Top 6 # Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Chiều Tối Sgk 11 Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Giáo Án Ngữ Văn 11: Chiều Tối

1/ Hoàn cảnh sáng tác

– “Nhật ký trong tù” là tập thơ được Hồ Chí Minh sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tửng giới Thạch bắt giam vô cớ tại Quảng Tây – Trung Quốc (8/1942 – 9/1943

– Bài thơ là 1 trong những bài của tập NKTT, là cảm hứng được gợi lên trên đường chuyển lao của nhà thơ từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. Đây là bài thơ thứ 31/114.

2/ Chủ đề tác phẩm:

Chiều tối cho thấy tình yêu thiên nhiên cuộc sống, ý chí vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà thơ chiến sĩ Hồ Chí Minh.

: CHIỀU TỐI I. TÌM HIỂU CHUNG: 1/ Hoàn cảnh sáng tác - "Nhật ký trong tù" là tập thơ được Hồ Chí Minh sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tửng giới Thạch bắt giam vô cớ tại Quảng Tây - Trung Quốc (8/1942 - 9/1943 - Bài thơ là 1 trong những bài của tập NKTT, là cảm hứng được gợi lên trên đường chuyển lao của nhà thơ từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. Đây là bài thơ thứ 31/114. 2/ Chủ đề tác phẩm: Chiều tối cho thấy tình yêu thiên nhiên cuộc sống, ý chí vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà thơ chiến sĩ Hồ Chí Minh. II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN 1/ Hai câu đầu: Cảnh thiên nhiên buổi chiều ta ở vùng rừng núi trên đường chuyển lao : "Chim mỏi . giữa tầng không" - Xuất hiện những hình ảnh: + "Chim mỏi" : cánh chim bay mỏi + "về rừng" : cảm giác mệt mỏi tan biến, thay vào đó là cảm giác đầm ấm sum họp. + "Chòm mây" (cô vân) : lẻ loi, cô độc. + "trôi nhẹ" : bật lên cái ung dung thanh thản êm trôi của đám mây làm chủ bầu trời. - Bút pháp cổ điển: + Lấy điểm vẽ diện: cánh chim, chòm mây gợi bầu trời mênh mông + Lấy động tả tĩnh: sự chuyển động nhẹ nhàng của làn mây và cánh chùn bay mỏi gợi sự tĩnh lặng ở miền sơn cước lúc chiều buông. + Cách cảm nhận thời gian: Chim bay về tổ báo hiệu thời gian của buổi chiều tối. Ca dao: "Chim bay về núi tối rồi" Trong Truyện Kiều: "Chim hôm thoi thóp về rừng" Huy Cận: "Chim nghiêng cánh như bóng chiều sa" - Hình ảnh thơ mang dáng dấp Đương thi: + Có cảnh chim bay về rừng tìm chốn ngủ (động từ "qui": về, "tầm": tìm) + Có chòm mây trôi ung đung, thanh thản, lơ lửng giữa tầng không (động từ "mạn mạn": trôi nhẹ nhàng, chậm chạp) ® Cảnh vật chiều buồn nhưng không ảm đạm mà nên thơ, thanh cao, khoáng đạt do cách nhìn và người ngắm cảnh có một tâm hồn thanh thản, phóng khoáng, cảm nhận tinh tế vẻ đẹp thiên nhiên. Þ Nghệ thuật mang nhiều nét cổ điển làm toát lên bức tranh thiên nhiên miền núi rất đỗi nên thơ, êm đềm. Tâm hồn người tù: Dù cô đơn nhưng lòng luôn hướng về sự sống, tình yêu thiết tha gắn bó, trân trọng của Người dành cho thiên nhiên. 2/ Hai câu sau: Niềm say mê lao động của cô thôn nữ a) Hình ảnh con người: "Cô em .. đã rực hồng" - Hình tượng thơ vận động hướng về sự sống: Cảnh chiều chuyển sang buổi tối sinh động, ấm áp với sinh hoạt của con người, với âm thanh sinh động của cuộc sống, với vẻ bình dị, khỏe khoắn của cô gái trong lao động. Cô gái xay ngô Lò than rực hồng - Nghệ thuật mang nhiều nét hiện đại: + Bút pháp tả thực: cô thôn nữ đang xay ngô bên bếp lửa hồng. + Điệp ngữ "ma bao túc - bao túc ma" + kết lại bằng chữ "hoàn" ® gợi vòng quay uyển chuyển, đều đặn, liên tục của cối xay. Khi vòng quay vừa dứt thì bếp lò rực đỏ, hơi nóng tỏa vào đêm tối, ánh sáng bất chợt bừng lên, bao trùm toàn bộ không gian, thời gian của bài thơ, gieo một ấn tượng tin yêu, lạc quan nơi lòng người. ® niềm say mê, sự miệt mài lao động đến quên cả thời gian. - Tứ thơ kín đáo, ẩn trong từ "hồng" (là thi nhãn, nhãn tự của câu thơ, bài thơ). + Sắc hồng át đi cái mờ xám, mỏi mệt của cảnh chiều + Chiếu sáng hình ảnh con người lao động: khỏe mạnh, bình dị mà tuyệt đẹp. + Màu hồng lạc quan Cách mạng, màu của ấm áp tình người. + Ước mơ thầm kín của người tù về mái ấm gia đình - Bố cục của bài thơ cũng chính là bố cục của bức tranh : hai câu đầu làm nền, hai câu sau miêu tả cận cảnh. Bức tranh vừa bao la mênh mông, vừa gần gũi ấm áp. b) Tâm hồn người tù: Yêu và thiết tha gắn bó với vẻ đẹp của cuộc sống đến quên cả mọi đớn đau trong cảnh lao tù, là niềm cảm thông, sẻ chia, sự nâng niu trân trọng đối với nỗi vất vả của người lao động sau một ngày dài vất vả. Þ Vẻ đẹp của con người trong lao động đã khơi dậy sức sống khoẻ khoắn và làm bừng sáng cho cả bức tranh. Con người trong lao động là vẻ đẹp trung tâm, là cái thần thái chân dung về vẻ đẹp cuộc sống giản dị đời thường. III. TỔNG KẾT: 1/ Nội dung: Bài thơ cho thấy tình yêu thiết tha đối với những vẻ đẹp bình dị của cuộc sống. + Niềm yêu mến, gắn bó, sự đồng cảm, sẻ chia đối với cảnh vật khi chiều về. + Niềm cảm động, hân hoan đến trào nước mắt trước niềm vui lao động bình dị của cô thôn nữ. 2/ Nghệ thuật: Bài thơ có sự kết hợp giữa vẻ đẹp cổ điển và hiện đại. + Cổ điển: Bút pháp tả cảnh để tả tình, sử dụng hình ảnh, từ ngữ + Hiện đại: Tinh thần hiện đại thể hiện ở tinh thần lạc quan cách mạng: luôn hướng về ánh sáng, về sự vận động phát triển. Cụ thể: + Sự vận động của hình ảnh thơ: Ÿ Từ tĩnh sang động Ÿ Từ bóng tối ra ánh sáng Þ Quan điểm: con người luôn ở vị thế làm chủ hoàn cảnh, cải tạo hoàn cảnh.

Phân Tích Bài Thơ Chiều Tối Lớp 11 Của Hồ Chí Minh

(Văn mẫu lớp 11) – Phân tích bài thơ chiều tối của Hồ Chí Minh – (Bài văn mẫu của học sinh lớp 9 trường THPT Lê Duẩn)

Hồ Chí Minh vị cha già đáng kính của dân tộc, người đã tìm ra lối thoát cho nhân dân ta trước cảnh xiềng xích nô lệ. Để làm được điều ấy, Đất nước đã phải hy sinh biết bao người con, biết bao sương máu đã phải đổ, và ngay chính bản thân người, cũng đã chịu biết bao đầy ải, ngục tù. Nhưng tinh thần lạc quan vẫn luôn sáng ngời và một niềm tin sắt đá. Bài thơ “Chiều tối” nằm trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Bác là những minh chứng cho điều ấy, được sáng tác trong hoàn cảnh Bác bị giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bằng những vần thơ đơn giản, mộc mạc nhưng trong đó là cả một khát vọng bao la trước sứ mệnh giải phóng dân tộc khi vẫn đang còn dở dang.

Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, hai câu thơ đầu là ánh nhìn mênh mông, xa xăm của tác giả, một khát vọng mãnh liệt tự do, được tung bay như cánh chim, trôi mơn man như áng mây. Đồng thời, đó cũng là vẻ đẹp thiên nhiên tĩnh lặng, cảnh núi non hùng vĩ trong cảnh chiều tối:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không.”

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

Chỉ với hai câu thơ như Hồ Chí Minh đã phác họa lên một bức tranh về khung cảnh xế chiều êm đềm và tĩnh lặng. Buổi chiểu tà có lẽ là khoảng thời gian khiến tâm trạng con người luôn cảm thấy nhớ nhung nhất, nhớ tới những hình ảnh quen thuộc nơi quê nhà nơi có những người thân yêu, nhớ đến mùi khói lam chiều bay phảng phất, nhớ từng hàng cây, con đường,… Và sẽ làm cho con người ta thấy đầy lạc lõng và cô đơn nếu như đang ở một nơi đất khách quê người, khi đang thiếu thốn tình thương yêu. Cũng như cánh chim sau một ngày dài đi kiếm ăn, khi chiều về cũng bay về rừng, về với tổ ấm quen thuộc “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ”. Chỉ với những từ ngữ nghe thật giản đơn, bình dị nhưng trắc ẩn trong đó là cả một nỗi lòng tha thiết nhớ quê hương khi Bác đang bị đầy ải ở một nơi xa lạ như vậy. Đồng thời, đó cũng là một khát khao được tung bay như cánh chim giữa bầu trời bao la rộng lớn, khát cọng tìm lại được tự do, trở về quê nhà tiếp tục sự nghiệp cứu nước nhà.

“Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không” vần thơ tiếp theo càng tô nét thêm cho khát vọng mãnh liệt ấy, sự yên ắng, êm ả trôi nhẹ của chòm mây trên trời cao như bước đi lặng lẽ của chính tác giả, đầy cô độc. Nhưng không phải như vậy mà có thể đánh mất đi được nguồn sáng cao đẹp của tinh thần lạch quan, tâm thái ung dung. Bác vẫn thưởng thức được cảnh đẹp thiên nhiên, núi rùng bao la hùng vĩ, Bác vẫn dõi theo cánh chim bay về tổ, áng mây lửng lơ giữa khoảng không thầm lặng. Người như vượt qua chặng đường dài đầy mệt nhọc, thân xác rã rời để hòa mình vào với thiên nhiên. Một lần nữa như khiến chúng ta thấy được cảnh chiều tà lặng lẽ, vừa đẹp những cũng buồn man mác, và hình ảnh đơn độc, xiềng xích của Bác giữa đất trời mênh mông nhưng khát vọng tự do thì luôn tung bay trên bầu trời rộng lớn.

Giữa khung cảnh bao la mà buồn man mác, chợt hiện lên một dáng hình thấp thoáng, đóm sáng bập bùng in màu trong chiều tối nhạt màu:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”

“Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết, lò than đã rực hồng.”

Trong cái bức tranh quá rộng lớn và nhạt màu ấy, cô sơn nữ hiện lên như một điểm nhấn rõ nét, đó như là một sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con người, để bức tranh trở nên sinh động đến lạ kì, là sự hòa hợp giữa màu sắc cổ điển với chất thơ hiện đại trẻ trung bình dị. Hình ảnh người thiếu nữ đang chăm chỉ, miệt mài “xay ngô tối”, nó như gọi lên dáng vẻ, nét đẹp của chính con người lao động Việt Nam, quê hương thân yêu của người. Và hình ảnh người thiếu nữ đang cần mẫn làm xay ngô được lặp đi lặp lại trong trong hai câu thơ, hình ảnh ấy dường như không rời khỏi ảnh nhìn của người thi nhân cho đến khi khuất hẳn. Khoảng không gian và thời gian như đang lặng lẽ trôi đi, nhường chỗ cho bóng đêm mịt mù, tăm tối. Rồi một điểm sáng rực hồng, lóe lên giữa khoảng không ấy, là hình ảnh lò than ấm nồng đang đỏ lửa “lô dĩ hồng_lò than đã rực hồng”. Bác Hồ như cảm nhận được sự ấm nóng trong trái tim mình, một sự thân quen ấm áp đầy chan chứa, nó như xua tan đi hết mọi sự cô đơn, mịt tối, hòa cùng ánh sáng cao đẹp của người lãnh tụ vĩ đại dân tộc.Như một điều thường thấy trong Bác, Bác vẫn luôn quan tâm đến cuộc sống xung quanh, luôn hi sinh chính bản thân mình để nhân dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Cảm hứng xuyên suốt bài thơ là sự bình dị, chân thật mà ấm áp dạt dào, hồn thơ là cả sự gắn bó, hòa hợp với thiên nhiên, con người. Đó là sự lạc quan trước mọi hoàn cảnh, làm chủ được hoàn cảnh.

Bài thơ “Chiều tối” khép lại để lại cả một nỗi niềm bao la trong tâm hồn. Chỉ với những vân thơ đơn giản đã vẽ lên cả một bức trnah chiều tà với sự sống vẫn đang tuôn chảy cungfn hịp thời gian. Không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên núi rùng, vẻ đẹp của con người trước sự hòa hợp ấy, đồng thời đó cũng lầ tinh thần lạc quan, là khát vọng được tự do luôn nung nấu trở về quê hương để hoàn thành sứ mệnh cao cả. Một vẻ đẹp sáng ngời đến bình dị của Bác.

Cảm Nhận Bài Thơ Chiều Tối Lớp 11 (Mộ) Của Hồ Chí Minh

[Văn mẫu lớp 11] – Anh chị hãy nêu cảm nhận về bài thơ Chiều tối – Hồ Chí Minh

Đối với chủ tịch Hồ Chí Minh – Bác luôn luôn quan niệm rằng “Văn chương phải là thứ vũ khí chiến đấu trên mặt trận văn hóa văn nghệ”. Bác luôn trăn trở rằng viết cho ai , viết cái gì, viết như thế nào, viết để làm gì.

“Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

Nói đến sự nghiệp sáng tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta biết đến ngoài việc là Bác là Bác Hồ kính yêu của chúng ta, là chủ tịch vĩ đại của đất nước Việt Nam. Khi nói đến tên Người – Hồ Chí Minh có một sự nghiêp sáng tác vô cùng đồ sộ và Bác có rất nhiều tác phẩm phục vụ cho cách mạng, phục vụ cho kháng chiến. Nói đến văn chính luận, ta biết đến những tác phẩm đặc sắc như: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Di chúc của Bác” “Tuyên ngôn độc lập”…những tác phẩm này được ra đời trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” của dân tộc. Nói đến “Truyện và kí” , ta biết rằng những bài báo được đăng lên trên những tờ báo của Pháp, đó là việc Bác sử dụng rất nhiều những tác phẩm viết theo cách châm biếm, đả kính, phê phán, lên án…Bác viết những bài này để vạch trần những bộ mặt quỷ dữ và khát máu của Pháp trước toàn thể cộng đồng quốc tế. Với những tác phẩm như là “Những trò lố như là Va-ren và Phan Bội Châu”, “Vi hành” ,…Khi nói đến thơ ca của Hồ Chí Minh, gồm hai mảng chính: Thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm. Tiêu biểu là bài thơ “Chiều tối” viết về cảnh chuyển lao , khi Bác bị áp tải đi bộ trong một buổi chiều.

Trong bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt thì kết cấu của nó bao giờ cũng là “Khai – thừa – chuyển – hợp” . Đọc tác phẩm ta thấy có sự kết hợp nhuần nhị, đó là vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ phương Đông và ở đó là chất thép cao thường của một người tù cộng sản. Đó là sức chiến đấu trong thơ ca của Bác.

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ”

Ở câu thơ thứ nhất, sức mạnh của văn chương dồn đổ lên từ “quyện” thể hiện sự mệt mỏi, sống như những nhà thơ phương Đông Bác Hồ cũng sử dụng hình ảnh “cánh chim” để gọi về buổi chiều . Thế nhưng sự khác biệt ở đây đó là từ “quyện” nó thể hiện sự mệt mỏi.

“Là một trái tim yêu từ ngọn cỏ nhành hoa

Chỉ biết quên mình cho tất cả

Như dòng sông chảy nặng phù sa”

Ở đây Bác nhìn thấu vào trong từng sự vật hiện tượng, đó là sự mệt mỏi sau một ngày dài lam lũ kiếm sống. Cánh chim của chủ tịch Hồ Chí Minh rất khác trong thơ ca phương Đông. Trong thơ ca phương Đông luôn luôn là hình ảnh bầy chim bay về nơi vô định để gợi tả cảnh buổi chiều. “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” . Cánh chim trong tác phẩm lại không bay về chỉ để đơn thuần gợi tả cảnh chiều mà lại bay về rừng đang “quy lâm” để “tầm túc thụ”, đang bay về rừng để tìm chốn ngủ. Đó cũng là khát vọng được đoàn viên của Bác. Bác chạnh lòng nhớ nhà trong một ngày dài bị áp tải ở nơi đất khách quê người. Đó là vẻ đẹp của câu thơ thứ nhất, vừa cổ điển lại rất hiện đại.

“Cô vân mạn mạn độ thiên không”

Ở đây , “cô vân” là chỉ sự cô đơn , cô quạnh trong một ngày dài buổi chiều bị áp tải. Từ nhà lao này sang nhà lao khác, năm ba cây số một ngày. “Mạn mạn” có nghĩa là chậm chậm nó mang hai dấu nặng đi liền keeff, không chỉ đơn thuần là miêu tả chòm mây bay mà ở đây nó thể hiện bước đi nặng trịch của người cộng sản. Cổ đeo gong, chân tay vướng xiềng xích trong một ngày dài bị áp tài. Vì vậy mà ở đây tác giả viết “Cô vân mạn mạn độ thiên không” một chòm mây trôi châm chậm giữa một bầu trời cao rộng.

Khi ta đọc bài thơ này, ta sẽ thấy một nghịch lý, nghĩa là Bác luôn luôn phê phán thơ xưa:

“Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp, Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”

Bác thường lên án , phê phán thơ xưa vì thơ xưa “thiên nhiên” bao giờ cũng là chủ thể còn con người thì nhỏ bé côi cút

“Lang thang trên núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

Vậy mà nay trong thơ của Bác cũng có hình ảnh “cánh chim” hình ảnh “khu rừng” “bầu trời cao rộng” và cả hình ảnh “chòm mây” . Vậy rõ ràng, điều này có gì là nghịch lý không? Mới nghe qua ta tưởng là nghịch lý, nhưng đọc kĩ ngẫm nghĩ lại thì nó vô cùng hợp lí. Bởi, hai câu trên là viết về thiên nhiên thì hai câu thơ sau lại viết về con người. Vậy, thiên nhiên và con người là song hành , ngang bằng nhau. Thậm chí, thiên nhiên chỉ là nền cảnh để con người xuất hiện. Bác Hồ khép lại cảnh trời chiều và mở ra đó là cảnh trời tối

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Mới nghe qua ta tưởng câu thơ ấy là trong sáng, trong trẻo. Một người tù cộng sản, cổ đeo gong, chân tay vường xiềng xích. Vậy mà lại dành tình thương của mình cho người khác, thế nhưng, khi đọc kĩ, ta thấy đây là một sự phê phán lớn. “Ma bao túc” “Bao túc ma hoàn” ở đây nó thể cái vòng quay đều đặn và luẩn quẩn của cái cối xay ngô. Tối rồi mà vẫn còn phải lao động vất vả, đó thể hiện là một xã hội áp bức bất công dưới chế độ Tưởng Giới Thạch. Ta tưởng rằng, bài thơ này mở ra là cảnh buổi chiều và khép lại là cảnh buổi tối. Nhưng không, nhãn tự của bài thơ này chính là hình ảnh “lô dĩ hồng” . Trời đã tối đi thì lò than càng bừng sáng. Một nửa đánh bật bóng đen thui, một nửa cân bằng cả hai âm tiết còn lại. Phải chăng Bác là người tay nắm chắc chân lí, mắt nhìn thấu cõi tương lai. Mặc dù bài thơ này được viết vào những năm 1942 – 1943 của thế kỉ trước, nhưng Bác nhìn thấy màu hồng, thấy cuộc cách mạng tháng Tám ở Việt Nam nhất định thành công thắng lợi. Đó là vẻ đẹp chất thép cao thường của người cộng sản. Đó cũng là lí do khi người ta nói đến chất thép trong thơ Bác, người ta nói rất rõ ra rằng:

“Khi Bác nói trong thơ có thép, ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép ở trong thơ. Có lẽ phải hiểu một cách linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép, mới có tinh thần thép”

Hay Hoàng Trung Thông đã từng viết

“Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh Vần thơ của Bác, vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

Rõ ràng, không một loại nhạc cụ nào có thể giam cầm được trái tim, tâm hồn của người tù cộng sản. Đó chính là sức chiến đấu trong thơ Bác. Bác không nói chuyện thép, không lên giọng thép. Thế nhưng trong thơ của Bác ngập tràn “tinh thần thép” .

Giáo Án Ngữ Văn Lớp 11: Chiều Tối (Mộ) ( Hồ Chí Minh)

(Mộ) – Hồ Chí Minh – Người soạn: Đào Thanh Tuyền – Văn K42A ĐHSPTN * Lời vào bài: Mở đầu tập “Nhật kí trong tù”, HCM viết: “Ngâm thơ ta vồn không ham Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây Ngày dài ngâm ngợi cho khuây Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.” Đó chính là những lời tâm sự mộc mạc khiêm nhường của chiến sĩ, thi sĩ HCM trong tập “Ngục trung nhật kí”. Song nói như nhà văn Lỗ Tấn: “Bắt nguồn từ mạch nước chảy ra đều là nước, bắt nguồn từ mạch máu chỷa ra đều là máu”; bắt nguồn từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn thì dù không chủ ý trở thành nhà thơ song những vần thơ của Bác trong tập “Nhật kí trong tù” vẫn ngời sáng vẻ đẹp của truyền thống và hiện đại. Hôm nay, cô và các em sẽ tìm hiểu bài thơ “Chiều tối” để thấy được vẻ đẹp cổ điển và hiện đại cũng như tinh thần lạc quan yêu đời vượt lên trên hoàn cảnh của Hồ Chí Minh. (GV ghi đầu bài lên bảng) Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt GV: HCM là tác giả rất quen thuộc với mỗi chúng ta. ? Những hiểu biết của em về HCM? GV: Hồ Chí Minh (1890 – 1969) sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước tại làng Sen xã Kim Liên huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Bản thân là một người thông minh ham học hỏi và có lòng yêu nước thương dân sâu sắc. Trong cuộc đời, Người viết văn để phục vụ cách mạng và để lại cho hậu thế một sự nghiệp văn chuơng phong phú về thể loại, đặc sắc trong phong cách biểu hiện. GV gọi HS đọc Tiểu dẫn – SGK 41 ? Nêu hoàn cảnh sáng tác tập NKTT? GV: Như vậy, đây là một cuốn nhật kí bằng thơ được Bác làm trong hoàn cảnh lao tù. Bằng sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển và hiện đại, giữa chất thép và chất tình, cuốn nhật kí đã ghi lại một cách trung thực bộ mặt đen tối của nhà tù TGT, qua đó thể hiện bức chân dung tự hoạ tinh thần của HCM. Chuyển: Trong 134 bài thơ chữ Hán, bài thơ “Chiều tối” là một trong những bài thơ đặc sắc. Vậy vị trí và hoàn cảnh ra đời của bài thơ như thế nào, chúng ta chuyển sang phần 3. ? Vị trí, cảm hứng sáng tác thi phẩm? Chuyển: Để hiểu đc giá trị ND và NT của bài thơ chúng ta chuyển sang II. Đọc – hiểu văn bản GV gọi HS đọc bài thơ. GV: Khi đọc chúng ta chú ý giọng đọc chậm rãi, bình tĩnh, thoáng chút tươi vui ấm áp ở hai câu cuối và nhấn mạnh chữ “hồng”. GV đọc bài thơ. GV: hơn 130 bài thơ của tập nhật kí đc HCM viết bằng những thể thơ khác nhau. ? Bài thơ chiều tối viết bằng thể thơ nào? GV: Thông thường một bài thơ tứ tuyệt đường luật gồm 4 phần : khai thừa chuyển hợp tương ứng với 4 câu thơ. Bằng những cảm nhận ban đầu về bài thơ, em nào có cách chia bố cục khác không? Chúng ta sẽ tìm hiểu theo bố cục 2 phần để thấy được sự vận động của mạch thơ và tứ thơ. Chuyển: Với bố cục 2 phần, Vậy thì btr Tn và btr cs con người ntn chúng ta cùng tìm hiểu. GV: Trong hoàn cảnh chuyển lao vất vả, con ng bị mất tự do, dễ gợi ra giọng điệu thở than mệt mỏi, nhưng ở đây, cảm hứng thơ đến với Bác thật tự nhiên. GV gọi HS đọc 2 câu đầu. ? Bức tranh thiên nhiên đc vẽ ra với những hình ảnh nào? GV: Nếu như trong câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” Thì cánh chim mỏi gợi ra cái rộng dài của rừng mai thì trong thơ Bác lại trĩu nặng một tấm lòng yêu thương. Nhìn dáng chim bay mà lắng nghe được cả sự mệt mỏi của nó sau 1 ngày kiếm ăn vất vả. Trong cảnh đã có tình. Và cái tình ấy đặt trong hoàn cảnh bài thơ ra đời mới trở nên sâu nặng biết bao. GV: Vẫn là những nét chấm phá mang phong vị đường thi, ở câu thơ thứ hai là hình ảnh chòm mây. ? Em có nhận xét gì về hình ảnh chòm mây trong bản dịch và trong phiên âm? Như vậy: làn mây trong nguyên tác có tâm trạng và giàu sức biểu cảm hơn. GV: Hình ảnh cánh chim và làn mây là những thi liệu quen thuộc trong thơ ca cổ điển phương đông. Trong thơ xưa, Lý Bạch viết: “Chúng điểu cao phi tận Cô vân độc khứ nhàn” dịch: “Bấy chim cao bay hết Mây lẻ đi một mình” Có thể thấy rằng: + Cánh chim trong thơ Lý Bạch bay vào cõi vô cùng vô tận, còn cánh chim trong thơ Bác trở về với cuộc sống thường nhật. + Chòm mây của Lý Bạch gợi cảm giác nhàn tản thoát tục, còn làn mây trong cảnh chiều hôm của HCM toát lên vẻ yên ả thanh bình. GV: Hình ảnh cánh chim và chòm mây trong thơ cổ còn có ý nghĩa gợi ra không gian và thời gian. ? Sự xuất hiện của cánh chim có giúp ta xác định được thời gian không? Vì sao em biết đc điều đó? Gv: Cánh chim bay về tổ gợi thời gian lúc chiều muộn, vậy “chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không” gợi ra cho chúng ta một không gian như thế nào? GV: Như chúng ta đã biết: HCM sáng tác bài thơ này trong hoàn cảnh chuyển lao vất vả. Vậy mà Người vẫn hứớng tâm hồn mình tới thiên nhiên để đồng cảm cũng cảnh vật. Qua đó em có cảm nhận NVTT là người ntn? GV: Cánh chim bay về tổ gợi sự sum họp ấm cúng, áng mây lẻ lững lờ trôi cũng giống như thân phận người tù nơi đất khách quê người không biết bao giờ mới đc tự do. Khát vọng tự do và tấm lòng buồn thương nhung nhớ đc Bác gửi trọn vẹn trong cánh chim chiều và chòm mây lẻ. GV: Bức tranh Tn đc vẽ bằng những biện pháp nghệ thuật nào? GV: Như vậy hai câu thơ đầu tiên là bức tranh TN đậm phong vị đường thi. Qua đó hiện lên hình ảnh NVTT yêu tn, lạc quan vượt lên trên hoàn cảnh và có khát vọng tự do. Chuyển: Đó là btr tn. Còn btr cuộc sống con người hiện lên ntn, chúng ta chuyển sang phần b)Hai câu thơ sau. GV gọi HS đọc 2 câu sau. ? Nhận xét sự thay đổi thời gian không gian ? GV : Sự dịch chuyển điểm nhìn của tác giả từ cao xuống thấp, từ xa tới gần từ btr tn đến btr cs con người. ? Trung tâm của btr ấy là hình ảnh nào? GV: Trong thơ xưa, thiên nhiên thường là trung tâm, con ng ít xuất hiện. Nếu xuất hiện, con ng càng nhỏ bé trc TN. Còn trong thơ Bác, hình ảnh con ng trở thành trung tâm của bức tranh. GV: H/a cô gái xóm núi xay ngô toát lên vẻ khoẻ mạnh, nhưng cũng thật bình dị.Nó đem lại chút niềm vui ấm áp trong lao đông của con người. Con ng ấy tuy vất vả nhưng cũng thật tự do tự tại. ? ý nghĩa của điệp vòng ma bao túc và bao túc ma? GV: Điệp ngữ tạo nên sự nối âm liên hoàn nhịp nhàng như cái vòng quay k dứt của cối xay ngô. Qua đó cho thấy sự chuyển dịch của K/g và t/g. ? So sánh câu thơ thứ ba của bản dịch với nguyên tác? GV: Trong nguyên tác, Bác k nói chữ tối mà vẫn gợi đc chiều tối. Nói như GS Lê Trí Viễn: “Thời gian trôi dần theo cánh chim và làn mây, theo những vòng xoay của cối ngô. Quayquay mãi. Và khi cối xay dừng lại thì “lô dĩ hông”, lò đã rực hồng tức trời tối. Trời tối thì lò rực lên.” Đó chính là cái ý tứ kín đáo hàm súc trong thơ bác. GV: Chữ “hồng” được Hoàng Trung Thông coi là nhãn tự của bài thơ. Vậy em cảm nhận đc điều gì qua chữ “hồng”? GV: Với 1 chữ “hồng” Bác đã làm sáng rực toàn bộ bài thơ, làm mất đi sự mệt mỏi, vội vã đã diễn tả ở hai câu đầu. “Chỉ 1 chữ thôi mà cân lại 27 chữ ở trên” I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả: Hồ Chí Minh (1890 – 1969) – Quê: Nam Đàn Nghệ An – Gia đình: Nhà nho yêu nước – Bản thân: Thông minh, yêu nước thương dân sâu sắc. – Sự nghiệp văn học: phong phú, đặc sắc. 2. Tập thơ “Nhật kí trong tù” – Hoàn cảnh ra đời: 8/1942: bị bắt giam vô cớ 8/1942 – 9/1943: sáng tác 134 bài thơ. 3. Bài thơ Chiều tối – Vị trí: bài số 31 – Cảm hứng sáng tác: chuyến đường chuyển lao từ Tĩnh Tây – Thiên Bảo. II. Đọc – hiểu văn bản 1. Đọc văn bản 2. Bố cục – 2 phần: hai câu thơ đầu: btr TN hai câu thơ sau: btr c/s c ng 3. Tìm hiểu văn bản a) Hai câu thơ đầu * Bức tranh thiên nhiên – Chòm mây: lẻ trôi lững lờ trên tầng không. – So sánh dịch thơ và phiên âm: Dịch chưa sát: + cô: cô lẻ + mạn mạn: từ láy gợi nhịp điệu chậm chậm, lững lờ. – Thời gian: chiều muộn – Không gian: bầu trời mênh mông * Nhân vật trữ tình: + yêu thiên nhiên + lạc quan vượt lên trên hoàn cảnh + khát vọng tự do – BPNT: + đề tài, hình ảnh quen thuộc +Bút pháp chấm phá, lấy điểm tả diện. + tả cảnh ngụ tình – Tiểu kết: bức tranh thiên nhiên mang màu sắc cổ điển. b)Hai câu thơ sau * Bức tranh cuộc sống con người: – Hình ảnh cô gái xóm núi xay ngô – Điệp vòng: bao túc ma – ma bao túc + diễn tả vòng quay của cối ngô + nỗi vất vả của cô gái + sự dịch chuyển của t/g, k/g – So sánh dịch thơ và phiên âm: Dịch chưa sát: + sơn thôn thiếu nữ: + Dịch thừa chữ “tối” làm mất sự kín đáo, hàm súc của ý thơ. – Chữ “Hồng”: sưởi ấm btr tn. sưởi ấm lòng người