả mùi hương gạo tám thơm!

Ngõ xuống bờ ao chơi ú tìm

Nhà em hàng xóm biết đâu tìm?

Biết đâu vườn táo cành sai quả

Giếng đá trăng vàng đâu bóng em?

Một cơn khói lửa mấy tơi bời

Cảnh cũ làng xưa khác cả rồi

Ngước mắt trông lên trời cũng lạ

Nhà ai đây chứ phải nhà tôi!

Hỏi tên nhận mặt nhớ ra rồi

Mừng tủi bâng khuâng khóc lẫn cười

Trẻ xóm mười năm giờ lớn bổng

Mười năm mất mát biết bao người…

Mẹ cha khuất núi mấy thu tròn

Vườn táo cô mình đã bốn con

Nhớ thuở hội xuân chèo dóng trống

Xin mình giấy đỏ đánh môi son

Nháo nhác đầu hồi chim sẻ kêu

Mưa thưa trắng lạnh nửa ao bèo

Sửa sai câu chuyện với trầu mặn…

Giọng kể cô tôi nặng bóng chiều!

. . . . . . . . . . . . . . . . . .

Đất nước qua bao trận mất còn

Vàng son vẫn vẹn giá vàng son

Cô mừng trẻ lại năm mười tuổi,

Chẳng uổng công mình, xương máu con.

Xuân này vui tết lại vui quê

Lại chuyện làm ăn, chuyện hội hè,

Xanh biếc đầu xuân nương mạ sớm

Dậu tầm xuân nở, bướm vàng hoe.

Vào đám làng tôi mở trống chèo

Bay cờ, lộng gió, đỏ đuôi nheo

Lớp mà Thị Kính nuôi con mọn

Tôi biết người xem lệ chảy nhiều…

Hôm ấy tôi đi nắng ửng vàng

Bời bời ngõ cũ tím hoa xoan:

Xóm giềng tiễn biệt, cô đưa cháu

Đến mãi đầu thôn cạnh giếng làng.

Dãy núi Trang Nghiêm nhích lại gần

Trời cao vời vợi một màu xuân

Phơi phới tình quê buổi xuất quân…

Thơ của Nguyễn Bính 30: Tuyệt Tác

Cánh chim rời phương Nam

Xây tổ cành phía Bắc

Sông núi còn đôi miền

Nhân duyên đà thống nhất!…

Đây đó dù muôn dặm

Trong ngoài đều một lòng

Son sắt ngày thêm thắm

Mừng riêng mà vui chung

Gái đầu lòng xin đặt

Tên cháu là Hiền Lương

Trai đầu lòng xin đặt

Tên cháu là Trường Sơn!

… Kề vai nhau đấu tranh

Cho đến ngày thắng lợi

Chị về thăm quê anh

Cháu về thăm quê nội!

… Tình nghĩa càng vuông tròn

Bắc Nam càng khắng khít

Cung đàn càng véo von

Lời văn càng thắm thiết!

… Hạnh phúc vang lời thơ

Ái ân lừng điệu nhạc

Biển chung thuỷ tràn bờ

Tình yêu thành tuyệt tác!

Bài thơ này được Nguyễn Bính làm tặng nhà văn Đoàn Giỏi khi lấy vợ trên đất Bắc. Đoàn Giỏi và Nguyễn Bính có rất nhiều kỷ niệm trong kháng chiến cũng như lúc cùng tập kết ra Bắc.

Sự Tích Và Ý Nghĩa Hoa Đào Trong Phong Thủy Ngày Tết

Thơ Về Hoa Hồng – Những Lời Thơ Ngắn Hay Viết Về Loài Hoa Hồng

Trọn Bộ 99 Bài Thơ Tình Yêu 2 Câu Mang Ý Nghĩa Sâu Sắc Nhất

Đề Xuất 10/2021 # Chùm Thơ Đi Mùa Hè Xanh # Top Like

Những Câu Nói Stt Hay Về Mùa Xuân Tình Yêu Được Yêu Thích Nhất • Adayne.vn

Văn Hay Phân Tích Bài Thơ Tương Tư Của Nguyễn Bính

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Nhà Nàng Ở Cạnh Nhà Tôi Cách Nhau Cái Dậu

Nhà Nàng Ở Cạnh Nhà Tôi Cách Nhau Cái Dậu

Nguyễn Bính, Nhà Thơ Hiện Đại

Sự Tích Ông Tơ Bà Nguyệt (Nguyệt Lão)

Thơ Hay Về Tình Duyên, Duyên Số Trong Chuyện Tình Gái Trai Khá Ý Nghĩa

Văn hay phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

Qua bài soạn văn mẫu Tương tư cùng kiến thức đã học, ý tưởng của riêng mình và tập làm văn mẫu phân tích bài Tương tư hy vọng các em sẽ có bài viết chất lượng.

Hướng dẫn tập làm văn hay phân tích bài thơ Tương tư

Đề bài: em hãy phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

Nhận xét về thơ Nguyễn Bính, Tô Hoài có nói rằng: ” Chỉ có quê hương mới tạo nên được từng chữ, từng câu Nguyễn Bính. Trên chặng đường ngót nửa thế kỉ đời thơ, mỗi khi những gắn bó mồ hôi nước mắt ướt đầm lên ngây ngất, day dứt không thế yên, khi ấy xuất hiện những bài thơ tình quê tuyệt của Nguyễn Bính.” Thật vậy, trong phong trào Thơ mới, Nguyễn Bính đã tạo ra một dòng riêng. Trong khi các nhà thơ lãng mạn khác cùng thời hướng về phương Tây, chịu ảnh hưởng của nghệ thuật phương Tây thì Nguyễn Bính lại tìm về và hướng tới nghệ thuật dân tộc, chịu ảnh hưởng của thơ ca dân gian.

Nguyễn Bính là thi sĩ của đồng quê Việt, thơ ông hấp dẫn người đọc bởi lối ví von mộc mạc mà duyên dáng mang đậm hình dáng quê hương đất nước cũng như con người Việt Nam. “Tương tư” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Bính.

Cũng như các nhà thơ lãng mạn, Nguyễn Bính bị “mê hoặc” bởi đề tài tình yêu. Trước Nguyễn Bính, Nguyễn Công Trứ cũng có “Tương tư”:

“Tương tư không biết cái làm sao

Muốn vẽ mà chơi vẽ được nào…”

Cùng thời với Nguyễn Bính, không ai xa lạ, “Ông hoàng của thơ tình”_ Xuân Diệu cũng có bài thơ “Tương tư chiều”. Nhưng cách biểu hiện của hai thi sĩ thật trái ngược nhau biết mấy! Mỗi bài có một nét cuốn hút và hấp dẫn riêng của nó. Xuân Diệu thì rất Tây mà Nguyễn Bính thì “chân quê”…

Mở đầu bài thơ đó là nỗi nhớ, nỗi mong của kẻ đang yêu. Cái nỗi ấy nó thật quá sôi sục, mãnh liệt dường như nó hòa vào từng cảnh, từng vật của thôn quê nơi “tôi” và “nàng” cùng chung sống:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người

Gió mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

Có thế nhận xét rằng, cái tôi trong thơ Nguyễn Bính nó không quá nổi bật hẳn lên mà hòa quyện với từng câu chữ, hòa vào với từng ý thơ, hòa vào không gian nơi làng quê yên ả. Nghệ thuật nhân hóa kết hợp với hoán dụ thật tài tình được Nguyễn Bính kế thừa và phát huy từ những câu ca dao dân tộc. Ngân nga đôi dòng thơ đầu tiên, ta liên tưởng ngay tới câu:

“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than.”

Cái “ngồi nhớ”, sự “chín nhớ mười mong” của dân ca giờ đã trở thành “bệnh” của “tôi” mất rồi bởi đơn giản một điều rằng “tôi yêu nàng”. Sự cụ thể hóa nỗi nhớ cùng với cấu trúc đòn gẩy sau đây thật thú vị:

“Một người chín nhớ mười mong một người”

Mỗi người một đầu, như “thôn Đoài” và “thôn Đông” vậy, sự thế hiện nỗi xa cách kia quả rất hay và ý nhị. Tâm trạng tương tư của người yêu đơn phương còn ảnh hưởng tới cả trời đất:

“Tương tư là bệnh của giời

Nắng mưa là bệnh của tôi yêu nàng”

Câu thơ này của Nguyễn Bính khiến rất nhiều người nhầm tưởng đó là ca dao và sử dụng chúng rất linh hoạt, đặc biệt là các nam thanh niên. Quả là vui mừng thay cho Nguyễn Bính! Đối với văn nghệ sĩ mà nói thì không có thành công nào của nghệ thuật sánh bằng việc những đứa con tinh thần của mình được nhân dân áp dụng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày.

Trở lại với bài thơ, “tôi” nhớ mong “nàng”, yêu đơn phương “nàng” nhưng “tôi” cũng phải trách “nàng”, “tôi” chạnh long:

“Hai thôn chung lại một làng

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này”

Thật tội nghiệp cho cả hai bên, bên bị trách nào biết mình đã lọt vào đôi mắt “tôi” bên thôn Đoài đây. Nhưng cớ sao “nàng” vô tâm quá? “Tôi” và “nàng”, chúng ta ở “Hai thôn chung lại một làng” vậy mà nàng vẫn khiến tôi chờ mong vò võ bao ngày, thời gian ấy sao dằng dặc, triền miên:

“Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”

Tiếp tục là những âm hưởng của dân gian với lối láy chữ tựa luyến láy trong âm nhạc bình dân. Trong hai câu thơ trên, sự sáng tạo của Nguyễn Bính ở chỗ: thể hiện được sự vận động của thời gian vừa có thanh mà vừa có sắc. Ở đây, thời gian tâm lí đã khiến cho “tôi” đã phát “bệnh” mà ngày thêm trọng.

Sự trách móc, hờn dỗi rất đáng yêu kia của “tôi” chưa dừng lại ở đó. “Tôi” lại tiếp tục kiếm cớ với những lí lẽ:

“Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…”

“Tôi” cứ kể lể dài dòng cũng chỉ vì tôi muốn ai đó tường lòng tôi rằng tôi nhớ mong ai đó thật nhiều:

“Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!”

Chân tình “tôi” đó, có tủi phận không khi mà “nàng” cứ vô tâm mãi, để lòng tôi héo hon trong não nề vì mong ước của “tôi” sao mà vô vọng quá:

“Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?”

Nguyễn Bính đã vận dụng lối nói ước lệ tượng trưng thương thấy trong ca dao đó là “bến” – “đò” và “hoa khuê các” – “bướm giang hồ” để thể hiện một mong muốn, khao khát yêu đương mãnh liệt nhưng đã dự báo trước được kết quả. Yêu vụng dấu thầm thật là tội nghiệp biết mấy.

“Nhớ mình ra ngẩn vào ngơ

Trông mây trông nước, nay chờ mai mong”

( Tản Đà)

Kết cấu xoay vần, kết lại bài thơ, Nguyễn Bính trở lại giai điệu quen thuộc trong khổ đầu và thêm thắt và lồng khéo vào đó một vài mong ước mộc mạc, chân thật:

“Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một giàn cau liên phòng.

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Câu thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

“Nhà anh” và “nhà em”, mỗi nhà chỉ có MỘT hoặc “cau” hoặc “giầu” tức là vẫn còn cô đơn, lẻ bóng. Ý “anh” phải chăng là muốn chung đôi xe duyên kết phận với “em”? Cấu trúc song hành này thể hiện sự mong muốn về một hạnh phúc lứa đôi son sắt, bền lâu.

Câu hỏi tu từ đã kết lại lại thơ hai mươi câu lục bát. Lời bỏ ngỏ còn đó, như nỗi “tương tư” em còn đó cùng tình yêu này rất chân thành và mộc mạc. Với tài năng và tâm huyết cùng nghệ thuật dân tộc, Nguyễn Bính đã thành công trong việc giữ lại “hương đồng gió nội” cho thơ mình và thơ Việt nói chung khi cơn gió Tây học ùa vào lúc bấy giờ. “Tương tư” đến giờ vẫn giữ được vị trí rất riêng của nó trong lòng nhiều thế hệ độc giả Việt Nam, nó chính là một phần của hồn thơ Việt, hồn quê Việt.

Tham khảo tập làm văn phân tích bài Tương tư

Đề bài: em hãy phân tích bài thơ Tương tư

Với phong cách thơ bình dị, nhẹ nhàng, chân chất; Nguyễn Bính được xem là nhà thơ của đồng nội. Thơ Nguyễn Bính đi sâu vào tâm hồn người đọc bằng chất “quê” đặc biệt, chất “quê” của nông thôn Việt Nam. Tình yêu trong thơ ông rất đỗi ngọt ngào, sâu lắng và dìu dặt như chính con người ông. Bài thơ “Tương tư” rút trong tập “Lỡ bước sang ngang” giãi bày tâm sự thầm kín của một người đang yêu, đang thương nhớ, đang khắc khoải và mong chờ đau đáu.

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Bính đặt tên bài thơ là “Tương tư”, đây là cảm giác nhớ thương của một kẻ đang yêu, nói đúng hơn là của kẻ yêu đơn phương, đang mong chờ được đáp lại. Mối tình ấy được ấp ủ, được dồn nén thành lời qua những vần thơ mộc mạc, chân thành nhất:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Nắng mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Một không gian thôn quê hiện lên thật bình dị, đơn sơ, và yên bình đến lạ. Thủ pháp nhân hóa được sử dụng rất tài tình, tinh tế. Tác giả mượn “thôn Đoài” và “thôn Đông” để nói lên nỗi nhớ từ tận sâu đáy lòng của mình. Chắc hẳn rằng người mà tác giả đang tương tư ở thôn Đông, còn tác giả lại ở thôn Đoài. Mối tình ấy ẩn mình trong sự thanh mát và bình dị của đồng quê.

Tinh tế và sâu sắc hơn nữa tác giả đã mượn chuyện nắng của của giời để trải lòng mình. Tác giả coi “tương tư” là một căn bệnh đã tiềm ẩn trong chính con người mình, cũng rất đỗi bình thường như bao chuyện khác, giống như quy luật của đất trời.

Chỉ với 4 câu thơ ấy, đã khiến người đọc thích thú muốn tìm hiểu về mối tương tư của anh chàng thôn Đoài và cô nàng thôn Đông này.

Tuy nhiên đến những câu thơ tiếp theo, dường như lại là lời trách móc nhẹ nhàng và rất chừng mừng. Trách cô gái hững hờ, trách người ta sao lại vờ như không biết gì như thế:

“Hai thôn chung lại một làng,

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Những đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?

Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?”

Những câu hỏi dồn dập, nối tiếp nhau tạo nên sự nối rối, lo lắng và chồng chất nỗi niềm trong lòng chàng trai đang yêu. Tác giả đã mượn lối nói dân gian của ca dao, dân ca để hỏi dò cô gái sao lại hững hờ như vậy.

Giọng điệu của câu thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, tha thiết như truyền tải thông điệp đến cho cô gái. Từ “cớ sao” như một lời trách nhưng lại rất tế nhị, đáng yêu. Mối tương tư của chàng trai trằn trọc suốt bao nhiêu đêm, nhưng chẳng biết ngỏ cùng ai, rồi cũng chẳng ai thấu cho. Bởi vậy mà chàng trai chỉ chờ đợi “bến gặp đò” để mình có thể gặp nàng. Nỗi băn khoăn trong lòng chàng trai cứ chồng chất, cứ dai dẳng và đợi chờ.

“Và rồi chàng trai lại tự hỏi:

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

Nhịp điệu của thơ lục bát uyển chuyển, nhẹ nhàng, tha thiết. Tác giả mượn “giàn trầu” và “hàng cau” để diễn tả nỗi nhớ da diết và quấn quýt như dây trầu quấn lấy thân cau. Nguyễn Bính thật khéo léo và tài hoa khi diễn tả nỗi nhớ bằng những hình ảnh thân quen và mộc mạc ấy. Ở 4 câu thơ này, người đọc nhận ra có sự thay đổi giữa cách xưng hô, tác giả đã mạnh dạn chuyển “tổi-nàng” thành “anh-em” rất táo bạo. Dấu hiệu này chứng tỏ mối tình này đã quá lớn, đã quá sâu và chàng trai muốn giãi bày trực tiếp với cô gái.

Cái “tôi” trữ tình của Nguyễn Bính đã được đẩy cao lên, dám bày tỏ, dám yêu. Nhưng tình cảm đó không táo bạo mà ngược lại rất chân thành, mãnh liệt, đồng thời lại rất tế nhị.

Bằng những vần thơ gần gũi, chân thành, đậm hương vị đồng quê, tác giả đã gieo vào lòng người đọc những tình cảm nhẹ nhàng, tha thiết nhất của những người đang yêu. Bài thơ như một nốt nhạc trong lành và yên bình nhất.

Theo Kenhvanmau.edu.vn

Những Bài Thơ Hay Chào Đón Ngày Khai Giảng Năm Học Mới

Top 99 Câu Chúc Mừng Năm Mới 2022

Những Câu Nói Hay Về Năm Mới 2022 Đầy Tình Cảm

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Top 15 Bài Thơ Hay Chào Đón Tháng Năm

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Ngày Khai Giảng, Khai Trường, Chào Năm Học Mới

Bài Thơ “tết Của Me Tôi” Của Nhà Thơ Nguyễn Bính

Ngày Tiết Thanh Minh – Đọc Lại “Thanh Minh” Của Đỗ Mục

Thơ Tết Buồn – Chùm Thơ Chế Tết Fa Vui Và Buồn Đêm Giao Thừa

Những Bài Thơ, Lời Chúc Tết Canh Tý 2022 Ý Nghĩa Nhất

Top Những Bài Hát, Bài Thơ Ngày Tết Hay Nhất Cho Bé

Đi Chợ Tết Nhớ Đoàn Văn Cừ

Tết đến me tôi vất vả nhiều,

Me tôi lo liệu đủ trăm chiều.

Sân gạch tường hoa, người quét lại

Vẽ cung trừ quỷ, trồng cây nêu.

Nuôi hai con lợn tự ngày xưa

Me tôi đã tính “Tết thì vừa”.

Trữ gạo nếp thơm, mo gói bó

Dọn nhà, dọn cửa, rửa bàn thờ.

Này là hăm tám tết rồi đây

(Tháng thiếu cho nên hụt một ngày),

Sắm sửa đồ lễ về việc tết,

Me tôi đi buổi chợ hôm nay.

Không như mọi bận, người mua quà

Chỉ mua pháo chuột và tranh gà,

Cho các em tôi, đứa mỗi chiếc

Dán lên khắp cột, đốt inh nhà.

Giết lợn, đồ sôi, lại giết gà

Cỗ bàn xong cả từ hôm qua

Suốt đêm giao thừa, mẹ tôi thức

Lẩm nhẩm câu kinh Đức Chúa Ba.

Me tôi gọi cả các em tôi

Đến bên mà dặn: “Sáng ngày mai

Các con phải dậy sao cho sớm

Đầu năm, năm mới phải lanh trai.

Mặc quần, mặc áo, lên trên nhà

Thắp hương, thắp nến lễ ông bà

Chớ có cãi nhau, chớ có quấy

Đánh đổ, đánh vỡ như người ta…”

Sáng mồng một, sớm tinh sương

Me tôi cấm chúng tôi ra đường

Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi

Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương.

Thầy tôi lấy một tờ hoa tiên

Bút lông dầm mực, viết lên trên,

Trên những gì gì, tôi chẳng biết

Giữa đề năm tháng, dưới đề tên.

Me tôi thắt lại chiếc khăn sồi,

Rón rén lên bàn thờ ông tôi

Đôi mắt người trông thành kính quá

Ngước xem hương cháy đến đâu rồi.

Me tôi uống hết một cốc rượu

Mặt người đỏ tía vì hơi men,

Người rủ cô tôi đánh tam cúc

Cười ầm tốt đỏ đè tốt đen.

Tôi mặc một chiếc quần mới may

Áo lương, khăn lượt, chân đi giày,

Chô tôi sang lễ bên quê ngoại

Người dặn con đừng uống rượu say.

Xong ba ngày tết me tôi lại

Đầu tắt, mặt tối, nuôi chồng con,

Rồi một đôi khi người giã gạo,

Chuyện trò kể lại tuổi chân son.

Chuyển Thể Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính Thành Văn Xuôi

Giáo Án Lớp 5 Tuần 1 Theo Chương Trình Vnen

Nghị Luận Về Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính – Lingocard.vn

Thuyết Minh Về Bài Thơ “tiểu Đội Xe Không Kính” Năm 2022

Download Nhạc Online Tiểu Đội Xe Không Kính Hay Nhất

Bài Thơ “ghen” Của Thi Sĩ Nguyễn Bính

100 Bài Thơ Tình Hay Nhất Thế Giới (01 Đến 15)

“ghen Ăn Tức Ở” Chỉ Tổ Làm Khổ Bản Thân!

Thói Ghen Ăn Tức Ở Của Người Việt Nam Và Trung Quốc

Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tuyệt Hay

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Ghen Nguyễn Bính

Nhà thơ Nguyễn Bính: Hồn tôi giếng ngọt trong veo

Cùng với thời gian, càng ngày tôi càng nhận ra tầm vóc lớn lao của nhà thơ Nguyễn Bính. Không, ở đây tôi không nói theo cách của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi ông nhận xét về thơ của cụ Đồ Chiểu, rằng “Trên trời có những vì sao có ánh sáng phi thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì càng thấy sáng”.

Với tôi, thơ Nguyễn Bính là nguồn nước giếng thơi trong mát. Ta chỉ thực sự thấy hết ý nghĩa của nó khi phải đối mặt với mênh mông sa mạc. Vâng, sa mạc của chữ nghĩa và sa mạc của hồn người.

Nếu như các nhà thông thái, thoạt mới tiếp xúc với thơ Nguyễn Bính dễ buông nhận xét: “Thơ như thế này thì có gì” (xem bài của Hoài Thanh về Nguyễn Bính trong “Thi nhân Việt Nam”) thì “Với thơ, Nguyễn Bính kỹ lưỡng đắn đo suy nghĩ có khi đến quên ăn quên ngủ vì một từ, viết nháp nhiều lần, sửa chữa kỹ lưỡng từng câu từng chữ” (trích hồi ký của nhà thơ Hoàng Tấn). Có gì mâu thuẫn chăng? Không, tôi thấy đây là chuyện hoàn toàn có thể cắt nghĩa được: Người làm thơ một khi tay nghề đã quá cao cường, nói như thơ Vũ Quần Phương “Gặp thơ rồi thì quên chữ quên câu”, hẳn họ sẽ khiến người đọc khó mà tìm ra dấu vết của việc họ uốn câu tỉa chữ. Nguyễn Bính là một trường hợp như thế. Cầm trên tay một cốc nước mát, nhìn vào cái sự… trong suốt của nó, có thể ai đó sẽ nghĩ “không có gì”, hay đâu, để có được cái “trong veo”, “trong vắt” ấy (thơ Nguyễn Bính: “Hồn tôi giếng ngọt trong veo/ Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh” – bài “Tình tôi”), người làm thơ đã phải thanh lọc, xử lý kỳ công các tạp chất như thế nào?

Nhiều người đã biết đến khả năng chiếm lĩnh bạn đọc của thơ Nguyễn Bính, một tiếng thơ phổ cập vào bậc nhất trên thi đàn Việt Nam thế kỷ XX. Điều này có căn nguyên từ cả nội dung mà tác giả đề cập và thủ pháp mà tác giả sử dụng.

Trước tiên hãy nói về thủ pháp nghệ thuật mà Nguyễn Bính sử dụng để tạo cho bài thơ, khổ thơ có sức ăn sâu bám chắc trong trí nhớ người đọc: Nguyễn Bính hầu như chỉ sử dụng các thể thơ truyền thống như lục bát, thất ngôn (ông viết rất nhiều, tới cả ngàn bài nhưng hầu như rất hiếm khi dùng thể thơ tự do) và cách bắt vần của ông thì hết sức chặt chẽ. Ở mặt này, Nguyễn Bính rất gần với Tố Hữu và sự thật, cùng với thơ Tố Hữu, đó là hai tiếng thơ thuộc loại dễ thuộc dễ nhớ bậc nhất trong thi ca Việt Nam.

Trước đây, nhà thơ Vương Trọng từng có lần đố tôi tìm được trong các nhà thơ nổi tiếng đương đại một bài thơ lục bát có sự bắt vần chỉnh đến “trăm phần trăm” như bài “Đường rừng chiều” của Nguyễn Bính: “Lữ hành bắt gặp quán cơm/ Bầy ong bắt gặp mùi thơm hoa rừng/ Đèo cao cho suối ngập ngừng/ Nắng thoai thoải nắng chiều lưng lửng chiều/ Giăng non như một cánh diều/ Trẻ con phất dối thả liều lên mây/ Chim nào kêu mỏi ngàn cây/ Ngẩn ngơ đôi chiếc ngựa gầy dong xe/ Đồi sim dan díu nương chè/ Trắng phau khói núi, xanh lè áo ai…”.

Thoạt đầu, tôi nghĩ việc này… dễ ợt (bởi bài thơ của Nguyễn Bính chỉ vẻn vẹn có 10 câu). Nào ngờ bắt tay vào tìm, mới thấy việc không hề đơn giản. Trong cả rừng thơ lục bát với nhiều bài “chắc nịch”, thật hiếm bài có cách bắt vần khít khịt, “chuẩn không cần chỉnh” như bài thơ trên (nhiều bài “chuẩn” được dăm ba câu thì lại rơi vào cảnh vần ơm bắt vần với vần ươm; vần ưng bắt vần với vần ung, hoặc vần ông; vần iêu bắt vần với vần eo…).

Tất nhiên, trong việc làm thơ, không phải cứ bắt vần chuẩn như vậy là thành thơ… hay (và tất nhiên, nếu ai đó chủ ý bắt vần cho thật chuẩn thì chắc rồi họ cũng làm được). Cái tài của Nguyễn Bính, là dù ông rất chú trọng về mặt vần điệu, song hơi thơ đọc lên nghe vẫn thanh thoát, tự nhiên, chữ nghĩa xem ra cũng không bị gò gẫm. Đặc biệt, trong nhiều trường hợp, như một ông thầy cao tay điểm huyệt, Nguyễn Bính đã có cách nhấn nhá, luyến láy chữ nghĩa tài tình, tạo cho bài thơ, khổ thơ một sự thăng hoa, bứt phá rất ấn tượng. Nó như liều thuốc chống buồn ngủ khi người tài xế đang dong xe trên một cung đường êm ả, vắng người…Và cách luyến láy, nhấn nhá này được Nguyễn Bính sử dụng nhiều ngay từ lúc khởi nghiệp thơ cho mãi đến những năm về sau. Như ở bài “Ghen”, ông nhấn nhá mấy chữ: “nghĩa là”, “quá”, “cô là”, “tất cả” trong khổ thơ kết bài: “Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi/ Thế nghĩa là yêu quá mất rồi/ Và nghĩa là cô là tất cả/ Cô là tất cả của riêng tôi” – một cách nhấn nhá cốt để thể hiện cái rối rít, cuống quít của lòng yêu; hoặc ở bài “Viếng hồn trinh nữ” là sự nhấn nhá mấy chữ “trắng”: “Có một chiếc xe màu trắng đục/ Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi/ Đem đi một chiếc quan tài trắng/ Và những vòng hoa trắng lạnh người/ Theo bước những người khăn áo trắng/ Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi“, một cách nhấn nhá nhằm làm nổi bật lên sự ám ảnh, xa xót khôn nguôi của tác giả trước đám tang một trinh nữ mà mình từng có tình ý. Trong một số trường hợp, nhất là ở những bài thơ tình, sự nhấn nhá chữ nghĩa của Nguyễn Bính còn tạo nên một sự… ỡm ờ rất có duyên: “Gió mưa là bệnh của giời/ Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng/ Hai thôn chung lại một làng/ Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?/ Ngày qua ngày lại qua ngày/ Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng…” (bài “Tương tư”); “Cô hái mơ ơi/ Chẳng trả lời nhau lấy một lời/ Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng/ Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi” (bài “Cô hái mơ”)…vv và vv …

Về nội dung, điều dễ nhận thấy là Nguyễn Bính đã rất thành công khi đưa độc giả – nhất là những người đang sống (hoặc một thời từng sống) nơi thôn dã – trở về với những gì thơ mộng, thánh thiện nhất của một thời quá vãng. Thật ra, trong những điều Nguyễn Bính viết, đâu phải cảnh nào, tình huống nào cũng xảy ra trong đời thực của ông. Những cảnh thanh bình nơi gian nhà tranh nho nhỏ, dưới ánh trăng mơ, vợ quay tơ, chồng ngâm thơ; rồi cảnh trai làng gái xóm hò hẹn nhau trong đêm hát hội; cảnh hoa xoan rơi kín lối ngày xuân, hoa cải nở vàng cuối đông; cảnh cô gái chèo đò ngồi đợi tình quân; cảnh đêm trăng sáng như ban ngày; cảnh ngày nắng lên trẻ em đùa nô bên nhành lá non như tráng bạc… tất cả hoặc chỉ là những khoảnh khắc hiếm hoi mà tác giả lưu giữ được, hoặc là khát vọng mà ông hướng tới, trong khi thực tế cuộc sống mà ông đối mặt, cụ thể là những gì diễn ra ở làng quê Nguyễn Bính – hãy xem nhà văn Tô Hoài, người bạn một thời cơ khổ của Nguyễn Bính thuật lại, thì đâu có thơ mộng, êm đềm như vậy: “Làng Thiện Vịnh, làng quê chôn nhau cắt rốn của anh, cái làng đồng trũng mà chắc đến mùa nước thì con đường đê liên huyện kia chỉ còn là sợi chỉ mỏng mảnh bên làn nước giữa gò đất, bờ bụi, tre pheo.

Sao mà lắm gió thế, gió trên đồng đêm ngày giật lên, gào lên từng cơn. Làng nước xám ngắt, quang cảnh tiêu điều lam lũ ảm đạm, nheo nhóc. Thế mà: Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy. Tầm vóc, thật tầm vóc, mỗi câu thơ Nguyễn Bính” (Lời giới thiệu “Tuyển tập Nguyễn Bính”, NXB Văn học, 1986). Rõ ràng, khát vọng của Nguyễn Bính đã nâng tầm cho những câu thơ của ông, làm cảnh trí đẹp thêm lên, tạo một sức lay động mạnh mẽ con tim người đọc.

Một số nhà nghiên cứu văn học vẫn xếp Nguyễn Bính vào trường thơ đồng quê như Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ. Thật ra, Nguyễn Bính không tả vẻ đẹp của cảnh quê đơn thuần mà mượn nó để nói những ước vọng “tình quê” của những đôi trai hiền gái thảo. Bởi vậy, cảnh trí trong thơ Nguyễn Bính không chỉ là vẻ đẹp của không gian mà đằng sau nó còn là thời gian, là cái đẹp của hồn cốt bao đời tụ lại. Đọc những câu: “Chiếc áo màu xanh tựa nước hồ/ Nàng vừa may với gió đầu thu” (bài “Viếng hồn trinh nữ”), cấp độ liên tưởng ấy ta có thể bắt gặp ở một nhà thơ đồng quê nào đó, nhưng đến hai câu kế tiếp: “Gió thu còn lại bao nhiêu gió/ Chiếc áo giờ đây bạc dưới mồ” thì phải tới cỡ Nguyễn Bính mới có được.

Trước đây, trong một bài viết về Anh Thơ, tôi đã có đôi dòng liên hệ, so sánh sự khác biệt giữa thơ của nữ thi sĩ này và thơ Nguyễn Bính. Trong khi cho rằng, với tập “Bức tranh quê”, Anh Thơ đã khiến độc giả khó mà đoán định được giới tính của người viết thì tôi lại xem Nguyễn Bính là một nhà thơ nông thôn giàu… nữ tính. Quả thực, trái ngược với con người mà ngoài đời có lối sống băm bổ, kiêu bạc, thậm chí… chất chưởng ấy, trong thơ, Nguyễn Bính luôn thể hiện là một con người ủy mị, nhiều nước mắt. Không hiếm bài thơ, Nguyễn Bính đã đứng ở ngôi vị người phụ nữ để tâm tình với độc giả (như các bài “Mưa xuân”, “Lỡ bước sang ngang”, “Lòng mẹ”, “Thời trước”, “Lòng nào dám tưởng”…). Và ông đã vào giọng nữ một cách hết sức nhuần nhuyễn. Đọc những câu: “Em ơi! Em ở lại nhà/ Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương/ Mẹ già một nắng hai sương/ Chị đi một bước trăm đường xót xa/ Cậy em, em ở lại nhà/ Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương” (bài “Lỡ bước sang ngang”), mấy ai nghĩ rằng những lời ấy được viết ra bởi một nam thi sĩ có nhiều năm tháng vật lộn với cuộc sống nơi thị thành? Đây có thể coi là một lợi thế khiến nhiều bài thơ của Nguyễn Bính đủ sức chinh phục một đối tượng bạn đọc vốn dĩ được xem là “một nửa thế giới”. Và, như người đời vẫn nói, khi đã chinh phục được các độc giả nữ thì đó cũng chính là tiền đề để những bài thơ ấy len lỏi đi vào đời sống tình cảm của mọi gia đình.

Đã hơn 70 năm trôi qua kể từ ngày những bài thơ xuất sắc nhất của Nguyễn Bính góp mặt trên thi đàn. Có một phong trào đọc thơ Nguyễn Bính và làm thơ như… Nguyễn Bính, song đến nay, hiện tượng Nguyễn Bính vẫn là “độc nhất vô nhị”. Những khát vọng trinh nguyên nhường ấy, được lồng vào những thể thơ dân gian mượt mà, trong sáng là vậy – sự hôn phối ấy chỉ diễn ra có một lần. Văn hào Anh Richard Jefferies đã viết đại ý, phải mất hàng trăm năm ngọn gió nam thổi trên những cánh đồng lúa xanh rờn mới có thể tạo nên một trinh nữ hoàn hảo. Mượn cách nói ấy, tôi muốn khẳng định rằng, phải hàng trăm năm dân tộc ta mới sản sinh ra một nhà thơ đồng quê như Nguyễn Bính.

Top 7 Bài Thơ Về Tình Yêu Hay Nhất Của Xuân Diệu

Ơn Gọi, Thánh Hiến Là Một Hồng Ân Thiên Chúa Ban Cho Tôi Cũng Như Cho Mỗi Người Chúng Ta. Trong Hành Trình Ơn Gọi Đó, Bạn Và Tôi Không Bước Đi Một Mình Lẻ Loi, Nhưng Tôi Tin Có Chúa Luôn Ở Bên, Dầu Có

Nắm Vững Toàn Bộ Từ Vựng Tiếng Anh Về Biển Báo Giao Thông

Bài Thơ ‘tiếng Biển’ Của Người Lính Đảo Lay Động Triệu Trái Tim

Tiết Lộ Gây Sốc Về Tranh Chấp Bản Quyền Bài Thơ “tổ Quốc Gọi Tên”

🌟 Home
🌟 Top