Đề Xuất 1/2023 # Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay # Top 1 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay # Top 1 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

THẾ NÀO LÀ MỘT BÀI THƠ HAY? Tác giả: Mai Thanh Nguồn:http://luuhong.blogspot.com/2013/05/the-nao-la-mot-bai-tho-hay-mai-thanh.html

Nhà thơ Nguyễn Hoàng – Hội trưởng kiêm Trưởng ban quản trị trang mạng “Đến với những bài thơ hay” gửi tới tôi bài viết “Một quan niệm về một bài thơ hay” của tác giả Xuân Vũ Trần Ðình Ngọc.

Bài viết ấy nêu rõ, bài thơ hay là bài thơ có lời hay, ý đẹp, truyền cảm, cùng với âm điệu, tiết tấu.

Tôi chia sẻ những ý kiến của tác giả Xuân Vũ Trần …………Đình Ngọc; đồng thời, hoan nghênh Hội và Trang mạng “Đến với những bài thơ hay” đã mở cuộc trao đổi đầy ý nghĩa này!

Nhân đây, tôi nêu vài ý kiến trao đổi cùng các bạn về đề tài “Thế nào là một bài thơ hay?”.

1.Hãy bắt đầu xem xét các yếu tố cấu thành một bài thơ: Với cách gọi bằng ngôn từ phổ cập, đó là nội dung và hình thức bài thơ. Với cách gọi đặc trưng thi ca, đó là ý tưởng và ngôn ngữ thi ca. Khái niệm ý tưởng có vẻ còn chung chung, nên có thể gọi đặc trưng hơn, đó là thi tứ; cũng như vậy, khái niệm ngôn ngữ thơ được chi tiết và thi ca hóa hơn, đó là thi từ-thi ngữ, là vần và điệu (còn gọi là thi vận và thi điệu). 

Ngoài ra, phải nói đến yếu tố cảm xúc và cảm nhận thi ca của chủ thể sáng tạo và khách thể tiếp nhận của thơ – yếu tố này không thể xếp vào hệ thống cấu thành bài thơ như đã nêu trên, nhưng rất có ý nghĩa trong khuôn khổ xem xét một bài thơ hay. Cảm xúc và cảm nhận thi ca xuất phát từ hoàn cảnh, trình độ, xu hướng và cường độ sáng tạo và cảm nhận thi ca – là nền tảng cho các yếu tố nói trên hình thành và phát triển; là điểm đứng cho người thơ khi sáng tạo và cho độc giả khi tiếp nhận bài thơ.

2.Bài thơ hay là bài thơ có các yếu tố cấu thành của bài thơ đều hay, hoặc có nhiều yếu hay trong hệ thống các yếu tố cấu thành ấy. Cụ thể là:

– Về thi tứ, người xưa nói: “ Thi mạch kỵ lộ”, có nghĩa, ý thơ không lộ liễu, “không phải đọc lên là hiểu liền” mà phải ngẫm suy qua hình thức của ngôn ngữ. Ví dụ, hai câu thơ: “Anh em đồng chí chúng ta/Cùng nhau đoàn kết để mà đánh Tây” khi đọc lên hiểu liền, nhưng với hai câu khác: “Đêm đồng đội tôi đôi bàn chân sắt/Để mai ngày đạp đổ ngọn Pù – nhông, thì tuy thi tứ của hai câu gần giống nhau, nhưng hai câu sau hay hơn, bởi trước hết, là mạch thơ kín đáo; sau nữa, là do thi từ-thi ngữ góp phần.

Văn chương-nghệ thuật đòi hỏi luôn mới, đồng nghĩa với sáng tạo. Sự lặp lại người đi trước là điều không thể chấp nhận, thậm chí là tai họa của văn chương nghệ thuật, bởi vậy, bài thơ hay đòi hỏi mới về tứ. Chẳng hạn, đề tài tình yêu trong thi ca quả là đề tài muôn thưở, nhưng mỗi thế hệ thi nhân, mỗi tác phẩm thi ca thể hiện luôn khác nhau. Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính đượm màu thôn quê, luyến nhớ, có phần buồn tủi, trong thơ Xuân Diệu đắm say, háo hức và vội vàng, trong thơ Xuân Quỳnh sâu đằm và dịu ngọt… Sự khác biệt ấy, khiến tác phẩm thi ca của họ đều hay trong sự khác biệt.

-Về ngôn ngữ thơ, như trên đã nói , bao gồm : thi từ , nôm na là từ; thi ngữ là cụm từ hoặc câu trong thơ. Ngôn ngữ thơ theo nghĩa rộng gồm cả vần và điệu của thơ. Vần thì rõ rồi, đó là luật gieo vần đối với các thể loại thơ như lục bát, song thất lục bát, thơ khổ với dòng 5-6-7-8… chữ, v.v… 

Thơ tự do không có vần, nhưng nhất thiết có điệu, hơn thế, còn có vần hạn chế. Điệu gồm âm điệu, nhạc điệu, tiết tấu – cụ thể là câu thơ được được ghép những từ có thanh bằng-thanh trắc hợp lý phù hợp với thi tứ cần diễn đạt; nhạc điệu là câu thơ có hình thức lên bổng – xuống trầm như khúc ca vậy. Nhìn chung, thơ tự do đều có vần hạn chế. Ví dụ, bài thơ “Đất nước” thuộc thể thơ tự do của nguyễn Đình Thi có những câu sau đây:

Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

Súng nổ rung trời giận dữNgười lên như nước vỡ bờNước Việt Nam từ máu lửaRũ bùn đứng dậy sáng lòa

Dẫu là thơ tự do, nhưng bài thơ trên vẫn có hình thức vần nhất định.

Cũng giống như thi tứ, ngôn ngữ thơ luôn được sử dụng “đắt” kho tàng ngôn ngữ hiện có. Người thơ là người “thợ chữ”, bởi thế, họ phải là nhà “tỷ phú” về ngôn từ! Họ còn là nhà sáng tạo ngôn ngữ, là người làm giàu cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc. Có thể kể nhiều chuyện về sáng tạo thi ca từ đông tây-kim cổ. Song, chỉ kể một chuyện xảy ra trên trang mạng Yahoo cách nay vài năm.

Thơ ngày càng phát triển – từ thơ có vần, đến thơ tự do , rồi nữa, thơ văn xuôi…thơ “như nói”…Không ít trường hợp, thơ không những không vần mà còn không có điệu nữa!

Thơ còn được gọi là thi ca – chữ ca hàm ý là vần điệu của thể loại văn chương-nghệ thuật này; và đó chính là đặc trưng của thơ. Không thể tưởng tượng một bài thơ không vần hoặc điệu. Có người nói có lý rằng, “nếu thơ làm không vần điệu, thì làm văn xuôi cho rồi!”. Vì có đặc trưng âm thanh trầm bổng, ngắn dài, luyến láy mà âm nhạc lay động hồn người. Đó là ưu việt của nhạc. Vần và điệu trong thơ được thừa hưởng phần nào nét ưu việt đó – dại gì mà người làm thơ tự tươc bỏ nó đi? Ngoài thi tứ, thi từ-thi ngữ, vần và điệu trong thơ là các yếu tố tạo nên bài thơ hay, nếu nhà thơ nhận thức và thực hành có ý thức trong sáng tạo thi ca của mình ! (Còn nữa)

THẾ NÀO LÀ MỘT BÀI THƠ HAY (Tiếp theo và hết)

Như trên đã nói, yếu tố cảm xúc thi ca của tác giả là nền tảng cơ bản của sáng tạo thi ca. Và, với độc giả, nó là điểm đứng chung cho tác giả sáng tạo và độc giả cảm nhận bài thơ. Điều này khiến thơ trở nên như là hiện tượng bí ẩn, đến mức như là khó hiểu, nên có người buông ra nhận định về thơ một cách cũng khó hiểu nốt, ví dụ: “Thơ hay tự nó nói lên…, không cần thẩm bình(!)”, “Thơ hay vì là nó hay(!)”,… 

Ta biết rằng, xuất phát của thơ là cảm xúc để bộc lộ cảm xúc riêng của bản thân người viết, với các yếu tố cấu thành, bài thơ ra đời. Đến lượt nó, bài thơ đến với độc giả và nó trở thành điểm đứng cho sự cảm nhận của độc giả. Sự cảm nhận này vô cùng phong phú và đa dạng xuất phát từ hoàn cảnh cảm xúc, trình độ nhận thức cũng như xu hướng và mức độ… rất khác nhau. 

Ví dụ, một bài thơ viết về người phụ nữ cô đơn, thường gây xúc động, và do đó, được cảm nhận là bài thơ hay đối với nhiều người phụ nữ thuộc hoàn cảnh ấy hoặc đối với ai đồng cảm với những người phụ nữ có hoàn hoàn cảnh ấy. 

Một bài thơ triết luận-xã hội sẽ được những ai hiểu biết và quan tâm về các vấn phân tích-phản biện xã hội cho là hay, trong khi những người khác không quan đến những vấn đề này lại cho là bài thơ dở, đôi khi còn bị ai đó chê bai là “chính trị hóa thi ca” nếu xu hướng cảm xúc của ai đó chỉ thuộc dạng thơ trữ tình…Từ đó, dẫn đến tình hình là: Cùng một bài thơ, người này khen hay, người kia không cho là hay, thậm chí còn chê là dở! Người phê bình văn học coi đó là sự đa dạng cảm nhận thi ca. Tuy nhiên, công tác phê bình văn học vẫn phải đánh giá một tác phẩm thi ca theo chuẩn mực chung của phê bình văn học. Một tác phẩm thi ca hay, không nhất thiết những yếu tố cấu thành về ý tưởng thi ca và vè ngôn ngữ của nó đều hay. Nhiều trường hợp bài thơ hay chỉ vi ý tưởng chất phác, mộc mạc, bộc lộ cảm xúc chân thành của tác giả, chứ không cần đến ngôn ngữ thi ca thật sự chuẩn mực, ví dụ, trường hợp bài “Nhớ vợ” của Cầm Giang: . NHỚ VỢ Tôi nhớ vợ tôi lắm Xin được về hai ngày Nhà tôi ở Mường Lay Có con sông Nậm Rốm Ngày kia tôi sẽ đến Lại cầm súng được ngay Tôi càng bắn đúng Tây Vì tay có hơi vợ Cho tôi đi, đừng sợ Tôi không chết được đâu Vì vợ tôi lúc nào Cũng mong chồng mạnh khoẻ Về ôm vợ hai đêm Vợ tôi nó sẽ khen Chồng em nên người giỏi Ngày kia tôi về tới Được đi đánh cái đồn Hay được đi chống càn Là thế nào cũng thắng Nếu có được trên tặng Cho một cái bằng khen Tôi sẽ rọc đôi liền Gửi cho vợ một nửa.

Tuy nhiên, đã là thơ thì ngoài thi tứ, ngôn ngữ thơ – nói theo nghĩa rộng nhất của từ này – luôn chiếm vai trò hết sức quan trọng. Người làm thơ luôn ý thức điều đó và thực thi trên bài thơ của mình. Một bài thơ hay không nhất thiết phải thể hiện tất cả các yếu tố trong ngôn ngữ thơ đều hay, mà cũng chỉ thể hiện một vài chỗ, chứ không phải trong toàn bộ bài thơ. Một đất nước Ba Lan bạch dương đầy tuyết trắng và truyền thống nghệ thuật chỉ với vài ba câu thơ mở đầu trong bài thơ của Tố Hữu đã đủ để độc giả cảm nhận điều đó và có ấn tượng sâu sắc về những câu thơ này:

Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn Anh đi nghe tiếng đàn xưa vọng Một giọng thơ ngâm một giọng đàn (Tố Hữu – Em ơi…Ba Lan)

Em ơi Ba Lan mùa tuyết tanĐường bạch dương sương trắng nắng trànAnh đi nghe tiếng đàn xưa vọngMột giọng thơ ngâm một giọng đàn(Tố Hữu – Em ơi…Ba Lan)

Trên thực tiễn sáng tác, mỗi người thơ có riêng cho mình năng lực thi ca để vận dụng các yếu tố cấu thành của một bài thơ theo cách của mình. Tuy nhiên, yêu cầu chung đối với mọi người làm thơ không thể thiếu, đó là có tâm hồn thi sĩ – nghĩa là biết rung động, cảm xúc trước hiện thực, ví dụ trước một phong cảnh đẹp, một con người đẹp, một nỗi đau nào đó của cuộc đời…; có vốn ngôn từ càng phong phú càng tốt; biết cung cách, cao hơn là thành thạo thể hiện một bài thơ. Đó là yêu cầu thơ bản, Tốt hơn nữa, là có kiến thức về ca nhạc, về hội họa, rộng hơn, là người thơ cần thiết sở hữu nhiều tri thức, thậm chí cả tri thức về khoa học tự nhiên (tưởng như xa vời với thơ)… để tạo cho mình một cái “phông” văn hóa dầy dặn. Tôi cho rằng, người làm thơ không nên tự giới hạn phạm vi sáng tác của mình. Số đông người làm thơ thường tập trung vào thơ tình. Điều đó đúng, bởi dạng thơ này phù hợp với thơ nhiều hơn. Tuy nhiên, cuộc sống muôn hình vạn trạng, người làm thơ cần thiết vươn tới các dạng thơ khác, như thơ triết luận-phản biện xã hội, thậm chí cả thơ vui, thơ trào phúng… Về thể loại, không chỉ thơ lục bát (một thể loại thơ tuyệt vời về nhiều mặt), mà cả các thể loại thơ khác, như thơ khổ với dòng có số chữ khác nhau, thơ tự do… Song, dẫu thế nào, cũng đừng rời xa các yếu tố cấu thành của một bài thơ…Hãy đặt thơ đứng đúng chỗ của nó!

Chia sẻ:

Twitter

Facebook

Email

In

Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay?

Nhà thơ Mai Văn Phấn

Nhà thơ Mai Văn Phấn: Mỗi bài thơ là một định nghĩa về thơ. Mỗi người đọc tinh hoa là một con đường đến với thơ. Cá nhân tôi phân biệt khá rạch ròi giữa sự đọc và sự viết. Tôi quan niệm viết thơ là cuộc ra đi, không bao giờ quay lại con đường cũ, dĩ nhiên cả điểm xuất phát. Nhưng khi đọc của người khác, tôi luôn tìm cách lắng nghe để tìm lấy điểm dừng trong văn bản mà thơ đã ngưng đọng. Điểm dừng ấy có thể ở bất kì giai đoạn lịch sử nào, ở bất kì địa chính trị, địa văn hóa nào. Một bài thơ hay, theo tôi là một bài thơ có thần thái, có linh hồn, một sinh linh được hiện hữu trong thân xác ngôn ngữ.

PV: Vậy thần thái của bài thơ nằm ở đâu? Xin anh nói rõ hơn để độc giả hình dung được vấn đề này, thực sự nó rất trừu tượng.

Nhà thơ Mai Văn Phấn: Thần thái của bài thơ nằm trong cảm xúc, trong tư tưởng, trong hình ảnh, trong nhịp điệu, trong ngôn ngữ của nhà thơ chạm tới được trái tim bạn đọc. Thơ ca trước hết cũng là câu chuyện của trái tim, cần quyến rũ chứ không nên dạy dỗ, thống trị. Bài thơ hay luôn mang vẻ đẹp và quyền năng bí ẩn, đủ sức làm cho tình cảm si mê, làm cho những bức tường tư tưởng bị đào tận chân móng, làm lu mờ những đức tin đã ổn cố… Đi tìm một bài thơ hay toàn diện, hay trong mọi thời đại, hay với mọi người là chuyện mò kim đáy biển. “Mắt em là một dòng sông/ Thuyền anh bơi lội trong dòng mắt em” của Lưu Trọng Lư từng là những câu thơ hay nhưng đến hôm nay có lẽ hơi nhạt. Ngược lại, câu thơ của Thanh Tâm Tuyền “Tôi buồn khóc như buồn nôn/ ngoài phố/ nắng thủy tinh”, trong thời đại mới, vẫn bị xem là khó hiểu dù chỉ phơi bày một nhát cắt hiện thực dang dở và đang mở, vẫn tiếp tục chờ đón sự chắp nối của người đọc.

PV: Vâng, nếu hiểu như thế, thơ hay là một chỉnh thể nghệ thuật, tác động đến toàn bộ tâm – trí của người đọc thông qua mọi phương tiện và cách thức biểu hiện. Thần thái ấy có thể hiểu là khí chất, sức sống, biểu hiện thẩm mĩ của thơ. Mà, sức sống ấy có lẽ chính là nội lực mĩ cảm, suy tư ẩn giấu trong sinh thể nghệ thuật. Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến có chia sẻ quan điểm này không ạ?

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến: Theo tôi, một bài thơ hay là phải tạo nên một trường thẩm mĩ mới về mặt mĩ cảm với các vẻ đẹp mang chiều sâu của cảm xúc, ngôn ngữ, hình ảnh, ý tưởng, hình tượng… Về mặt thi cảm: Phải có những rung động tinh tế về mặt cảm xúc. Về mặt Thi ảnh: Phải khắc họa được ấn tượng về mặt hình ảnh. Về mặt thi ngôn: Phải có những sáng tạo bất ngờ về mặt ngôn ngữ. Về mặt Thi tứ: Phải có lập ngôn sâu sắc về mặt tư tưởng. Về mặt thi hình: Phải có những những phát hiện mới lạ về hình tượng thơ. Về mặt Thi điệu: Phải có khám phá về mặt âm nhạc, âm điệu và nhịp điệu thơ. Về mặt Thi ý: Phải có những phát hiện độc đáo về mặt ý tưởng thơ. Trong bảy tiêu chí trên, một bài thơ chỉ cần hoàn thành 3-4 tiêu chí (50%) là chắc chắn sẽ trở thành một bài thơ hay.

PV: Cảm ơn anh Nguyễn Việt Chiến đã mang đến những hình dung vừa bao quát nhưng cũng rất cụ thể về bảy phương diện của thơ. Quả thực, để đạt được 50% số tiêu chí đó cũng đã là khó rồi. Tuy nhiên, thơ vốn không rạch ròi (anh biết mà) và tôi cũng hiểu đây là sự phân chiết dựa trên một mối quan tâm trăn trở thực sự với câu chuyện sáng tạo nghệ thuật thơ ca của anh. Theo tôi, tiêu chí thi hình và thi ảnh có thể sáp nhập vào nhau cũng như thi ý và thi tứ vốn đã ở trong nhau từ khởi nguyên của hành vi sáng tạo. Mặc dù vậy, mọi sự phân tách đều không thể đi ra ngoài cấu trúc ngôn ngữ thơ được trình hiện. Nghĩa là chúng ta buộc phải nói đến một thứ trực quan từ thơ – chính là ngôn ngữ, các biểu hiện về mặt hình thức (vật chất) và hình thức nghệ thuật. Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi nghĩ sao về vấn đề ngôn ngữ thơ ca trong những cảm nhận về một bài thơ hay?

Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi

Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi: Nhà thơ Mai Văn Phấn và Nguyễn Việt Chiến có những cảm nhận và phát biểu khá thấu đáo. Tôi cũng tán thành các quan điểm đó, nhưng nhấn mạnh hơn đến khía cạnh ngôn ngữ thơ ca. Nói đến thơ trước hết là nói đến nghệ thuật sử dụng chữ. Tác giả muốn tạo một hệ chữ riêng, nghĩa là phép lập hình vận nhịp của chữ trong kết cấu, trình bày thì cần rất nhiều khổ luyện, sáng tạo mới mong có được. Dĩ nhiên chữ không dời nghĩa. Chữ thơ là loài chữ có trọng lực, nội lực nhất. Chữ thơ khi giàu tính ý tưởng, biểu tượng, đa thanh là chữ có khí, đồng nghĩa chữ sống. Chữ thơ cũng như người thơ cần đắc khí mới tồn tại và lớn lên được. Dứt khí thì chết. Chữ thơ vô khí là vô lực, là trơ lì, bẹp dí. Chữ muốn thụ khí trước phải đạt tinh. Có tinh (tinh luyện/ tinh tế) thì đạt khí, và có được tinh rồi mới vọng tưởng tới bậc thần chữ được. Tinh – Khí – Thần chính là tam bảo, là chúa ba ngôi của cõi thiêng Thơ.

PV: Rõ ràng, càng ngày con người càng nhận ra rằng ngôn ngữ tạo ra thế giới (trong đó có con người). Thơ là ngôn ngữ lấy nó làm mục đích, nhưng lại là thứ ngôn ngữ cất cánh bay lên khỏi ngôn ngữ đời thường. Có lẽ, chính tam bảo kia đã nâng cánh cho thơ. Nhưng, thơ hay không nhiều, thi sĩ đích thực cũng không nhiều (mà lại nhiều người làm thơ). Dường như, tam bảo hay chúa ba ngôi kia cũng không phân phát một cách rộng khắp ân sủng của mình cho nhân gian. Muốn thụ hưởng ân lộc đó, thi sĩ phải là người thế nào chứ? Thưa nhà thơ Đỗ Trọng Khơi?

Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi: Trong nghệ thuật thơ, đạt tinh đã khó, song sự thật khi mới có sự khổ công tinh luyện và viết được mấy cái tinh tế thì thứ thơ ấy cũng chưa vượt qua ngưỡng thợ thơ là bao. Khi cái tinh đã hoá khí, hoá sự sống rồi mới thực là lập chữ, là Thơ nghệ thuật. Còn khi chữ đạt tới bậc thần hiển nhiên ấy là thơ của bậc chân tài, đại tác gia. Kẻ làm thơ trong nghiệp thơ có được dăm ba câu chữ thần kể cũng lấy làm mãn nguyện. Khi có được câu thơ thần, nói như ông Kim ThánhThán “đủ bước một mình trong một thời, chiếm giữ lấy ngàn năm …”. Ông J.P.Satre trong cuốn Văn học là gì, viết: “nhà thơ là người chối bỏ ngôn ngữ ”. Ý này cũng tương hợp với câu trong Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị: “Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay”… Những dẫn dụ này đều rất xác đáng với thơ. Song cũng cần hiểu cho sáng tỏ, như vậy không có nghĩa nhà thơ đoạt tuyệt với ngôn ngữ. Nhà thơ mãi mãi cần phải mượn ngôn ngữ để kí thác và bày tỏ. Hướng tới sự “vô ngôn, lặng ngắt…”, là hướng tới cái khí sắc. Ví như mặt đất, mùa màng chỉ cần tới ánh chiếu, sức ấm lạnh của nhật – nguyệt mà không cần phải biết tới hình khối vật chất của đôi vầng ấy. Nhưng với bản thân đôi vầng nhật – nguyệt ấy để toả khí sắc được trước hết cần phải có hình khối vật chất. Con ngưòi mang bản thể vũ trụ, đời sống mà soi tìm lấy cái bản ngã, cái chân thân mình. Thơ để đạt được hồn chữ, sắc chữ trước hết nhà thơ phải luyện chữ sao cho chữ có vóc hình ngời toả lung linh. Phải đạt “Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu” trước đã thì mới mong đạt được cỡ “Kinh không chữ mới là chân kinh”.

PV: Nghe ý kiến các anh tôi thấy nghệ thuật thơ quả là một thứ nghệ thuật cao kì, linh diệu. Từ ý tứ đến hình ảnh, giọng điệu, nhạc tính, cấu trúc, ngôn ngữ… mọi thứ đều phải đạt đến mức “tinh” xem ra mới có một thi phẩm hay. Nhưng, tôi có cảm giác là cả nhà thơ Mai Văn Phấn, Nguyễn Việt Chiến, Đỗ Trọng Khơi đã hơi chú trọng đến vấn đề hình thức nghệ thuật cũng như cơ chế sáng tạo – tức là công việc của chủ thể sáng tạo (thi sĩ). Từ góc độ người tiếp nhận, nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai có suy nghĩ như thế nào ạ?

Nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai

Nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai: Một bài thơ hay, theo cá nhân tôi, là một bài thơ đem lại giá trị cho người đọc nó. Giá trị đó có thể về mặt tinh thần, nghệ thuật, hay thông tin. Một bài thơ hay có khả năng lay động những sợi dây vô hình trong trái tim người đọc để rồi họ thấy mình được an ủi, sẻ chia trong những phút giây buồn phiền, hân hoan hơn trong niềm hạnh phúc. Một bài thơ hay bắc nhịp cầu giao tiếp giữa người viết và người đọc, bởi người đọc cảm thấy người viết đang nói thay cho họ những điều họ muốn sẻ chia.

Việc cảm nhận một bài thơ thuộc về quyền của độc giả, vì thế tôi cho rằng không có định nghĩa tuyệt đối nào cho một bài thơ hay. Thơ hay hoặc không hay còn phụ thuộc vào quan điểm, sở thích, và hoàn cảnh của mỗi người đọc. Đối với tôi, một người đang sống xa Tổ quốc, bài thơ “Tiếng Việt” của Lưu Quang Vũ là một bài thơ hay, với những câu thơ cứa vào gan ruột:Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển/ Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya?/ Ai ở phía bên kia cầm súng khác/ Cùng tôi trong tiếng Việt quay về. Thơ, nói cho cùng, là một công cụ để con người diễn đạt tâm tư, tình cảm. Thơ không phải tài sản của bất cứ nhóm người nào. Ai cũng có quyền yêu thơ và làm thơ. Vì thế tôi nghĩ chúng ta hãy để thơ tự do bay bổng, biến hóa trong sắc màu, thể loại, đừng nên gò ép thơ vào một định nghĩa nào đó.

PV: Những chia sẻ từ góc độ chủ thể tiếp nhận với cảm quan nhân hậu và bao dung. Cảm ơn chị Nguyễn Phan Quế Mai. Tôi cho rằng, trong thời hậu hiện đại, với sự lên ngôi của chủ thể tính, sự kiến tạo bất quy tắc của ngôn ngữ, thơ hay quả thực đã mang sẵn trong nó dự phóng vượt ra ngoài các khuôn khổ tiền định. Thơ hay là thơ của mỗi người, mỗi thời, mỗi hoàn cảnh khác nhau. Nhưng, dẫu sao nó cũng phải có một đặc trưng nào đó để vẫn là thơ mà không phải là thể loại khác. Nhà thơ Trần Hùng, anh nghĩ sao về điều này?

Nhà thơ Trần Hùng

Nhà thơ Trần Hùng: Thơ hay, mỗi người một quan niệm, và có thể bàn mãi từ đời này sang đời khác. Với tôi, thơ hay: Một – phải làm cho độc giả “động lòng” khi đọc. Hai – lối viết hiện đại nhưng câu từ giản dị và mới.

Nhà thơ Nguyễn Quang Hưng

Nhà thơ Nguyễn Quang Hưng: Những ý tưởng đem lại nhiều xúc cảm. Tinh thần nhân văn, hướng thiện, nhen lên lòng dũng cảm và bao dung. Sự gợi mở trong nội dung để từ bài thơ ngẫm ngợi tiếp về đời sống, về bản thân người đọc. Sự độc đáo, mới lạ trong cách dùng từ, tạo chữ, sắp xếp kết cấu từ ngữ, câu thơ, đoạn thơ, giúp kích thích liên tưởng, tạo ra sự thú vị, sinh động, linh hoạt trong cách nói, hành văn…

Đương nhiên, không dễ để có được đầy đủ những phẩm chất đó. Cho nên, làm được một, một số hoặc những thành công như trên, tôi nghĩ bài thơ sẽ hay, sẽ cuốn hút, đáng đọc.

PV: Tôi hiểu ý anh Nguyễn Quang Hưng, rõ ràng, dù biến đổi, cách tân như thế nào, thơ phải giữ lấy giá trị nhân văn, giữ lấy đạo lý và cốt cách, nhân phẩm của con người. Mọi biểu hiện về mặt nội dung trữ tình hay hình thức nghệ thuật nếu rời xa những giá trị cốt lõi đó dễ biến thơ thành một thứ trá hình hay ngụy tạo. Tôi cảm nhận rằng, thơ hay là sự bày tỏ một cách đầy gợi cảm, trong một cấu trúc giàu nhạc điệu những suy tư sâu sắc và xúc cảm mãnh liệt của con người.

Nhà thơ: miên di

Nhà thơ miên di: Định nghĩa một bài thơ hay cũng khó như trả lời câu hỏi: Cái đẹp là… cái gì? Có hay không một cái đẹp phổ quát – cũng giống như có hay không một bài thơ hay phổ quát? Vì thế, miên di không trả lời nổi câu hỏi này. Mà chính mỗi bài thơ hay tự nó là câu trả lời cho câu hỏi muôn đời không đủ đáp án “Cái đẹp là gì?”, để rồi, tự tính của mỗi bài thơ hay mới có thể định nghĩa được thế nào là chính nó. Hoa đẹp vì nở hồn nhiên, một bài thơ hay cũng vậy, tự nó phát tiết ra vẻ đẹp một cách hồn nhiên – không bị trói buộc trong thời tiết chính trị, thổ nhưỡng văn hoá, hay biên giới quan niệm. Câu hỏi “Thế nào là một bài thơ hay?” chính là sự trói buộc, nó vĩnh viễn không chứa đựng nổi câu trả lời.

PV: Cảm ơn nhà thơ miên di đã bày tỏ quan điểm thẳng thắn và cũng rất xác đáng. Việc tìm ra một quan niệm phổ quát là bất khả. Nhưng chúng ta không ngừng cố gắng để đến gần hơn với ngôi đền thiêng ấy. Có thể chẳng bao giờ chúng ta đặt chân được vào thánh đường hay chạm được vào thánh thể, nhưng tín niệm và lòng sùng kính trong khát vọng chiêm ngưỡng ngôi cao có lẽ sẽ giục giã những bước chân hành hương. Sự hoài nghi hay đòi hỏi chất vấn chính là cơ hội để chúng ta đến gần hơn với chân lí. Thơ hay như hoa nở, tự nhiên và hồn nhiên. Hãy trao cho thơ sự tự do, khi đó chúng ta mới có thêm hi vọng về những bài thơ hay. Phải thế không nhà thơ miên di? Ý kiến của anh làm tôi nhớ đến tập thơ “Tự do” của Hoàng Xuân Tuyền. Xin nhà thơ Hoàng Xuân Tuyền bày tỏ một vài suy nghĩ của mình về vấn đề mà chúng ta đang trao đổi?

Nhà thơ Hoàng Xuân Tuyền

Nhà thơ Hoàng Xuân Tuyền: Là một người đọc thơ, tôi tự mình chia thơ nói chung (và bài thơ cũng vậy) thành ba loại: 1. Thơ – tất cả những gì được người đời viết ra và được chính tác giả gọi là thơ. 2. Thơ hay hay – chiếm khoảng 10% những gì tôi đọc được từ thơ nói chung, áp theo những tiêu chí chung, phổ quát (rất dài dòng và cũng mang tính tương đối). 3. Thơ hay – chiếm khoảng 01% thơ tôi đọc được. Thơ hay (bài thơ hay) với tôi (hiện nay) nói gọn là thế này: – Độc đáo về nội dung và nghệ thuật (không lặp lại, không na ná thơ khác, bài thơ khác của bất kì ai và của chính tác giả). – Đáp ứng nhu cầu trưởng thành của người Việt, có khả năng giúp khắc phục sự chủ quan, cảm tính (khá phổ biến và nặng nề) trong lối nghĩ và cách thức tổ chức đời sống và nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng. Tôi ưu tiên cho hai tiêu chí này. Đó là quan điểm của tôi, do tôi và vì tôi – một bạn đọc thơ.

PV: Thơ hay chỉ chiếm 01% thôi ư? Vậy là ít hay nhiều? Vì 01% của một trăm bài hẳn sẽ khác với hàng vạn bài. Trong bối cảnh thơ ca đang lạm phát như hiện nay, 01% xem ra cũng là con số không đến nỗi bi quan (cười). Tôi nhớ nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn từng nói, ở Việt Nam hơn 90% là thứ nộm thơ nhạt nhẽo. Như thế, nghĩa là chúng ta còn tới 10% thơ hay hoặc hay hay như cách diễn giải, phân loại của nhà thơ Hoàng Xuân Tuyền. Con số ấy, dù sao cũng nói lên thực tế chúng ta vẫn có những bài thơ hay. Nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã nghĩ sao về những con số này và quan điểm của anh về một bài thơ hay?

Nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã

Nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã: Tôi nghĩ rằng con số này có lẽ chỉ mang tính ước lệ, ước lượng mà thôi. Nếu 10% kia mà thực sự xuất sắc thì chúng ta có cả một gia tài rồi. Tôi là người làm thơ, hiểu cái khó của công việc làm thơ. Bởi chưa ai trả lời trọn vẹn “Thế nào là thơ hay”? Vì thế, bạn hỏi “theo anh” kia mà! Vâng, theo tôi khi đọc một bài thơ, điều trước tiên là cảm xúc thơ phải LẠ! Vì sao vậy? Đó là độ xuất thần của thơ. Thơ lạ sẽ gây sự chú ý, cao hơn nữa là độ sửng sốt của câu từ. Thơ hay nó hư hư thực thực, có khi người đọc chưa hiểu hết mà vẫn thấy hay. Và từ xuất thần thì thơ ám ảnh, nghĩa là bạn không thể dứt ra được bởi cấu tứ, độ xuất thần của câu chữ. Lúc này chữ không còn là chữ, nó đã trở thành tín hiệu của tâm hồn qua cách thể hiện rất LẠ của tác giả. Và nó có thể làm thay đổi ý nghĩ, thậm chí thay đổi quan niệm của bạn thì đích thực đây là một bài thơ hay! Thường thì trước một bài thơ hay, tôi bất động, im bặt để thưởng ngoạn cái hay của thơ lan tỏa…

PV: Ồ, cảm ơn nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã đã đề cập đến yếu tố LẠ trong thơ. Dĩ nhiên, tôi hiểu cái LẠ anh nói là cái LẠ mà HAY, không phải là cái LẠ đua đòi, bắt chước không có giá trị nghệ thuật. Như thế, LẠ gần với sự độc đáo mang tính thẩm mĩ cao mà các nhà thơ đã bàn luận ở trên.

PV: Thưa các nhà thơ, chúng ta đã trao đổi cùng nhau một cách cởi mở, thẳng thắn các quan điểm về một bài thơ hay. Cứ như hình dung từ những gì đã bàn luận, thơ hay là của mỗi người, nhưng cũng có những giá trị mang tính ổn định, bất biến. Về nội dung tư tưởng có lẽ là các giá trị nhân văn sâu sắc, chạm đến trái tim con người. Về phương thức – hình thức biểu đạt, thơ hay cần phải độc đáo, sáng tạo, gợi cảm, giàu nhạc tính, nhịp điệu. Vâng! Mỗi người, mỗi thời có cái chuẩn hay riêng, tuy nhiên, dù linh hoạt thế nào, thơ hay vẫn phải giữ được cốt cách thể loại của mình cũng như giá trị nhân bản mà nó hướng tới. Xin chân thành cảm ơn các nhà thơ đã tham gia cuộc trò chuyện thú vị này.

NGUYỄN THANH TÂM thực hiện

(Theo VNQĐ)

Thử Tìm Hiểu Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay

Thử Tìm Hiểu Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay

Xuân Vũ Trần Ðình Ngọc

1. Thử Tìm Hiểu Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay

N gười ta đã bàn luận nhiều về đề tài:”Thế nào là một bài Thơ hay?”. Người thích bài này, kẻ ưa bài kia, thật khó mà định nghĩa thế nào là một bài Thơ hay, nhưng hầu như tất cả mọi người đều đồng ý Thơ là tuyệt đỉnh của Văn chương, Thơ ít chữ nhưng nói nhiều hơn văn xuôi và vì vậy không phải ai cũng làm được một bài thơ hay, dù có nhiều kẻ suốt đời nặng lòng với Thơ.

Người viết bài này hoan nghênh tất cả các bài Thơ do nhiều tác giả khổ công sáng tác, chỉ không hoan nghênh những bài Thơ dùng từ rất kêu nhưng xét giá trị từng câu, toàn bài thấy vô nghĩa.

Vâng, nó vô nghĩa! Có nghĩa là người đọc không hiểu tác giả bài Thơ muốn nói lên cái gì, ám chỉ cái gì, hoặc gởi gấm cái gì trong những hàng chữ kia. Có thể những ông, bà tác giả đó nguỵ biện rằng người đọc không đủ trình độ hiểu Thơ của họ. Nói như thế với một em bé trình độ tiểu học thì có thể chứ với những người đã có trình độ Ðại học VN hoặc đã có làm Thơ thì đúng là nguỵ biện và quá cao ngạo, kiêu căng.

Ðể tôi kể bạn nghe một giai thoại về Thơ. Có một ông nhà thơ ở miền Nam trước 1975, sau đó sang hải ngoại, làm được một số bài thơ và được bè bạn cũng có, tự ông ta cũng có, dùng ống đu đủ thổi lên như hàng Thi vương, Thi bá, độc nhất vô nhị. Có một người quen ông ta, một bữa lấy 4 câu thơ của ông ta ở mấy chỗ khác nhau, cho một cái tựa và đặt liền vào nhau như một bài thơ. Người này , nhân lúc trà dư tửu hậu đem ra , nói là thơ mới làm, nhờ ông ta nhuận sắc dùm. Ông ta đọc xong bài thơ, hét toáng lên rằng:”Thơ gì vô nghĩa thế này ? Tao không biết mày định nói cái gì ? Vứt thùng rác cho rồi !” Người bạn lúc đó mới ôn tồn nói:”Thưa thi hào, chính là thơ của đại gia đấy !”Nhà thơ vẫn không tin và người bạn phải lấy cuốn Thơ của ông ta xuất bản ra chỉ vào những câu ông đã trích. “Ðại thi hào” ngồi ngẩn tò te ra, mắc cở . Vậy mà lâu nay có ai nói cho ông ta biết đâu hoặc có nói, ông ta cũng không chịu nhìn nhận một sự thực.

Về định nghĩa thế nào là một bài thơ hay. Nếu trả lời cho đầy đủ kèm theo những dẫn chứng thì có thể phải cả cuốn sách mới đủ. Nhưng tôi chỉ sơ lược mấy điểm chính để các bạn chưa từng làm Thơ hoặc có ý định sẽ vào làng Thơ, nắm được thế nào là một bài thơ hoặc câu thơ hay.

LỜI HAY, Ý ÐẸP, TRUYỀN CẢM

Lời thơ trong sáng, tự nhiên, không cố ý gọt dũa, hoặc có gọt dũa, nhưng người đọc không thấy, ta gọi tắt là lời hay.

Ý thơ hàm súc, dồi dào, gọi tắt là ý đẹp.

Ðọc lên thấy xúc động, nao nao, xao xuyến trong tâm hồn, tức là thơ có sức truyền cảm.

Ðó là thơ tả tình. Thí dụ: (trích truyện Kiều)

Một mình nàng, ngọn đèn khuya

Áo dầm giọt lệ, tóc se mái sầu

Hoặc:

Cũng liều nhắm mắt đưa chân

Thử xem con tạo xoay vần đến dâu!

Ðến như thơ tả cảnh thì đọc câu thơ lên thấy như vẽ trước mắt ta phong cảnh tác giả muốn phô diễn. Thí dụ:

Chim hôm thoi thót về rừng

Ðoá trà mi đã ngậm trăng nửa vành

Hoặc:

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Chỉ có một ngọn đèn khuya , chiếc áo nàng đang mặc đẫm nước mắt và mái tóc bù rối của nàng mà người đọc tưởng tượng ra được một thiếu phụ đang trải qua những đau thương , cay đắng của cuộc đời. Chỉ có 14 chữ mà nói lên được cái tâm sự dằng dặc cả mấy trang nếu phải viết bằng văn xuôi.

Hai câu sau tả cảnh cũng thế. Một buổi chiều hiu hắt, u buồn, chim lặng lẽ về tổ, đoá trà mi cô đơn dưới ánh trăng thượng tuần. Vẫn có hoa và trăng nhưng hoa và trăng nhuốm vẻ tiêu điều như lòng người. Cái buồn của nhân vật như lây sang ta, đó chính là truyền cảm.

Hai câu chót là bức tranh của Claude Monet hoặc của Vincent van Gogh đưa tầm mắt ta ra xa đến tận chân trời, toàn mầu xanh tươi, chỉ điểm vài cánh lê trắng muốt.

Thật tài tình. Và thật thơ.

Không chỉ trong những đọan tả cảnh, tả tình mà còn là những đoạn Mượn Cảnh Tả Tình, có nghĩa người đọc chỉ cần chú ý vào không gian, thời gian, sự vật xung quanh nhân vật mà thấy rõ được tâm sự nhân vật, cái rất khó tả cho đúng. Chúng ta hãy đọc lại đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” sau đây sẽ nhận ra điều đó:

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

Bẽ bàng mây sớm, đèn khuya

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng!

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày mong mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?

Nhớ người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ôm

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu

Chân mây mặt nước một mầu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Bình giải sơ lược: Sáu câu đầu tác giả tả nàng Kiều trong hoàn cảnh tồi tệ nhất là ở “thanh lâu” (thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần), Kiều bẽ bàng cho thân phận ngay cả khi ngắm áng mây buổi sớm, nhìn ngọn đèn leo lét ban tối. Cảnh ấy, tình này làm cho lòng nàng đòi đoạn, đứt ruột (như chia tấm lòng).

Bốn câu kế, Kiều nhớ đến Kim Trọng, người yêu đầu đời và trọn đời. Nhớ đến đêm trăng sáng năm xưa cùng chàng thề thốt, nay biệt vô âm tín mà tấm thân nhơ nhuốc này biết bao giờ gột rửa để trở nên trong sạch, xứng đáng với chàng?

Bốn câu kế:”Nhớ người tựa cửa…” Kiều nhớ cha mẹ. Không biết giờ này lấy ai thay mình phụng dưỡng song thân? Như ông Lão Lai ngày xưa, thấy cha mẹ buồn liền ra sân múa hát, làm trò hề cho cha mẹ vui cười lên mà khuây khoả tuổi già. Quay đi quay lại, ấy vậy mà cha mẹ trăm tuổi lúc nào không hay (có khi gốc tử đã vừa người ôm).

Tám câu sau cùng tả cảnh nhưng là cảnh có tâm hồn người hàm chứa trong đó: cửa bể, con thuyền, ngọn nước, hoa trôi, bèo dạt… trong khi tạo vật vẫn vô tình với nỗi buồn của con người:” Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Hoặc như trong “Cung Oán Ngâm khúc”:

Cầu Thệ thủy ngồi trơ cổ độ

Quán Thu phong đứng rũ tà huy

Phong trần đến cả sơn khê

Tang thương đến cả hoa kia, cỏ này!

Tuồng huyễn hoá đã bày ra đấy

Kiếp phù sinh trông thấy mà đau

Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì!

Nơi bến đò xưa, cây cầu bắc trên dòng nước chảy không ngừng vẫn “trơ mặt với phong sương”, cũng như cạnh đó, quán trống, trong nắng chiều yếu ớt, gió thu lạnh lẽo hun hút thổi làm cảnh trí càng thêm tiêu sơ. Nàng cung nữ, vì nhớ đến thân phận hẩm hiu của mình, nhìn hoa cỏ, núi sông đều thấy một mầu tang thương. Tất cả do “Tạo hóa đành hanh quá ngán” bày ra và rốt cuộc kiếp người trôi nổi chỉ còn lại một nấm cỏ khâu xanh rì!

ÂM ĐIỆU, TIẾT TẤU

Nhiều nhà ngôn ngữ học quốc tế sau khi nghiên cứu về tiếng Việt đã cho rằng tiếng Việt khi nói có âm điệu như hát (singing language).

Sở dĩ có được kết luận đó vì tiếng Việt có các thanh bằng, trắc khác nhau nên khi nói, các từ ngữ lên xuống theo các thanh cho âm điệu và tiết tấu.

Thi sĩ tiếng Việt khi làm thơ lại càng cần phải để ý đến các thanh bằng trắc này để cho bài thơ có âm điệu tiết tấu hay, dễ đọc và quyến rũ. Chính bởi thế thơ có niêm luật, niêm là dính, luật là những chữ phải bằng hay phải trắc hay phải hợp vận.Thí dụ hai câu lục bát:

Bằng bằng trắc trắc bằng bằng (vần)

Bằng bằng trắc trắc bằng bằng (vần) trắc bằng

Thành Tây có cảnh Bích câu

Cỏ hoa họp lại một bầu xinh sao

Đua chen thu cúc, xuân đào

Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông!

Những chữ 1,3,5 (nhất, tam, ngũ) bất luận, luật là bằng nhưng có thể trắc, và ngược lại.(Vì bài này không chủ trương dạy cách làm thơ, quí bạn đọc muốn nghiên cứu tường tận hơn về niêm, luật bằng trắc, vận có thể đọc trong sách Việt Nam Văn học sử yếu của GS Dương quảng Hàm hoặc các sách Văn học sử khác.).

Người làm thơ cần đặc biệt chú ý đến vần vì nếu thơ không có vần (hợp vận), sẽ không được gọi là thơ, sẽ chỉ như văn xuôi được cắt ra những đoạn 6 hoặc 7, 8 chữ v.v…. Có người đã ví một cách ngộ nghĩnh là thơ không vần như mặc quần không áo, nó thiếu phần quan trọng để thành những câu thơ như tác giả của nó mong muốn. Hơn nữa, vần dùng tài tình cho người đọc thơ thấy tài của tác giả mà không phải ai cũng có thể làm được. Những bài thơ nổi tiếng thường là những bài thơ vần được sử dụng chặt chẽ, khít khao và tài tình.

Thí dụ: Bản dịch “Lầu Hòang Hạc” của Tản Đà tiên sinh từ nguyên tác Hòang Hạc lâu của Thôi Hiệu:

Hạc vàng ai cỡi đi đâu

Mà nay Hòang Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay

Hán Dương sông tạnh, cây bày

Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non

Quê hương khuất bóng hòang hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai!

Thơ tự do không bắt buộc phải có vần nhưng cũng cần vần khi có thể để cho câu thơ nổi nang hơn, có chất thơ hơn. Còn thơ mới, vần chữ cuối câu hay cước vận, bắt buộc phải có vận, hợp vận

Thí dụ:

Nào còn đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

Đâu những chiều mưa chuyển động bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm cảnh giang sơn ta đổi mới.

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng…

(Hổ nhớ rừng – Thế Lữ)

Hoặc một đọan đầu trong bài “Nắng Quê Hương” của tác giả bài này:

Em sang đây mang giùm anh chút nắng

Nắng Sàigòn – Hànội – Nắng Quê Hương

Nắng ngày xưa em nhặt ở sân trường

Đem hong gió Thu vàng hay ép sách.

TÓM TẮT

Một bài Thơ hay phải hội đủ ba yếu tố: Lời hay, Ý đẹp, và Truyền cảm. Có cả ba yếu tố thiết yếu này, người ta gọi tắt là một bài thơ hay, một bài thơ có hồn. Khi thi sĩ cảm hứng, tứ thơ tuôn tràn, hồn thơ lai láng. Chính kẻ viết bài này, có nhiều lần bút không kịp ghi tứ thơ trên giấy, phải dùng những chữ viết tắt mà chính tác giả mới đọc được, ghi vội ra vì nếu để giây phút đó qua đi, sẽ không thể hoặc khó có thể làm được bài đã định. Sau giây phút “xuất thần” đó, bây giờ mới thong thả coi lại bài thơ từ đầu tới cuối và chỉnh những từ không vừa ý. Thường chỉ chỉnh sơ sài, dăm ba từ bị thay thế cho thích hợp, nhưng cái cốt lõi đầu tiên, cái khung, cái hồn của bài thơ thì không bao giờ thay đổi, bởi nó đã hay hoặc vừa ý (với chính nhà thơ.)

Thi sĩ phải có hứng sáng tác, thơ mới hay. Hứng là cái sáo diều hoặc sợi dây đàn treo trong không gian, một làn gió nhẹ thổi qua đủ làm nó phát ra thanh âm. Tâm hồn thi sĩ cũng ví như cái sáo hoặc sợi dây đàn đó, một ý tưởng mới, một cảm nghĩ mới, một sự việc mới xảy ra trước mắt khiến nhà thơ muốn dùng bút ghi lại sự việc hoặc những cảm nghỉ của mình trong khi người không có tâm hồn thi sĩ, không để ý tới sự việc xảy ra, cũng không có những cảm nghĩ mà nhà thơ có. Ðó chính là “Cái sáo hoặc sợi dây đàn” của thi sĩ. Nó vô cùng bén nhạy nên thi sĩ mới có hứng thơ. Với nhà văn, hứng viết văn cũng tương tự thế. Do đó, chúng ta phân biệt hai loại, nếu ghi thường: văn xuôi; nếu ghi có vần điệu tiết tấu: Thơ. Cả hai đều là văn chương, tuy co những nét đặc thù khác hẳn nhau.

Ðể làm rõ nét cái hứng của thi nhân, chúng tôi xin đưa ra trường hợp Thi sĩ Ôn như hầu Nguyễn gia Thiều.

Tất cả chúng ta nhìn các cung nữ thời xưa, lúc son trẻ được nhà vua vời vào cung làm cung phi đều là chuyện bình thường bởi vua có quyền sinh sát toàn dân. Vua muốn là Trời muốn vì vua là Thiên tử, con Trời. Riêng tác giả “Cung oán ngâm khúc” lại có cái nhìn khác. Thi nhân nghĩ chỉ vì phải phục vụ cho những sắc dục tham lam, bất chính của nhà vua mà các cung nữ này bị giam trong cung cấm, uổng phí cả một đời thanh xuân khi nhà vua chỉ dùng các nàng cho một đêm vui rồi không bao giờ đoái hoài tới nữa làm nhiều cung phi chết già trong cung cấm. Nhà vua, sau khi thoả mãn, ân ái một đêm, lại đi tìm những bông hoa hương sắc khác để tủi hổ, bẽ bàng, đau khổ cho hàng trăm, hàng ngàn cung phi mà họ không biết kêu cứu vào đâu được.(Ngán thay cái én ba nghìn). Từ đó thi nhân viết cuốn “Cung oán ngâm khúc” để thay cho các cung phi nói lên nỗi lòng đòi đoạn nơi cung cấm, may ra tiếng nói có thấu đến cửu trùng, các nàng được giải thoát khỏi cuộc sống tối tăm, chết dần, chết mòn, được trở về nơi thôn dã sống với gia đình và biết đâu lại có được một tấm chồng để nương tựa suốt cuộc đời còn lại.

Vì đặt mình vào hoàn cảnh các cung phi bị thất sủng, thi nhân đã cực tả được những đau xót của các cung phi:

Trải vách quế gió vàng hiu hắt

Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng

Oán chi những khách tiêu phòng

Mà xui phận bạc nằm trong má đào…

Trở lại ý hướng mượn cảnh tả tình của thi nhân, chúng ta hãy đọc lại hai bài thơ (Đường luật) sau đây, của Bà huyện Thanh Quan và Cụ Nguyễn Khuyến:

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn

Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn

Gác mái ngư ông về viễn phố

Gõ sừng mục tử lại cô thôn

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

Dặm liễu sương sa khách bước dồn

Kẻ chốn chương đài, người lữ thứ

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn !

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Hai bài thơ này cùng làm theo thể Ðường luật, thơ bảy chữ tám câu, rất phổ thông từ đầu thế kỷ thứ XIX. Nữ sĩ Hồ xuân Hương cũng là một trong những nhà thơ sử dụng thể thơ này nhiều nhất.

Bài “Chiều hôm nhớ nhà” có dăm tiếng Hán -Việt như: hoàng hôn, ngư ông, viễn phố, mục tử, chương đài, lữ thứ nhưng không phải là những chữ quá khó. Sáu câu đầu tả cảnh để làm nền cho hai câu cuối tả tình. Bạn để ý cặp câu:”Gác mái… và Gõ sừng…”; cặp “Ngàn mai… và Dặm liễu…”, (động tự đối với động tự, danh tự đối với danh tự) làm theo thể biền ngẫu nghĩa là mỗi chữ đối nhau, nét đặc thù của thơ Ðường luật. Ðọc xong bài thơ ta thấy tâm hồn ta cũng chìm lắng vào nỗi buồn của “kẻ chốn chương đài, người lữ thứ” một nỗi buồn nhẹ nhàng nhưng thấm thía của hai tâm hồn xa nhau.

Như bài Thu Ðiếu, hay Mùa Thu câu cá, cặp câu “thực” và “luận”: “Sóng biếc…” đối với “Lá vàng…” và “Từng mây…” đối với “Ngõ trúc…”.Toàn bài không có một chữ Hán, một điển cố, vẽ ra bức tranh thu êm đềm, tịch mịch trong đó chỉ có một động vật duy nhất là nhà thơ đang thả hồn vào thiên nhiên với lá vàng rơi rụng, với từng mây xanh ngắt, với ngõ trúc quanh co. Tất cả đã toát ra mùi vị Thiền và bức tranh:” Vạn vật đồng nhất thể” vô cùng sâu sắc.

Hai bài thơ trên, cùng một số bài thơ khác của hai tác giả này và nhiều tác giả khác như Nguyễn công Trứ, Cao bá Quát, Hồ xuân Hương v.v…đã được đa số chúng ta học thuộc lòng từ hồi còn ngồi lớp 8, lớp 9 trong phần Cổ văn.

Tuy nhiên, vì thơ Đường luật phải tuân theo niêm, luật, vần và biền ngẫu như thế nên từ thế hệ 1932, các nhà thơ đã than là thể thơ này quá khó so với những thể thơ lục bát, song thất lục bát, nhất là thơ mới và thơ tự do ra đời trong khỏang thời gian đó. Các cụ nói:” Khó cho thiên hạ đến bao giờ…” để nói về thể thơ Đường luật này. Hơn nữa, khi phải diễn tả một tình cảm phức tạp, dài dòng thơ Đường không đáp ứng nổi như song thất lục bát và lục bát.Và cũng kể từ đó, các thể thơ tự do, thơ mới 8, 9 chữ hay thơ 7 chữ, mỗi đọan bốn câu, gồm nhiều đọan, vần cuối ở các câu 1, 2, và 4 rất được thịnh hành. Thể thơ Đường chỉ còn thấy thưa thớt nơi các cụ đồ nặng lòng với thơ cổ khi xưa và những tác giả không thích thơ mới. Cũng nên lưu ý, thơ mới có âm điệu, tiết tấu và cách diễn tả hùng mạnh mà thơ Đường không thể. Thơ tự do cho người làm thơ diễn đạt ý tưởng không giới hạn nhưng cũng không phải dễ để sáng tác một bài thơ tự do hay.

Để có một cái nhìn xuyên suốt về Thơ, nguyên tắc chung cho hầu hết các môn khoa học là: hợp lý = dễ hiểu = dễ nhớ, dù là toán học hay nhân văn. Từ những bài thơ cổ này, chúng ta cũng suy ra, để hiểu thơ cũng như để sáng tác thơ, chúng ta cần một ít chữ Hán-Việt, hiểu nghĩa và cách sử dụng chúng mới dễ quay trở khi làm thơ.

A-THƠ HAY RẤT DỄ THUỘC DỄ NHỚ

Từ đó ta thấy, thơ hay là thơ có thể học thuộc lòng một cách dễ dàng. Một học sinh có trí nhớ trung bình chỉ cần ngâm nga hai bài thơ của cụ Nguyễn Khuyến và bà huyện Thanh Quan nói ở trên vài lần là thuộc lòng. Thơ đọc trúc trắc, khó hiểu, vô nghĩa, không dễ dàng học thuộc, chắc chắn không phải thơ hay. Cũng nên lưu ý, thơ đọc trúc trắc chính vì tác giả của nó không am tường luật bằng trắc hoặc không sử dụng đúng qui luật bằng, trắc và vần.

Ðể kiểm chứng điều này, quí bạn đọc thử nhớ tên một nhà thơ, ông A, bà B v.v…cố nhớ lấy một bài thơ hay vài câu thơ của họ mà quí vị đã đọc, xem có thuộc được bài nào không, câu nào không. Không có, ấy là thơ ra sao quí vị đã biết. Nhưng có nhiều tác giả thời nay lại nghĩ cứ làm thơ khó hiểu, tối nghĩa hay vô nghĩa, cao kỳ, dùng những từ cho kêu là được quần chúng ái mộ. Sự thực không phải thế. Thơ kêu nhưng rỗng thì không khác một cái thùng phuy, càng rỗng càng kêu to.

Trước đây, rất nhiều người, ngay cả ở nông thôn Việt nam, đã học thuộc lòng Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, Nhị Ðộ Mai, Cung oán ngâm khúc, Tì bà hành, Trinh thử, Trê cóc, Ngư tiều vấn đáp, Lục súc tranh công, Bích câu kỳ ngô v.v…lúc rảnh rang, đọc vanh vách cho nhau nghe dù có nhiều người không có sách hoặc không biết chữ, chỉ học lóm bạn bè. Sở dĩ họ thích, họ say mê vì lời Thơ gần gũi với họ, tả cái tâm lý chung của họ hay người xung quanh họ như Jacques Prévert, một Thi sĩ Pháp có viết:” Ðọc Thơ lại thấy có mình ở trong” cũng là ý nghĩa đó. Người nông dân học thuộc lòng dễ dàng như vậy vì những câu Thơ này giản dị, dễ hiểu, hợp lý, vần vò. Chính bởi thế, nguời ta còn gọi Thơ là văn vần để phân biệt với văn xuôi.

Trước 4-1975, ở miền Nam Việt Nam, có một số tác giả làm Thơ đăng trên các báo, tạp chí, nguyệt san, cả những nguyệt san được coi là thời thượng, nổi tiếng lúc đó mà nguời viết không tiện hài tên, bạn bè những tác giả này cũng ca tụng họ hết mình như hàng thi bá (một nhược điểm của giới làm Văn học Nghệ thuật cận và hiện đại, hay dở gì khen bừa); nhưng bây giờ hỏi còn ai nhớ được một bài Thơ của họ hoặc ít nhất là tinh thần những bài thơ đó không ? Chúng nói lên cái gì? Chúng ca tụng hay đả phá cái gì? Ðủ biết Thơ phải gần gũi với dân gian mới có thể tồn tại với thời gian. Thơ xa rời thực tế là chỉ để trang điểm nhất thời, dù Thơ bác học (Hán văn), cao xa đi nữa.

B-PHẢI GÂY ÐƯỢC SỰ XÚC ÐỘNG

Thơ là văn xuôi đã gạn lọc, cô đọng lấy phần tinh tuý sâu sắc của văn chương nên Thơ phải súc tích và truyền cảm nghĩa là gây được sự xúc động, xao xuyến từ tác giả sang người đọc.

Người đọc phải có được sự rung động của tác giả , dù cường độ kém hơn, mới được gọi là thơ hay. Thơ đọc lên trơ trơ trích trích, không chuyển động được một “thớ thịt đường gân” nào của người đọc, đó là Thơ kém giá trị. Ngưòi ta đọc Chinh phụ ngâm mà tưởng rằng mình là người chinh phụ, có chồng sắp ra ngoài quan ải đánh giặc, giữ nước. Người ta đọc Cung Oán mà cứ ngỡ mình là người cung phi bị thất sủng, nhà vua không đoái hoài tới.

Ðó là sự thành công của tác giả.

C-THƠ PHẢI NÓI LÊN MỌI KHÍA CẠNH CỦA ÐỜI SỐNG

Ðành rằng Thơ tình ái là loại Thơ nhiều người làm, nhiều người đọc nhất và cũng dễ làm hơn nhiều loại khác, nhưng một tác giả cả đời chỉ viết được những bài thơ tình ái hoặc ca tụng đàn bà như nhà thơ Ðinh Hùng là một (Ðường vào Tình sử, chính ông thú nhận), thì chưa thể gọi được là đã quán xuyến về Thơ.

Hầu hết những bài Thơ hay của những tác giả như Nguyễn bỉnh Khiêm, Nguyễn công Trứ, Trần tế Xương, Cao bá Quát, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Du, Tản Ðà, Nguyễn Trãi v.v…đều là Thơ về Thiền, Thơ yếm thế, luận bàn thế sự, nhân tình thế thái, Thơ đạo lý, triết lý cuộc đời, thơ nhàn v.v… mà rất ít hoặc không có Thơ tình.

Nguyễn Du tả Kiều trong thanh lâu, Kiều tiếp khách, Kiều tắm… vì Kim Vân Kiều là một cuốn tiểu thuyết Nguyễn Du phỏng theo cốt truyện của một tác giả Trung hoa (Thanh Tâm tài nhân) trước tác ra và đặt tên là Ðoạn trường Tân Thanh. Là tiểu thuyết, vả lại trung thành với nguyên tác, Ðoạn trường Tân Thanh cần phải có đủ tình tiết, hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục, người đọc mới thấy hết được những khiá cạnh của nhân vật chính trong truyện. Chứ không phải ông có ý tả chân để khiêu dâm như một số người đã gán cho ông (Huỳnh thúc Kháng, Ngô đức Kế: ai, dâm, sầu oán, đạo, dục, tăng, bi) hay như Nguyễn công Trứ: “Bán mình trong mấy mươi năm, Ðố đem chữ hiếu mà lầm được ai.”)

Quan niệm coi Kim Vân Kiều là một cuốn tiểu thuyết dâm ô đã quá lỗi thời. Trái lại người ta có thể tìm trong đó những vần thơ bất hủ được lưu truyền mãi mãi. Chúng ta chỉ nên coi Kiều là một tác phẩm văn chương mà thôi. Càng không nên đưa Kiều ra làm mẫu mực về đạo đức, luân lý (như có tác giả đã làm) mặc dù nhân vật Kiều rất nhân bản, chứa đựng đầy đủ tâm lý của con người bình thường.

Theo thiển ý, chỉ có một điều tiếc: Nguyễn Du không sáng tác mà nhờ vào một cốt truyện Tàu, dĩ nhiên thuộc thời đại vua Tàu, nhân vật Tàu, phong tục, văn hóa Tàu…, tuy cũng tương cận với chúng ta nhưng không thể bằng tất cả đều là Việt Nam.

D-CUỘC ÐỜI: ÐỀ TÀI VÔ TẬN CHO THI NHÂN

Cõi nhân sinh này còn rất nhiều điều cần đến nhà thơ, nhà văn ghé mắt đến. Nào là tôn giáo, gia đình, xã hội, đất nước, quê hương, dân tộc, tự do, dân chủ, bình đẳng, nào là công bằng, bác ái, vị tha, hi sinh cứu giúp kẻ khốn cùng… Ngay như thiên nhiên, cây cỏ, thú vật, chim muông, gia cầm, gia súc cũng là những đề tài vô tận.

Học giả Phạm Quỳnh trong báo Nam Phong xuất bản năm 1921 có viết:”…Làm một bộ tiểu thuyết, cốt là đặt cho hay, viết cho khéo, cho người đọc có hứng thú, …có lẽ ở những nước văn minh có thể nghĩ như thế được; nhưng ở những dân còn bán khai như dân ta thời văn chương rất là quan hệ cho đời lắm, nhà làm văn có cái trách nhiệm duy trì cho xã hội, dìu dắt cho quốc dân, nếu làm sai trách nhiệm ấy thời dẫu văn chương hay đến đâu cũng có tội với quốc gia, với danh giáo vậy. Các nhà tiểu thuyết ta há không nên cẩn thận lắm ru?” (Hết trích)

Tác giả Tô Hoài thời tiền chiến chỉ tả mấy con dế mèn phiêu lưu mà cũng được học sinh đua nhau đọc, nổi tiếng một thời. Vậy không phải chỉ Thơ tình ái mới ăn khách. Yêu đương, nhớ nhung, dang dở, chia phôi …chỉ bấy nhiêu, không phải lúc nào độc giả cũng “tiêu hoá “được. Viết lắm sẽ nhàm. Cứ một loại Thơ đó chỉ chứng tỏ tác giả không thể viết và nghĩ đa dạng mà thôi. Có nghĩa là tác giả không đủ tài. Mà cuộc đời hiện đại lại quá đa dạng, đa phương. Sự biến hoá của cuộc đời làm ta chóng mặt. Một vị Tổng Thống Mỹ, ông Franklin Roosevelt bảo với mọi người, trước khi ông đọc diễn văn trước quốc dân:” Vỗ tay nhiều không có nghĩa là diễn văn hay” Ta cũng có thể lấy câu đó áp dụng cho một số tác giả trước đây ở miền Nam và ngày nay ở hải ngoại, thơ, văn rất nghèo nàn nhưng bè bạn, theo cái mốt, dùng ống đu đủ thổi phồng và vỗ tay quá lố. Và đó cũng là lý do làm mất niềm tin của đa số độc giả có trình độ.

Đ-LÀM THƠ PHẢI TUÂN THEO NIÊM LUẬT, BẰNG TRẮC

Ngoại trừ Thơ tự do, không cần vần, không niêm luật bằng trắc, không giới hạn số câu, số chữ trong câu (Xin đọc bài Thương tiếc Columbia của người viết bài này), còn các thể thơ khác như lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn (Ðường luật), Thơ Mới … đều phải theo luật Thơ (vần, bằng trắc) Thơ mới hay. Vần dùng gượng ép, mất hay một phần. Chữ đúng ra phải vần mà không vần, không hay.

Ngoài ra, cũng để nhắc lại, cách dùng chữ, gieo vần thật quan trọng. Có nhiều từ kép, cụm từ có thể dùng xuôi ngược sao cũng cùng nghĩa. TD: đớn đau hay đau đớn, trôi nổi hay nổi trôi, phiền muộn hay muộn phiền, nghĩa đều như nhau. Nhưng không thể viết xa xót thay vì xót xa, loài lạc thay vì lạc loài, nhiên tự thay vì tự nhiên v.v… Những chữ bị đảo ngược như vậy hoặc có nghĩa khác hoặc vô nghĩa. Cần nhất là tránh làm Thơ vô nghĩa hoặc tối nghĩa dù đọc lên đầy hán tự có vẻ bác học.

E-Ý QUAN TRỌNG HƠN LỜI

Ðiều chót, dù còn nhiều điều chưa nói do giới hạn của bài này. Nếu ta không thể thoả mãn được cả hai phương diện hiệp vận (vần) và ý thì nên dùng chữ nào cho rõ ý còn hơn là dùng chữ hiệp được vần mà ý sai lạc hoặc vô nghĩa. TD: Bốn câu của cụ Yên Ðổ.

Cũng có lúc chơi nơi dặm khách

Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo

Có khi từng gác cheo leo

Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang

Tất cả đều hiệp vận ngoại trừ “leo” và “chiều”. Tuy nhiên, “chiều” mới đúng nghĩa. Nếu dùng “chèo” thì hiệp vận nhưng sai nghĩa.

Thí dụ khác: Bốn câu Thơ dịch của người viết bài này:

Xuân sang ngoạn cảnh xem hoa

Hè về hóng mát tà tà ao sen

Vào Thu rượu cúc êm êm

Ðông coi tuyết phủ, nối vần Nàng Thơ(TÐN)

Tất cả đều hiệp vận, ngoại trừ “êm” và “vần” , nhưng đúng ý nghĩa. Giả sử thay hai chữ “nối vần” bằng hai chữ “êm đềm” cho vần với câu trên thì trước nhất bị điệp ngữ êm, thứ hai “êm đềm Nàng Thơ” lại có nghĩa khác, không nói được cái thú ngâm Thơ, sáng tác Thơ của tác giả. (Ðông ngâm bạch tuyết thi). Bài thơ trên dịch từ bài thơ chữ Hán:

Xuân du phương thảo địa

Hạ thưởng lục hà trì

Thu ẩm hoàng hoa tửu

Ðông ngâm bạch tuyết thi

Ý nghĩa của một câu Thơ, một bài Thơ là quan trọng như vậy.

Một bài Thơ hay, một câu Thơ hay rất dễ nhìn ra y như một bông hoa đẹp. Ðâu cần phải phân tích cánh hoa làm sao, đài hoa, sắc hoa thế nào, ta mới biết là bông hoa đẹp.

Tiền nhân xưa sáng tác Thơ, vào hội Thơ, ngâm Thơ như một cái thú của đời người, nhất là khi về già. Không gì bằng có bạn Thơ, có giấy bút, có rượu, dù chỉ thanh đạm, cùng làm Thơ, cùng bàn luận về văn chương, về những hào khí của người xưa. Tổ tiên ta dùng Thơ để nói về mình, về người, dạy đời, mỉa mai những thói rởm của đời, tôn vinh những thú vui thanh quí, cao nhã “an bần lạc đạo” mà Thơ chính là một dụng cụ sắc bén và đắc dụng nhất cho các mục tiêu đó. Ta thử đọc lại một bài thơ của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dù ai vui thú nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao!

Bài sau đây của thi hào Tản Ðà Nguyễn khắc Hiếu, làm cho vở chèo Thiên thai. Ðây là cảnh hai tiên nữ tiễn Lưu Thần, Nguyễn Triệu về trần:

Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi!

Một bước trần ai

Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!

Nước chảy, huê trôi,

Cái hạc bay lên vút tận trời

Trời đất từ đây xa cách mãi

Cửa động,

Ðầu non,

Ðường lối cũ,

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!

Dù là một huyền thoại, người đọc Thơ không khỏi bùi ngùi cho cuộc chia tay giữa người tiên, kẻ tục sau một thời gian ngắn chung sống. Chữ dùng rất thanh thoát thích hợp với cảnh tiên: lá đào, Thiên thai, đá mòn, rêu nhạt… cái hạc, cửa động, đầu non … và kết thúc bằng ánh trăng mơ hồ huyền ảo muôn đời soi bóng. Một bài Thơ tuyệt đẹp. Từ đó chúng ta suy ra Thơ là thơ thẩn, là mơ hồ, đôi khi xa rời thực tế. Như nhà thơ Xuân Diệu đã viết:

Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây…

Thơ là kết tụ của tình yêu, tình yêu nam nữ, vợ chồng, tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người. Thơ là tự do, phóng khoáng, là sắc sắc không không của nhà Phật, là Vô vi, Thiền quán như Lão tử thực hành và đôi khi cũng cần phải yếm thế, chán cái đời sống đầy tục lụy này như Cao bá Quát, hay châm biếm những thói rởm, tật xấu của người đời như Trần tế Xương… Thơ thực quá, thô sơ quá, thơ không hay, không thoát. Nhiều bài không thể gọi được là Thơ mà chỉ là những bài vè dân quê truyền tụng ở nông thôn. Thơ lục bát tuy vậy rất khó làm, dễ trở thành bài vè ít giá trị. Làm được Thơ lục bát như truyện Kiều là một tuyệt tác.

Có nhiều bạn đọc viết thư cho người viết hỏi họ có thể sáng tác Thơ, có thể thành nhà thơ được không? Tiện đây, xin trả lời chung như thế này:

Ai cũng có thể sáng tác và trở thành thi sĩ, nếu:

Yêu thơ, đọc nhiều thơ, học thuộc thơ kiểu mẫu, thơ hay, chất Thơ ngấm vào trí óc giống như chất bổ ngấm vào thân thể, chúng giúp cho nhà thơ rất nhiều. Tuy vậy xưa kia đã có những người thuộc lòng cả cuốn truyện Kiều, cả cuốn Nhị độ Mai hay Bích câu kỳ ngộ nhưng vẫn không thể sáng tác Thơ.

Có thiên khiếu về Thơ. Có sự rung cảm, xúc động sâu xa như sợi dây đàn hoặc cái sáo trong không gian như đã nói ở trên.

Có vốn liếng nhiều về từ ngữ để sử dụng khi cần diễn dịch một ý tưởng thành lời nói, chữ viết, nhất là thành Thơ. Thơ tiếng Việt rất cần danh từ Hán – Việt.

Nắm vững các niêm, luật (bằng, trắc, vần) và các thể Thơ. Dùng chúng như những cái chìa khóa dẫn đường vào việc sáng tác Thơ.

Tuân theo các niêm, luật đó ngoại trừ Thơ tự do. Tuy nhiên, dù là Thơ tự do, nó vẫn không phải văn xuôi, vẫn cần một sự sắp xếp ý, lời và vẫn cần vần khi có thể cho câu thơ nhịp nhàng, cân đối.

Ðể bạn đọc hiểu thêm, xin nói như thế này. Có những nhà văn viết văn khá hay, nổi tiếng nhưng chính những nhà văn đó nói họ không thể sáng tác Thơ mặc dù chữ nghĩa đầy đầu.

Bởi như đã nói, tuy cùng là văn chương nhưng chúng hoàn toàn khác biệt về phương diện sáng tác. Lại cũng khác biệt về phương diện thưởng thức. Cũng cần nói thêm, khi đã không có trình độ thưởng thức thì bài nào cũng như bài nào, vàng thau lẫn lộn, bị đánh giá như nhau. Trình độ thưởng thức chính là những kiến thức thu thập được trong lãnh vực Thơ, nó chính là những bước căn bản đầu tiên đưa đến sự sáng tác Thơ nếu có hứng sáng tác.

Luận bàn về Thơ, chục pho sách cũng không đủ nói hết. Ðể kết thúc bài mạn đàm thiếu sót về Thơ này, xin mời quí bạn đọc một bài Thơ lục bát của tác giả bài này, bài “Chiều Ba Mươi”, thơ vui Tết và bài “Nói với Bút” cả hai đã đăng trên nhiều báo từ năm 1978 và 1992. Bài sau tác giả mượn cây bút để nói lên nỗi lòng của mình.

Vòng tay nhật nguyệt luân hồi

Đem Xuân trở lại nét môi diễm kiều

Lược gương từ giã cô liêu

Trẻ thơ tươi tắn nụ cười

Ðầu xanh, đầu bạc người người vui lây

Gió ngoài song, lạnh hiên tây

Chiều Xuân thi hứng lúc đầy, lúc vơi

Trong bình đào thắm, mai tươi

Nhìn em muốn hỏi Xuân cười lúc nao?

Giang tay bồng nhẹ Xuân vào

Môi son má phấn: Mai, Ðào hay em?

Bút ơi ! Yêu bút thiết tha

Bút theo ta chạy ta bà khắp nơi

Mùa Xuân rừng núi rong chơi

Miền quê, thành thị khắp nơi ra vào

Hạ về bút lắm xôn xao

Biển giông bão nổi ào ào chớm Thu

Mùa Ðông bút có sương mù

Có đôi chim gáy gật gù sớm mai

Ðường đời lắm nẻo chông gai

Bút cùng ta luận một vài điều hay

Cường quyền bút chẳng run tay

Bút mong Dân tộc những ngày sáng tươi

Chán đời vẫn hé môi cười

Ta cùng với bút một đời bên nhau

Vì ta bút trải tình sâu

Vì ta nên bút giãi dầu nắng mưa

Lòng ta bút hiểu hay chưa ?

Thơ là tuyệt đỉnh, tuyệt đích của văn chương. Sáng tác Thơ khó khăn hơn chơi Lan, chơi Bonsai, đánh cờ tướng, uống trà v.v… vì nghề Thơ cũng lắm công phu, không phải chỉ thích Thơ rồi nhảy vào làm Thơ mà Thơ hay được. Tuy nhiên, nếu đã có hồn Thơ tức dễ xúc động trước những biến đổi, nghịch cảnh của cuộc đời, rồi trau dồi kĩ năng về Thơ, làm nhiều bài Thơ, nghe ý kiến trung thực của bạn đọc và thân hữu, nhất là những người sành Thơ thì việc sáng tác Thơ cũng tiến bộ vậy.

Trích từ

http://vantuyen.net/

An Nhiên Là Gì? An Yên Là Gì? An Nhiên Tự Tại Là Cuộc Sống Như Thế Nào?

An nhiên là gì?

Trong cuộc sống thường ngày chúng ta thường nghe nói đến cuộc sống an nhiên hay một đời an nhiên. Vậy an nhiên ở đây là gì, có ý nghĩa gì không?

An nhiên là 1 từ hán việt dùng để chỉ trạng thái cuộc sống và tâm hồn bình yên, tĩnh lặng của con người. Nguồn gốc từ an nhiên bắt nguồn từ phật giáo. Theo đó, tâm cần phãi tĩnh giữa dòng đời, luôn giữ được trạng thái không muộn phiền, vô ưu, vô lo. Có như vậy mới có thể tìm thấy sự thanh thản trong tâm hồn và bình yên trong cuộc sống.

An nhiên cũng có nghĩa là buông bỏ, mong tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn, là 1 dạng tu dưỡng tâm hồn. Cuộc sống con người ta khổ sở vì những gì muôn nắm giữ, muốn sở hữu. Chi bằng hãy buông bỏ tất cả để trở về với 1 cuộc sống an nhiên tự tại, vô ưu, vô nghĩ…

An ở đây ý nói đến sự an bình trong cả tâm hồn và thể xác, nhiên có nghĩa là tự nhiên, thiên nhiên. Cuộc sống an nhiên đi tìm sự bình an trong tâm hồn khiến cho nó luôn luôn thư thái, không muộn phiền toan tính. Mọi việc diễn ra theo tự nhiên, chuyện gì đến cũng sẽ đến, không mưu cầu vật chất, danh lợi mà chỉ cầu mong một đời an nhiên, cuộc sống yên bình, luôn luôn vui vẻ.

Tên An nhiên thường được đặt cho con gái với ý nghĩa mong muốn cuộc yên ả, may mắn, bình yên cho con cái.

Dịch từ An nhiên:

An yên là gì?

An yên có nghĩa là sống 1 cuộc sống an lành và yên bình. Mọi thứ thật nhẹ nhàng, thư thả, không cầu danh lợi, chỉ mong tìm thấy sự bình an và yên tĩnh trong đời. Người sống cuộc sống an yên tự tại ít gây phiền nhiễu và cũng ít bị ảnh hưởng với những rắc rối quanh mình.

An Yên là cái tên đẹp thường được cha mẹ đặt cho con cái. Hàm ý của tên an yên là cầu mong sự an bình , bình yên, may mắn, suôn sẻ dành cho con trên bước đường đời.

An nhiên tự tại là gì?

An nhiên tự tại là thái độ sống chậm rãi của con người, thể hiện ở suy nghĩ khi đối diện với cuộc sống, mang hàm ý nhắn nhủ.

“Cuộc sống này ngắn ngủi lắm, hãy sống vui vẻ, đừng lãng phí, đừng để những lỗi no cơm áo gạo tiền ảnh hưởng đến tâm hồn của bạn. Hãy giữ cho tâm thái bạn tĩnh lặng, không muộn phiền và luôn lạc quan, vui vẻ để tận hưởng những giây phút đáng quý của cuộc đời”.

Khi ấy, bạn mới có thể cảm nhận được sự bình yên và ý nghĩa trong từng giây phút sống ở trên đời. Mọi thứ chỉ là phù du, sống an yên hạnh phúc mới là hành trình và đích đến. Hãy để cho tâm hồn mình tĩnh lặng giữa dòng đời xối xả.

Người sống cuộc sống an nhiên tự tại là người sống ung dung thong thả, không vướng bận, luôn làm chủ bản thân và không bị cuốn theo dòng đời hối hả.

Khám phá thêm: Đông Lào là nước nào?

Quả Gấc Là Gì? Dầu Gấc Được Làm Từ Quả Gấc Như Thế Nào?

Quả gấc là một trong những nguyên liệu cực kỳ quen thuộc trong đời sống của chúng ta đặc biệt là các bà nội trợ. Loại quả này chứa hàm lượng dinh dưỡng cực kỳ dồi dào bao gồm các vitamin và khoáng chất rất tốt cho sức khỏe toàn diện của con người.

Đây là một loại quả thân dây leo, khi chín có màu đỏ, có các gai xung quanh nhưng gai không hề nhọn. Thân cây gấc leo khỏe, chiều dài tối đa có thể lên đến 18, hoa của chúng thường có màu vàng và phân chia ra thành hai loại là hoa đực và hoa cái. Trong một mùa gấc, tùy thuộc vào thời tiết cũng như cách chăm bón, 1 cây gấc có thể cho từ 30 đến 60 quả gấc.

Loại cây này được trồng khá là phổ biến ở các nước khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Úc. Việt Nam có khí hậu thời tiết cũng như điều kiện thiên nhiên phù hợp nên gấc rất dễ phát triển và cũng không cần dành quá nhiều thời gian để chăm sóc.

Cách trồng gấc rất đơn giản, chỉ cần sử dụng hạt hoặc các cây con mới sẽ mọc lên từ rễ cũ. Quá trình thụ phấn của gấc được thực hiện bởi côn trùng, hiệu quả phụ thuộc vào việc đó là cây đực hay cây cái. Gấc được chia làm hai loại đó là gấc nếp và gấc tẻ.

Loại quả này thường được sử dụng khá nhiều trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, có thể dùng để chế biến thức ăn, cũng có thể dùng để điều chế các loại thuốc, làm đẹp,…

Gấc chữa bệnh gì? Giá trị của gấc đối với sức khỏe và làm đẹp

Đây là một loại trái một lành tính chứa hàm lượng chất dinh dưỡng, các vitamin và khoáng chất có lợi cho cơ thể. Theo các nghiên cứu khoa học cho thấy trong gấc chứa các thành phần chính sau: Caroten, lycopen, vitamin E, vitamin A,… Đây đều là những chất rất có lợi cho sức khỏe của con người. Thế cho nên gấc được sử dụng rất phổ biến từ chế biến thức ăn cho đến điều chế các sản phẩm làm đẹp hay là thuốc chữa bệnh.

Công dụng làm đẹp da và chống lão hóa

Hàm lượng vitamin A có trong gấc cao gấp 16 lần so với carot, cấp 1,5 lần so với cá thu. Đây là một loại vitamin thuần túy vì thế có tác dụng duy trì một làn da khỏe mạnh, mềm mại và mịn màng, thúc đẩy sự tổng hợp collagen cho làn da luôn trắng trẻo, hồng hào căng bóng tự nhiên.

Không những thế, theo nghiên cứu khoa học hàm lượng Beta-caroten có trong gấp cao gấp đôi so với carot. Chính vì vậy, loại quả này sẽ tăng cường khả năng miễn dịch và đề kháng cho da, đẩy lùi các triệu chứng lão hóa cơ thể.

Lượng vitamin E có trong dầu gấc có tác dụng cực mạnh trong việc cân bằng, duy trì cơ quan sinh sản của phụ nữ, làm đẹp da, trắng da cực kỳ hiệu quả. Đó chính là lời giải đáp cho những thắc mắc tại sao chiết xuất gấc lại có mặt trong hầu hết tất cả các loại kem dưỡng ẩm và dưỡng trắng da.

Gấc có công dụng rất tốt cho mắt

Vitamin E có trong gấc không những đóng vai trò làm đẹp da mà còn hỗ trợ trong việc cải thiện thị lực mắt, cung cấp độ ẩm, bảo vệ mắt khỏi những tác động tiêu cực như ánh sáng xanh từ các thiết bị điện tử, tia UV từ mặt trời.

Các loại vitamin E bổ mắt trên thị trường hiện nay gần như đều có sự đóng góp lớn của thành phần gấc.

Ngăn chặn các hiện tượng xơ vữa động mạnh, đột quỵ

Hàm lượng axit béo có sẵn ở trong gấc sẽ giúp hòa tan tự nhiên Lycopen trong cơ thể. Chính vì thế sử dụng gấc hoặc dầu gấc thường xuyên thay cho các loại dầu ăn bình thường sẽ giảm thiểu tối đa các hiện tượng xơ vữa động mạch và nguy cơ đột quỵ. Đó chính là lý do vì sao các nhà khoa học, các chuyên gia dinh dưỡng đánh giá gấc cực kỳ quan trọng và cực kỳ hữu ích với sức khỏe của con người.

Giúp ức chế hơn 70% các chất gây ung thư

Hàm lượng Lycopen có trong gấc cao hơn 60 lần so với cà chua. Lycopene, Beta Carotene đều là những thành phần ức chế các chất gây ung thư và nguy hiểm cho cơ thể người, đặc biệt là ung thư vú ở phụ nữ.

Gấc là một loại thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng đối với sức khỏe con người thế cho nên gấc được biến tấu theo nhiều cách thức để phát huy công dụng tối đa. Có rất nhiều cách thức chế biến gấc đơn giản và tiện lợi:

Chế biến thành dầu gấc: dầu gấc có thể cất trữ được quanh năm, vừa giàu giá trị dinh dưỡng lại làm cho món ăn có thêm màu sắc. Dầu gấc rất tốt cho sự phát triển của trẻ.

Chế biến thành siro gấc: bạn có thể ngâm gấc và đường để làm siro gấc. Một cốc siro gấc cho mùa hè tươi mát vừa nhiều chất lại vừa giải nhiệt thanh lọc cơ thể.

Chế biến thành các món ăn đơn giản như: xôi gấc, bánh chưng gấc, các loại bánh mochi gấc để tăng thêm hấp dẫn cho bữa ăn của cả gia đình.

Chế biến thành son dưỡng môi và sáp dưỡng da. Như đã nói ở trên, hàm lượng vitamin E và vitamin A dồi dào có trong gấc cực kỳ tốt cho công cuộc làm đẹp của chị em. Thế cho nên dùng gấc kết hợp với sáp ong sẽ tạo nên được nhiều thành phẩm chăm sóc sắc đẹp như son dưỡng môi hoặc sáp dưỡng da.

Kẹo gấc: hạn chế mua những gói bánh kẹo quá nhiều hóa chất, mẹ có thể tự tay làm ra những chiếc kẹo mút, viên kẹo tròn bằng gấc cho con ăn.

Rượu gấc: gấc không những đóng vai trò trong việc tạo ra những món ăn ngon mà còn góp mặt làm nên những loại thức uống tốt cho sức khỏe, điển hình là rượu gấc. Dùng gấc để ngâm rượu, một ngày đều đặn uống 2 chén vừa rất đẹp da lại tốt cho việc cân bằng cơ thể.

Chè gấc: nếu đang muốn thay đổi thực đơn món ăn vặt cho cả gia đình, thay vì mua những cốc chè đầy màu sắc không đảm bảo an toàn vệ sinh thì các bà nội trợ có thể dùng gấc để nấu chè gấc cốt dừa hoặc chè khoai gấc. Vừa ngon vừa bổ dưỡng mà lại an toàn và lành tính cho sức khỏe của cả gia đình.

Dầu gấc được làm từ quả gấc như thế nào?

Hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong quả gấc cực kỳ dồi dào, vì vậy sử dụng gấc thường xuyên là một thói quen tốt. Tuy nhiên quả gấc đơm hoa, kết trái theo mùa, muốn có gấc dùng quanh năm thì chỉ có cách chế biến thành dầu gấc. Vậy các thao tác làm dầu gấc sẽ diễn ra như thế nào, có quá khó và phức tạp hay không?

Làm dầu gấc không phải đơn giản cũng không phải quá khó, chỉ cần chịu khó kiên trì một chút là bạn đã có được thành quả cho cả gia đình sử dụng quanh năm.

Bước đầu tiên cũng là bước hết sức quan trọng chính là lựa chọn gấc. Nên lựa chọn quả gấc tươi đã chín đỏ vì hàm lượng DHA trong gấc chín rất là cao và đặc biệt tốt cho trẻ nhỏ.

Tiếp đến bạn bóc tách để lấy phần thịt gấc, cho một chút rượu trắng vào trộn lẫn cùng thịt gấc và màng hạt gấc.

Bóp đều tay trong vòng 20 phút rồi đem đi xay, quá trình này ảnh hưởng nhiều tới chất lượng dầu gấc thế cho nên bạn hãy chú ý đều tay một chút để ép được hết các tinh chất có từ trong thịt gấc.

Sau đó chỉ cần bỏ vào chảo, thêm một chút dầu ăn và sên trên bếp với nhiệt độ không quá 70 độ C.

Khuấy đều tay để duy trì nhiệt độ trong chảo, đừng để hỗn hợp sôi sẽ làm mất đi kết cấu thành phần dưỡng chất. Khuấy trong 30 phút thì lấy hỗn hợp ra và để nguội rồi dùng màng lọc hoặc khăn xô để lọc phần dầu riêng và phần bã riêng.

Cuối cùng bạn đã thu được dầu gấc thành phẩm tự nhiên, an toàn và không có pha chế. Theo mô tả có vẻ đơn giản nhưng để đạt được một kết quả mỹ mãn không hề dễ.

Những lưu ý khi sử dụng và chế biến gấc

Từ xa xưa hạt gấc đã được ông cha ta giữ lại và có một vai trò không hề nhỏ trong các bài thuốc chữa bệnh. Đến nay thói quen đó vẫn được giữ gìn. Tuy nhiên bạn nên cẩn thận vì trong hạt gấc có một lượng độc tố nhất định có thể ảnh hưởng đến tính mạng của con người.

Khi chọn gấc, bạn nên chọn những quả tròn đều, chín hoàn toàn, vỏ ngoài màu đỏ cam thẫm, khi cầm thấy chắc tay và nặng. Đừng vội sử dụng các quả gấc chưa chín vì hàm lượng DHA có trong nó không nhiều như gấc chín rồi.

Một số câu hỏi thường gặp khi sử dụng gấc

Có nên ăn gấc nhiều hay không?

Thường xuyên sử dụng gấc là một thói quen tốt vì trong gấc có chứa hàm lượng dinh dưỡng rất cao. Tuy nhiên không nên lạm dụng quá nhiều bởi trong nó có chứa thành phần Vitamin A tan trong dầu chứ không phải tan trong nước như các loại vitamin khác. Vì thế, nếu dùng nhiều quá sẽ gây tích trữ lại trong gan, lâu ngày sẽ gây ngộ độc. Không những vậy còn có thể gây ra hiện tượng vàng nha nhất là trong lòng bàn tay và lòng bàn chân.

Sử dụng quá nhiều gấc còn gây ra các hiện tượng như đau đầu, buồn nôn và rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ. Đặc biệt trẻ em nếu cho dùng quá nhiều gấc thì sẽ chậm tăng cân và hạn chế sự phát triển của xương.

Trái gấc có ăn sống được không?

Đây là một loại thực vật không nên ăn sống. Chúng ta chỉ nên dùng trái hoặc dầu của chúng để chế biến các món ăn nhằm tăng thêm sự đẹp mắt và bổ sung hàm lượng các chất dinh dưỡng. Gấc tươi chỉ dùng để cho chị em phụ nữ làm đẹp bằng cách đắp mặt nạ gấc mà thôi.

Nên sử dụng dầu gấc như thế nào cho đúng cách?

Để bảo quản lâu hơn và có thể sử dụng được quanh năm thì chế biến thành dầu là cách tốt nhất. Cũng như gấc tươi, dầu gấc có từng định lượng riêng cho từng đối tượng để đảm bảo không thừa và không thiếu.

Với người lớn thì chỉ nên dùng từ 1-2ml trong 1 ngày. Có thể dùng trước bữa ăn hoặc sử dụng để nấu thức ăn. Còn với trẻ em, mỗi tuần chỉ nên cho dùng 2ml, có thể hòa vào cháo hoặc cho con uống trực tiếp tùy ý.

Khi đã dùng nhiều dầu gấc rồi thì nên bổ sung rau xanh thay vì tiếp tục sử dụng bí đỏ, cà rốt hay đu đủ.

Không nên dùng loại dầu này để chiên rán vì làm như thế sẽ phá hủy hết cấu trúc của các thành phần dưỡng.

Gấc là một loại quả tự nhiên có hàm lượng dinh dưỡng cao rất tốt cho sức khỏe của con người. Tuy nhiên nên lưu ý sử dụng đúng cách, đúng lượng để cơ thể hấp thu tối đa và mang lại hiệu quả tốt nhất.

(Visited 175 times, 1 visits today)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!