Đề Xuất 1/2023 # Top 5 Cuốn Sách Hay Nhất Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam # Top 1 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Top 5 Cuốn Sách Hay Nhất Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam # Top 1 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Top 5 Cuốn Sách Hay Nhất Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong kho tàng văn học dân gian nước ta, ca dao tục ngữ Việt Nam vốn đã trở nên rất gần gũi và thân quen đối với mỗi người dân Việt, nó đã phản ánh và truyền tải rõ nét về con người và phong tục tập quán của người dân Việt Nam qua nhiều giai đoạn lịch sử…

Hôm nay chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn Top 5 cuốn sách hay nhất về ca dao tục ngữ Việt Nam qua bài viết sau đây.

1. Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam – Vũ Ngọc Phan

Nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan được biết đến rất nhiều trong sự đóng góp và cống hiến của ông cho nền văn học nước nhà. Ông được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh thuộc lĩnh vực văn nghệ dân gian vào năm 1996.

Sau gần 60 năm cống hiến và nghiên cứu sâu rộng về nền văn học dân gian và hiện đại của nước nhà, ông đã cho ra mắt nhiều tác phẩm có giá trị lớn, có thể kể đến những tác phẩm như: “Nhà văn hiện đại (4 tập, 1942 – 1945)”, “Truyện cổ tích Việt Nam (1955)”, “Những năm tháng ấy” (1987)…

Và đối với cuốn sách Tác phẩm Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam này, được ông ra mắt vào năm 1956. Cuốn sách này đã được tái bản rất nhiều lần và cho đến nay cuốn sách này vẫn còn chứa đựng rất nhiều giá trị về văn học. Cuốn sách như là một công trình nghiên cứu và tìm tòi của tác giả để tổng hợp đầy đủ nên những câu tục ngữ, ca dao, dân ca… của các anh em dân tộc ở Việt Nam. Qua đó, cho chúng ta thấy sự đa dạng và phong phú trong ca dao tục ngữ Việt Nam, nhằm phản ánh thói quen sinh hoạt, phong tục tập quán và tâm tư tình cảm của người dân trên khắp đất nước Việt Nam chúng ta

2. Từ Điển Thành Ngữ Và Tục Ngữ Việt Nam – Nguyễn Lân

Cuốn sách Từ Điển Thành Ngữ Và Tục Ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Lân sẽ sưu tập và tổng hợp lại đầy đủ những câu thành ngữ và tục ngữ để giúp bạn tra khảo và tìm kiếm chúng mỗi khi cần đến. Các câu thành ngữ và tục ngữ trong cuốn sách được tác giả sắp xếp theo thứ tự của bảng chữ cái như một cuốn từ điển nhằm giúp người đọc dễ dàng tra cứu và tìm kiếm.

Thông qua cuốn sách này, sẽ giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về ý nghĩa của câu thành ngữ và tục ngữ đó để biết cách vận dụng và sử dụng chúng một cách thật phù hợp và linh hoạt trong văn nói, văn viết, hay các giao tiếp hàng ngày.

3. Vui học Thành Ngữ Tục Ngữ Ca Dao Bằng Tranh – Mai Hương (Sưu tầm, Biên soạn)

Ngoài ra, bên dưới mỗi câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao còn được tác giả chèn thêm lời giải thích ngắn gọn và đơn giản để giúp các em nhỏ dễ dàng tìm hiểu và nắm bắt các ý nghĩa, quan điểm của từng câu trong sách, được minh họa bằng hình ảnh tạo nên sự sinh động, gần gũi để tạo hứng thú và khả năng ham học hỏi của các em khi đọc cuốn sách này.

Mong rằng cuốn sách này sẽ là một người bạn thân thiết và bổ ích đối với các em nhỏ trong việc tìm tòi và học hỏi thêm về nền văn học dân tộc Việt Nam của đất nước mình.

4. Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam – Vân Anh (biên soạn)

Ca dao tục ngữ về thiên nhiên, quê hương, đất nước và con người Việt Nam.

Ca dao tục ngữ về tình yêu nam nữ, hôn nhân gia đình và chuyện tình cảm, cảm xúc con người.

Ca dao tục ngữ nói về các giai đoạn lịch sử của Việt Nam, thường tập trung ở thời kỳ phong kiến.

Qua một kho tàng ca dao tục ngữ dân gian đồ sộ của Việt Nam, chính là những thông điệp, bài học, lời khuyên nhủ thiết thực và gần gũi mà ông cha ta từ thời xa xưa muốn nhắn gửi và truyền đến các thế hệ con cháu sau này của mình. Từ đó, khơi gợi lòng yêu thương, tình yêu lứa đôi, tình yêu gia đình và nhất là tình cảm quê hương đất nước.

5. Tục Ngữ Phong Dao – Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc

Tác giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc vốn được sinh ra và lớn lên ở Hải Dương. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã có những đóng góp to lớn đối với nền văn học của nước nhà nói chung và văn học dân gian nói riêng. Ông cũng đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu và cho ra mắt rất nhiều cuốn sách được viết bằng nhiều thứ tiếng khác nhau như tiếng Hán, tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ… điều này cho thấy trình độ kiến thức sâu rộng của ông cũng như tài năng đặc biệt trong việc biên soạn các thể loại sách như sách giáo khoa, sách tham khảo nghiên cứu chuyên môn….

Quay trở lại với cuốn sách Tục ngữ phong dao này của tác giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, đây được coi là một tác phẩm ví như là một kho vàng chung của toàn nhân loại. Cuốn sách được tác giả tổng hợp đầy đủ những câu tục ngữ, ca dao, dân ca… phổ biến ở khắp các vùng miền đất nước ở Việt Nam ta. Nhờ thế, giúp cho người đọc nhận biết sự đa dạng và phong phú trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam, nhằm tăng thêm sự hiểu biết và thêm quê hương đất nước con người Việt Nam.

Bạn đang đọc các câu chuyện cổ tích tại website chúng tôi – Kho tàng truyện cổ tích chọn lọc Việt Nam và Thế Giới hay nhất và ý nghĩa cho mọi lứa tuổi dành cho thiếu nhi, tổng hợp trên 3000 câu chuyện cổ tích chọn lọc hay nhất Việt Nam và thế giới. Tại chúng tôi luôn được cập nhật thường xuyên, đầy đủ và chính xác nhất về truyện cổ tích giúp bạn dễ dàng tìm kiếm cho mình câu truyện cổ tích cần tìm.

Danh sách những truyện cổ tích việt nam hay nhất: Truyền thuyết Thánh gióng, truyện cổ tích tấm cám, sọ dừa, truyền thuyết về Sơn Tinh – Thủy Tinh, truyền thuyết hồ hoàn kiếm, sự tích trầu cau, sự tích con rồng cháu tiên, truyền thuyết thành cổ loa, Cóc kiện trời, Sự tích Táo Quân, chú thỏ tinh khôn, Sự tích chùa Một cột, Chàng ngốc học khôn, Sự tích sấm sét, Sự tích hoa Mào gà, Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung, truyện cổ tích trí khôn của ta đây, Sự tích con chuồn chuồn, Sự tích Hòn Vọng Phu, Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy, sự tích cây khế, Sự tích Thánh làng Chèm, Sự tích thỏ tai dài đuôi ngắn, Sự tích hoa mười giờ, Sự tích chim Quốc, Sự tích công chúa Liễu Hạnh, Cây táo thần, thạch sanh,…

Tổng hợp các câu chuyện cổ tích thế giới hay và ý nghĩa nhất, truyện cổ grimm, truyện cổ Andersen, cổ tích thần kỳ: Nàng công chúa ngủ trong rừng, Alibaba và bốn mươi tên cướp, Nàng công chúa chăn ngỗng, Cô bé lọ lem, Chú bé tí hon, Ông lão đánh cá và con cá vàng, nàng bạch tuyết và bảy chú lùn, Truyện cổ tích Bà chúa tuyết, Aladdin và cây đèn thần, Ba sợi tóc vàng của con quỷ, Hoàng tử ếch, Con quỷ và ba người lính, Cô bé quàng khăn đỏ,…

Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Nam

1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say Bạn về đừng ngủ gác tay Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo

2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết…

3- Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai, Ðể sầu cho khách vãng lai, Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu

5- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be. Thiếp nói thì chàng phải nghe Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau Lạy trời, mưa xuống cho mau Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng

6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần

7- Chiều chiều mây phủ ải vân Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn

8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm

9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh

10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi

11- Ai đi cách trở sơn khê Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng

12- Hội An đất hẹp, người đông Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu

13- Hội An bán gấm, bán điều Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành

-14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ

15- Chồng em là lái buôn tiêu Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng

-16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần.

17- Nem chả Hòa Vang Bánh tổ Hội An Khoai lang Tiên Ðỏa Thơm rượu Tam Kỳ Ai đi cách trở sơn khê, Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng . Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất.

18.- Hội An đất hẹp, người đông , Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu . Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây.

19.- Hội An bán gấm, bán điêù Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An.

20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào, Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công, Không mai thì mốt, hồi công, Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc.

21.- Năm hòn nằm đó không sai, Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui, Ngó về Cửa Ðại, than ôi, Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình. Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác .

22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng, Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ . Quay tơ vẫn giữ mối tơ, Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh . Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng. 23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực giữa 2 miền,trong muà mưa gió .

24- Lụt nguồn trôi trái lòn bon , Cha thác, mẹ còn ,con chịu mồ côi . Mồ côi ba thứ mồ côi. Mồ côi có kẽ trâu đôi, nhà rường Lòn bon là môt loại trái cây,ngọt, sản xuất tại vùng núi huyện Ðại lộc, muà mưa lụt, nước lụt kéo trôi trái lón bon, mồ côi cha không quan trọng bằng mồ côi mẹ, vì bà mẹ biết lo cho gia đình, tuy mồ côi cha,nhưng nhờ mẹ mà nhà có trâu và nhà gỗ.

25- Trà My sông núi đượm tình, Nơi đây là chỗ Thượng Kinh chan hoà. Trà My là một huyện miền Thượng tỉnh Quảng Nam,có cả Thượng Kinh chung sống.

26.- Quế Trà My thứ cay, thứ ngọt , Nhờ tay thợ rừng mới lọt tay anh, Phân du, bạch chỉ rành rành , Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân. Trà My là huyện chuyên sản xuất quế rừng, được các tay thợ rừng lột vỏ, cắt đoạn, và sắp xếp theo các hạng để định giá xuất khẩu.

27- Gập ghềnh Giảm thọ , Ðèo Le . Cu ngói cõng mè, cà cưỡng cõng khoai. Dốc Giảm thọ và Ðèo Le là 2 cao độ đi lên huyện lỵ Quế Sơn, trèo qua 2 đèo nầy thì chắc giảm thọ và mệt le lươĩ.

28.-Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông. Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn , Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn , Ðào sông Câu Nhí, tìm vàng Bông Miêu , Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi Thầy, Mẹ, sớm chiều cũng có Anh . Hàn tức là tên cũ cuả Ðà nẵng, Hà Thân là xã ở bên kia sông, Tây tức là người Pháp, sông Câu Nhí là sông do người Pháp lúc mới cai trị Ðànẵng cho đào chạy qua cầu Cẩm Lệ, chàng dặn dò người yêu cố gắng ở với cha mẹ,chờ chàng về.

29.- Kể từ đồn Nhứt kể vô, Liên Chiêủ, Thuỹ Tú, Nam Ô , xuống Hàn, Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang . Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra. Ngó lên chợ Tổng bao xa, Bước qua Phú Thượng, Ðai la, Cồn Dầøu Cẩm Sa, Chơ Vãi, Câu Lâu. Ngó lên đường cái, thấy cầu Giáp Năm. Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm , Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ .

Ðồn Nhứt là đồn gác số 1 đóng trên đèo Hải Vân và từ đó kể vào toàn là những địa danh cho đến huyện Ðiện Bàn.

31.- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be . Thiếp nói thì chàng phải nghe, Thức khuya, dậy sớm, làm che l ngày 12 xu, Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo , Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau, Lạy trời, mưa xuống cho mau. Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng 32- Quế Trà My thứ cay thứ ngọt Bởi anh thợ rừng mới lọt tay anh Phàn du, bạch chỉ rành rành Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân

33- Kể từ Ðồn Nhất kể vô Liên Chiểu, Thủy Tú, Nam Ô, xuống Hàn Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra Ngó lên chợ Tổng bao xa Bước qua Phú Thượng, Ðại La, Cồn Dầu Cẩm Sa, Chợ Vải, Câu Lâu Ngó lên đường cá, thấy cầu Giáp Năm Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm, Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ.

34- Đá than thì ở Nông Sơn Bông Miêu vàng bạc, Quế Sơn có chè Thanh Châu buôn bán nghề ghe Thanh Hà vôi ngói, mía che Đa Hoà Phú Bông dệt lụa, dệt sa Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng

35- Nhớ cô dệt đũi chợ Chùa Rượu ngon chợ Vạn bốn mùa anh say

36- Phú Lộc ngan ngát hương thơm Ai đi đến đó chiều hôm quên về

37- Nhất Phước Kiều đám ma Nhì Thanh Hà nhà cháy

38- Ai về Chợ Vạn thì về Chợ Vạn có nghề nấu rượu, nuôi heo

39Ai về Bàu Ấu thì về Bầu Ấu có nghề đan giỏ, cào nghêu

Ai về Trà Quế mà coi Trà Quế có nghề giâm giá đậu xanh

40- Bảo An có thợ nấu đường Vừa vôi, thén khéo chẳng nhường nhịn ai

-41 Quê em có núi Ngũ Hành Có nghề khắc đá lừng danh khắp vùng.

42- Ngó lên Hòn Kẽm đá dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi Thương cha nhớ mẹ thì về Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng

Ca Dao Tục Ngữ Về Bạn Bè, Tình Bạn Hay Nhất

Ca dao tục ngữ về tình bạn hay nhất​

Tình bạn là gì? Tình bạn là tình cảm của một người biết quan tâm, giúp đỡ, đồng cảm với người mà bạn tin tưởng để chia sẽ những niềm vui, nỗi buồn.

Tình bạn có thể chia ra nhiều giai đoạn: tình bạn trong giai đoạn ngắn, tình bạn lâu dài (hoặc cả đời), tình bạn xã giao (hay gọi là bạn bè xã giao).

Những câu ca dao tục ngữ về tình bạn hay nhất 1.

Đã là bạn thì mãi mãi là bạn Đừng như sông lúc cạn lúc đầy​

Ý muốn nói hãy luôn là bạn của nhau, mặc dù sau này có những người bạn mới cũng đừng quên bạn năm xưa.

2

Bạn bè là nghĩa tương tri Sao cho sau trước một bờ mới nên​

Đã là bạn bè thì trước sau như một, luôn bên cạnh nhau lúc cần.

3.

Ai ơi nhớ lấy câu này Tình bạn là mối duyên thừa trời cho​

Ý muốn nhắc nhở tình bạn là duyên trời cho, cho nên đừng đánh mất tình bạn.

4.

Bắt con cá lóc nướng trui Làm mâm rượu tắng đãi người phương xa​

Tức là 2 người bạn sau khi gặp lại thì người kia đón tiếp bạn 1 cách nồng hậu, thể hiện tình bạn cao đẹp.

5.

Cho tôi tôi chọn hoa hồng Cho tôi chọn bạn tấm lòng thủy chung​

Luôn đề cao tình bạn, không quên tình nghĩa khi xưa.

6.

Mực xanh giấy trắng viết ngắn còn dài Mong rằng tình bạn nhớ hoài ngàn năm​

Một so sánh rất hay giữa “mực xanh giấy trắng” và tình bạn. ý muốn nói hãy luôn tôn trọng và giữ gìn tình bạn.

7.

Sống trong bể ngọc kim cương Không bằng sống giữa tình thương bạn bè​

Câu này khá thâm thúy, cho dù có giàu sang mấy đi nữa, thì không có tình bạn cuộc đời thật nhàm chán/

8.

Tình bạn tươi thắm như hoa Tình bạn là bản tình ca tuyệt vời​

Tình bạn luôn tươi đẹp như hoa thể hiện 1 tình bạn luôn vui vẻ, tình bạn như bản tình ca thể hiện sau này vẫn mãi mãi bên nhau.

9.

Bạn bè là nghĩa tương thân Khó khăn thuận lợi ân cần bên nhau.​

Ý muốn nói bạn bè thì bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào hãy luôn giúp đỡ nhau.

10.

Bạn bè là nghĩa trước sau Tuổi thơ cho đến bạc đầu không phai.​

Ý muốn nhắc nhở hãy luôn giữ tình bạn trường tồn theo thời gian cho dù sau này có già nua đi chăng nữa.

11.

Khi nào trái đất còn quay Trái tim còn đập vẫn là bạn nhau.​

Câu này dễ: trọn đời bên nhau ^^

12.

Mùa hoa phượng là mùa thi cử

13.

Thói thường gần mực thì đen Anh em bạn hữu phải nên chọn người Những người lêu lổng chơi bời Cùng là lười biếng ta thời tránh xa.​

Khuyên chúng ta nên chọn bạn mà chơi, hãy chọn những bạn tốt đẹp, chứ đừng chọn những bạn không tốt, sau này ta cũng sẽ học hỏi theo thói xấu của bạn.

14.

Anh em bốn bể là nhà Người dưng khác họ vẫn là anh em.​

Có ý nghĩa muốn nhắn nhủ với chúng ta luôn đoàn kết, cho dù không phải là dòng họ nhưng sống cùng chung 1 nước thì nên đùm bọc nhau.

1.

Ăn chọn nơi, chơi chọn bạn.​

Khuyên chúng ta nên chọn bạn để chơi, đừng nên chơi với những bạn có thói xấu.

2.

Ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu.​

Muốn nhắn nhủ những người đang là bạn của nhau thì hãy luôn sát cánh bên nhau dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

3.

Thêm bạn bớt thù.​

Hãy luôn tìm kiếm những người bạn mới để tránh những thù hận đáng tiếc trong cuộc sống.

4.

Chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở​

Nên chọn bạn tốt mà chơi, đừng theo những bạn xấu, sau đó bạn sẽ học theo những thói xấu ảnh hưởng tới bạn và nặng hơn là gia đình bạn.

5.

Trong hoạn nạn mới biết ai là người bạn tốt.​

Tức là trong hoàn cảnh khó khăn nhất thì mới biết được ai là bạn ai là thù, ai là người giúp ta và ai là người bỏ rơi.

6.

Học thầy không tày học bạn.​

Hãy luôn học hỏi những điều tốt đẹp từ bạn.

7.

Giàu đổi bạn sang đổi vợ.​

Đã là bạn bè tốt thì phải quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, giúp nhau cùng phát triển, như thế sẽ mang lại cuộc sống giàu có, sung túc cho cả bản thân và bạn bè.

8.

Tứ hải giai huynh đệ​

Có ý nghĩa là nghĩ lạc quan rộng rãi, bốn bể là nhà và tất cả đều là anh em bạn bè.

Khánh Hòa Qua Ca Dao, Tục Ngữ

Khánh Hòa có nhiều cảnh đẹp. Đây là bãi biển Nha Trang:

“Bãi biển Nha Trang mịn màng, trắng trẻo      Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh      Đêm đêm thơ thẩn một mình      Đố sao cho khỏi vướng tình nước mây?” (1)

Đặc biệt, ở Khánh Hòa có khu di tích Tháp Bà, thuộc phường Vĩnh Phước, TP. Nha Trang. Đây là một trong những kiến trúc đền tháp Chăm còn lại đẹp nhất hiện nay, đã được Nhà nước công nhận là di tích văn hóa quốc gia. Hàng năm cứ đến ngày 23 tháng ba (lịch trăng), lễ hội Tháp Bà được tổ chức rất lớn. Trong lễ hội, ngoài lễ tắm tượng, còn có múa quạt, múa đèn, dâng bông, hát bóng. Hiện nay dưới chân Tháp Bà còn có một làng gọi là Xóm Bóng (xóm của những người hát bóng chuyên nghiệp (2). Trước khi Nhà nước ta xếp hạng, công nhận di tích này, ca dao địa phương đã lưu giữ nó trong tâm trí nhiều người:

“Ai về xóm Bóng quê nhà

Hỏi thăm điệu múa Dâng Bà còn không?”

Nhiều địa danh thuộc tỉnh Khánh Hòa được nhắc đến trong mảng ca dao, tục ngữ nói về thời tiết:

+     Bao giờ Hòn Đỏ mang tơi

       Hòn Hèo đội mũ thì trời sắp mưa.

+ “Mưa Đồng Cọ, gió Tu Hoa, cọp Ô Gà, ma Đồng Lớn” (Đồng Cọ thuộc tỉnh Phú Yên).

Trầm hương, đặc biệt là kỳ nam ở Khánh Hòa thì không đâu sánh bằng. Dân địa phương đã đúc kết kinh nghiệm phân biệt giá trị các loại kỳ nam: “Nhất bạch, nhì thanh, tam huỳnh, từ hắc”. Trong số ba tỉnh có yến sào (Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa), thì sản lượng và chất lượng của Khánh Hòa là cao nhất. Hơn một lần ca dao đã ca ngợi hai đặc sản trầm hương và yến sào của tỉnh này:

+ “Khánh Hòa là xứ Trầm Hương

 Non cao biển rộng, người thương đi về

 Yến sào mang đậm tình quê

 Sông sâu đá tạc lời thề nước non”.

 + “Khánh Hòa biển rộng non cao

 Trầm hương Vạn Giã, yến sào Nha Trang”.

 + “Tỉnh Khánh Hòa đậm đà mưa nắng

 Non chồng nghĩa nặng, nước chứa tình thâm

 Ngọn gió bay phảng phất hơi trầm

 Mây xây tháp bút, trăng dầm bến ngân”.

Tỉnh Bình Định có loại nhà “mái lá”, tường bằng gạch hay bằng đất sét nện rất dày, mái nhà cũng có một lớp đất sét nện cách nhiệt, do đó mùa nắng thì mát mẻ, mùa đông lại ấm áp, còn tránh được hỏa hoạn. Tỉnh Phú Yên có đồng ruộng màu mỡ, Khánh Hòa có trâu tốt. Chỉ với hai dòng lục bát, ca dao Nam Trung bộ đã ghi nhận:

“Tiếng đồn Bình Định tốt nhà

Phú Yên tốt ruộng, Khánh Hòa tốt trâu”.

Có khi ca dao tập trung phản ánh cảnh và vật của một địa phương. Nhưng cũng có khi một bài ca dao đã phản ánh hiện thực của nhiều địa phương; trong trường hợp này thật khó mà tách bạch đâu là ca dao Bình Định, đâu là ca dao Phú Yên, đâu là ca dao Khánh Hòa:

“Anh về Bình Định thăm cha

Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em”.

    Để giữ gìn non sông tươi đẹp, để bảo vệ thành quả lao động của cha ông, nhiều khi người dân đã phải cầm vũ khí chống giặc ngoại xâm. Dưới hình thức hỏi đáp, ca dao Khánh Hòa đã tạc bia ghi công những người con ưu tú của tỉnh nhà.

Đầu tiên cô gái hỏi:

“Tiếng đồn anh hay chữ

Lại đây em hỏi thử

Đôi câu lịch sử Khánh Hòa

Từ ngày Tây cướp nước ta

Những ông nào đã dựng cờ khởi nghĩa,

Anh hãy nói ra cho em tường?”

Chàng trai trả lời:

Nghe lời em hỏi mà thương!

Thương người nghĩa kiệt, tơ vương vấn lòng

Vì thù non sông

Thề không đội trời chung với giặc

Từ Nam chí Bắc

Thiếu chi trang dạ sắt, gan đồng

Ở Khánh Hòa thì có ba ông

Ông Trần Đường giữ đèo Dốc Thị

Ông Trịnh Phong trấn nơi biển Cù

Ông Nguyễn Khanh lo việc quân nhu

Ba ông một bụng nghìn thu danh truyền”

Cô gái đâu đã “chịu thua”:

“Ba ông là bậc anh hiền

Gọi “Khánh Hòa tam kiệt”

Người người đều biết

Đều thương đều tiếc

Chưa thỏa nguyền núi sông

Tấm thân xem nhẹ như lông hồng

Hỏi anh còn nhớ “Quảng Phước tam hùng” là ai?”

Cũng may là chàng trai không phải tay vừa:

“Dám đâu quên kẻ anh tài

Rèn gan sắt đá khôn nài bể dâu

Gương phấn dũng làu làu Phạm Chánh

Cùng Phạm Long chung gánh nước non

Cha con trung nghĩa vẹn tròn

Cùng Nguyễn Sung nguyện mất còn có nhau

Bao phen cay đắng hận thù

Tam hùng, tam kiệt nghìn thu trăng rằm”

Người Khánh Hòa rất giàu tình cảm:

“Gió đâu bằng gió Tu Bông

Thương ai bằng: thương cha, thương mẹ, thương chồng, thương con?”

Ca dao thường được sáng tác theo thể lục bát. Nói đến thể thơ này, người ta thường nghĩ đến đơn vị tế bào của nó là hai dòng: trên sáu tiếng (lục) và dưới tám tiếng (bát). Tuy nhiên, để thể hiện nội dung tình cảm phong phú, trong lời ca dao vừa dẫn, người xưa đã sử dụng hình thức lục bát biến thể. Ở hình thức này, số tiếng của dòng dưới đã được thay đổi (kéo dài thành 11 tiếng), chỉ có số tiếng của dòng trên và khuôn hình vần vẫn được giữ (Bông vần với chồng).

“Yến sào Hòn Nội

Vịt lội Ninh Hòa

Tôm hùm Bình Ba

Nai khô Diên Khánh

Cá tràu Võ Cạnh

Sò huyết Thủy Triều…

Đời anh cay đắng đã nhiều

Về đây sớm ngọt, ngon chiều với em”

    Ở bài khác, người dân không chỉ dùng thể hỗn hợp, hình thức lục bát biến thể, mà còn sử dụng các địa danh để thể hiện tình cảm tha thiết và quyết tâm chung thủy:

“Anh đứng ở Nha Trang

Trông sang xóm Bóng

Ánh trăng lờ mờ, lượn sóng lăn tăn

Gần nhau chưa kịp nói năng

Bây giờ sông cách, biển ngăn ngại ngùng!

Biển sâu con cá vẫy vùng

Sông sâu không dễ mượn dòng đưa thư

Anh nguyền cùng em:

Bao giờ Hòn Chữ bẻ tư

Biển Nha Trang cạn nước, anh mới từ duyên em”.

Hòn Chữ là một hòn đá rất to như một ngôi nhà nằm nơi bãi sông Cù, trên có khắc chữ Chăm cổ. Các nhà khảo cổ học ngờ rằng hòn đá xưa kia nằm trên núi Tháp Bà do đất lở, lăn xuống dòng sông. Bài ca dao đang phân tích có ba cặp lục bát thì cặp thứ ba là lục bát biến thể (dòng trên sáu tiếng, dòng dưới: mười).

Thể song thất lục bát cũng có mặt trong ca dao tình yêu của Khánh Hòa:

“Đứng ở Hòn Chồng, trông sang Hòn Yến

Lên Tháp Bà, về viếng Sinh Trung

Giang Sơn cẩm tú chập chùng

Đôi ta gắn bó thủy chung một lòng”

Nói đến thể song thất lục bát là nhắc đến một thể thơ mà đơn vị tế bào của nó gồm bốn dòng: hai dòng thất (mỗi dòng bảy tiếng) và một cặp lục bát. Ở bài ca dao vừa dẫn, tác giả đã sử dụng hình thức song thất lục bát biến thể (ở hai dòng thất là tám tiếng và bảy tiếng).

Qua một số bài ca dao đã phân tích, chúng ta hay bắt gặp hình thức biến thể. Hiện tượng này cho thấy hai điều. Thứ nhất, sáng tác dân gian chưa được kỳ công, tinh xảo như văn chương bác học. Văn chương bác học không có hình thức biến thể, thêm bớt số tiếng. Thứ hai, sáng tác dân gian thể hiện sự phóng khoáng hồn nhiên, không gò bó theo hình thức của người bình dân (2).

Qua ca dao, tục ngữ lưu truyền ở Khánh Hòa, chúng ta có thể cảm nhận được rằng: Nơi đây không chỉ có cảnh đẹp, thức ăn ngon, lâm sản quý, mà còn có những con người thủy chung, nồng hậu, biết trân trọng giữ gìn những gì tốt đẹp của truyền thống.

NGUYỄN XUÂN KÍNH

(1) Nam Trung bộ do Thạch Phương, Ngô Quang Hiển biên soạn, NXB KHXH, Hà Nội, 1994.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Top 5 Cuốn Sách Hay Nhất Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!