Đề Xuất 2/2023 # Thæ¡ LᔥC Bã¡T (8) : Cã¡C Hã¬Nh ThᔩC LᔥC Bã¡T BiếN Thá”Ƒ I # Top 6 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Thæ¡ LᔥC Bã¡T (8) : Cã¡C Hã¬Nh ThᔩC LᔥC Bã¡T BiếN Thá”Ƒ I # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thæ¡ LᔥC Bã¡T (8) : Cã¡C Hã¬Nh ThᔩC LᔥC Bã¡T BiếN Thá”Ƒ I mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thơ Lục Bát (8) : Các hình thức Lục Bát Biến Thể I

Nội dung phần II Các biến thể của thơ Lục Bát bao gồm :

1-Lục bát ngắt câu 2-Lục bát “Tứ Bằng Lục Trắc” 3-Lục Bát thêm vào (Lục bát More) 4-Lục bát biến thể âm vận (Lục bát Bút Tre) 5-Lục Bát Trắc vận 6-Lục bát xen kẽ, và Lục bát kết bài 7-Song Thất Lục Bát 8-Lục Bát Lập thể =================

I-LỤC BÁT BIẾN THỂ NGẮT CÂU (Lục bát đoạn cú)

1-Tiết tấu nhanh chậm, hối thúc trong một câu thơ :

-Một câu thơ nếu để trôi xuôi, sẽ có dạng như một dòng nước lững lờ, đều đều lặng lẽ. Thí dụ : Anh cho em một đoá hồng Khơi lên hy vọng trong lòng của em

-Với thủ pháp ngắt mạch [Xin xem lại ở phần I, Thơ Lục Bát, Mỹ Từ Pháp, thủ pháp ngắt mạch], ta có thể dễ dàng thay đổi nhịp điệu của dòng chảy ấy, khiến cho nhịp thơ nhanh hơn, cuồn cuộn hơn, hối thúc hơn Thí dụ : Nụ cười, ánh mắt, hoa hồng Cho em, cho cả tấc lòng yêu thương

Thí dụ khác : Em là hạt cải gió đưa Anh quen em lúc trời mưa bất ngờ Viết lại bằng thủ pháp ngắt mạch : Sấm vang, chớp giật, gió đưa Mây mù xe mối, hạt mưa kết tình

-Khi muốn có một tiết tấu chậm hơn, thậm chí ngập ngừng, e dè, thủ pháp ngắt mạch cũng thường được sử dụng, kèm theo những dấu 3 chấm Thí dụ : Anh bây giờ … còn lại … một mình thôi Tóm lại : Chính thủ pháp “Ngắt mạch” đã có hiệu ứng thúc đẩy tiết tấu nhanh chậm, mạnh mẽ, hối thúc, hoặc chậm rãi, ngập ngừng … của một bài thơ vậy

2-Lục bát biến thể ngắt câu :

Hai câu lục bát được ngắt mạch ra thành những câu ngắn hơn, phân biệt hoàn toàn bằng cách xuống dòng. Các thí dụ :

Biến thể [6/8] thành [3,3/8] hoặc [3,3/4,4]

Trời trong xanh, nước trong xanh Êm êm tiếng hát, bập bềnh thuyền con Đàn tơ sáo trúc nỉ non Thuyền ai xa bến, cô thôn mong chờ

Viết lại thành [3,3/8] :

Trời trong xanh, Nước trong xanh Êm êm tiếng hát, bập bềnh thuyền con Đàn tơ sáo trúc nỉ non Thuyền ai xa bến, cô thôn mong chờ

hoặc [3,3/4,4]

Trời trong xanh, Nước trong xanh Êm êm tiếng hát, Bập bềnh thuyền con Đàn tơ sáo trúc nỉ non Thuyền ai xa bến, cô thôn mong chờ

Biến thể [6/8] thành dạng [2,2,2/8], [2,2,2/4,4] hoặc [2,2,2/3,5], [6/2,2,2,2] v.v…

Một mai phấn nhạt hương phai Bình rơi, trâm gãy, bèo trôi, hoa tàn Viết lại thành dạng [2,2 ….]

Một mai ……. phấn nhạt …………….hương phai Bình rơi ……. trâm gãy ……………bèo trôi chúng tôi tàn

Tóm lại :

Lục bát biến thể ngắt câu là một dạng lục bát mới xuất hiện khoảng 30 năm gần đây, và thường được coi như một trong các dạng Thơ tự do. Thể loại này khá hay, đặc biệt là diễn tả được tiết tấu nhanh chậm, hối thúc, hoặc ngập ngừng, chậm rãi của mạch thơ.

Một hậu quả xấu :

Khi ngắt mạch bừa bãi, tuỳ hứng, không vì một mục đích gì rõ rệt, hoặc vì không hiểu thủ thuật ngắt mạch, thì hậu quả là ta sẽ có được những bài … “Lục bát … tốn giấy” (!) , cũng hay được gọi đùa là … “Lục nồi … lung tung” (!)

Thí dụ : Con mèo ………….mà ………………trèo cây cau Hỏi thăm ……….chú chuột ……………..đi đâu vắng … …………………………… nhà ! [… Thật là dị hợm phải không các bạn ? …..]

Thêm một thí dụ về Lục bát biến thể ngắt câu (của tác giả Promise) :

BẤT NGỜ

Bất ngờ nắng Bất ngờ mưa Bất ngờ anh đến Lòng chưa hỏi lòng

Bất ngờ gió Bất ngờ giông Bất ngờ em nhớ Anh không lại tìm

Kẻ quay đi Người trách mình Bất ngờ gặp gỡ Vô tình chia xa.

Promise (Trên thi đàn TTVNOnline.com)

II-LỤC BÁT BIẾN THỂ TỨ BẰNG LỤC TRẮC

1-Nhắc lại đôi điều về Lục bát chính thể :

Trong phần mở đầu của Thơ Lục bát (ở phần I) ta đã biết là Lục bát chính thể luôn luôn tuân thủ luật “Tứ Trắc Lục Bằng” trong câu 8. (Câu 6 được tự do, linh động hơn, có thể không theo luật này) Vài thí dụ :

Mai sau dù CÓ bao giờ Đốt lò hương CŨ, so tơ phím này Trông ra ngọn CỎ lá cây Thấy hiu hiu GIÓ thì hay chị về Hồn còn nặng MỘT lời thề Nát thân bồ LIỄU đền nghì trúc mai ……………………….(Nguyễn Du-Kiều)…….

Nước non nặng MỘT lời thề Nước đi đi MÃI không về cùng non Nhớ lời nguyện NƯỚC thề non Nước đi chưa LẠI, non còn đứng không Non cao những NGÓNG cùng trông Suối khô dòng LỆ chờ mong tháng ngày …………………..(Tản Đà NKH-Thề non nước)……

Tâu rằng :-“Cha QUÁT ngày xưa, Trước khi lâm TỬ dặn dò đinh ninh Chớ nên cho QUÁT cầm binh E rằng hại NƯỚC, thân mình cũng vong Trước làm bại HOẠI gia phong Sau làm xương TRẮNG máu hồng tuôn rơi Việc quân há PHẢI việc chơi Xin vua xét LẠI, chớ vời trẻ ranh” ………(HSN-Thừa tướng Ứng hầu Phạm Thư)…..

Vài thí dụ về sự linh động trong câu 6 : Chữ thứ tư có thể là thanh bằng, đặc biệt khi sử dụng thủ pháp Ngắt mạch kèm theo Tiểu đối hoặc Tiểu đồng dạng

Nước trong xanh, TRỜI trong xanh Êm êm tiếng hát , bập bềnh thuyền con

Yêu nhau đi, YÊU nhau đi Ngày mai hai đứa biệt ly ngàn đời

Khi tựa gối, KHI cúi đầu Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày

Tuy vậy hình thức này không thông dụng, chỉ nên lâu lâu điểm xuyết mà thôi. Nếu lạm dụng, sẽ đánh mất sự hài hoà, thanh thoát của bài lục bát.

2-Lục bát biến thể “Tứ Bằng Lục Trắc”

Thay vì “Tứ Trắc Lục Bằng” như truyền thống lâu đời của Thơ lục bát chính thể, nếu bây giờ ta đảo ngược luật đó thành “Tứ Bằng Lục Trắc”, thì ta sẽ có được một thể Lục bát mới, đó là Lục bát biến thể “Tứ Bằng Lục Trắc”. Chữ cuối câu 6 sẽ phải ăn vần với chữ thứ 4 của câu 8 Lục bát biến thể loại này cũng ít khi thấy toàn bài, mà chỉ thấy thỉnh thoảng đan xen trong Lục bát chính thể mà thôi

Vài thí dụ về Lục bát biến thể “Tứ Bằng Lục Trắc”:

Mẹ già ở với nàng DÂU Đoạn thảm vơi SẦU, con một cậy cha Mười phần thương mẹ ở nhà Chín phần thương vợ còn là thơ ngây ….(Khuyết Danh-Thoại Khanh Châu Tuấn)……

Thoắt thôi vợ nói cùng CHỒNG Đặng bốn mươi ĐỒNG gặp buổi đúc chuông …………………….. Âu là một thái tử ĐÂY Ban cho nhà NÀY chẳng tiếc làm chi …………(Khuyết Danh-Phạm Công Cúc Hoa)

Em ta bé bỏng thơ ngây Ngày xưa hay đứng nhìn mây trông trời Môi hồng má đỏ thắm TƯƠI Ít nói ít CƯỜI, hay mộng hay mơ Ông tơ làm rối mối tơ Một lần lỡ bước bơ vơ xứ người ……………………(HSN-Ngàn dâu)……

Bảy năm giao kết Đào viên Trong nhà chăm chỉ, ngoài thềm siêng năng Thạch Sanh hay lũ hay LAM Ít ngủ hay LÀM, dậy sớm thức khuya Lý gia hưng thịnh mọi bề Tiền muôn bạc ức đề huề hơn xưa ……..(HSN-Thạch Sanh Lý Thông tân biên)…..

III-LỤC BÁT THÊM VÀO (Lục bát MORE)

Lục bát thêm vào (còn được gọi đùa vắn tắt là Lục bát More; chữ More nghĩa là thêm vào…) là một thể loại “thật tưởng như đùa, đùa y như thật”, xuất phát từ Lục bát chính thể, hình thành bằng cách “thêm vào” mỗi câu một, hai, ba chữ nữa. Thể loại này thường thấy trong ca dao hơn cả .

Thí dụ 1: Thử so sánh hai câu sau đây

+Lục bát chính thể :

Yêu nhau MẤY núi cũng trèo MẤY sông cũng lội, MẤY đèo cũng qua

+Lục bát biến thể “thêm vào” : Thơ 6/8 thành thơ 7/10 !

Yêu nhau TAM TỨ núi cũng trèo NGŨ LỤC sông cũng lội, THẤT BÁT đèo cũng qua

Hoặc :

Yêu nhau BA BỐN núi cũng trèo NĂM SÁU sông cũng lội, BẢY TÁM đèo cũng qua

Thí dụ 2 :

+Lục bát chính thể :

Em nhỏ thó, có duyên NGẦM Khiến anh thương trộm nhớ THẦM bấy nay

+Lục bát biến thể “Tứ bằng lục trắc”

Em nhỏ thó, có duyên NGẦM Anh phải lòng THẦM đã bấy lâu nay

+Lục bát More “Tứ bằng lục trắc” :

(Thấy) em nhỏ thó (lại) có duyên NGẦM Anh phải lòng THẦM đã bấy lâu nay

+Lục bát More ngắt câu :

Thấy em nhỏ thó, Lại có duyên NGẦM Anh phải lòng THẦM đã bấy lâu nay

Thí dụ 3 :

+Lục bát chính thể :

Bước ngang nhà má tôi QUỲ Vì thương con má sá GÌ thân tôi

+Lục bát More :

Bước ngang nhà má, tay tôi xá, cẳng tôi QUỲ Vì thương con má sá GÌ thân tôi

+Lục bát More biến thể ngắt câu :

Bước ngang nhà má Tay tôi xá Cẳng tôi QUỲ Vì thương con má sá GÌ thân tôi

Rõ ràng là nhờ “thêm mắm dặm muối” mà Lục bát thêm vào nghe đã tai, hay hơn hẳn Lục bát chính thống vậy

IV-LỤC BÁT BIẾN THỂ ÂM VẬN (Lục bát Bút Tre)

1-Nhắc lại về luật Phù Trầm :

+Trong câu 8, nếu chữ thứ 6 là Phù bình thanh (không dấu), thì chữ thứ 8 phải là Trầm bình thanh (dấu huyền) Thí dụ :

Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà ĐAU đớn LÒNG

+Ngược lại nếu chữ thứ 6 là Trầm bình thanh (dấu huyền), thì chữ thứ 8 bắt buộc phải là Phù bình thanh (không dấu) Thí dụ

Làn thu thuỷ, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu HỜN kém XANH

2-Lục bát biến thể âm vận

Còn được gọi ngắn gọn là Lục bát Bút Tre, do nhà thơ Bút Tre đi tiên phong. Thể loại này có được bằng hình thức “phá cách” về âm vận, trong khi vẫn tuân thủ chặt chẽ luật “Phù Trầm”. Cụ thể là : -Vẫn tuân thủ chặt chẽ luật phù trầm -Các âm trắc có thể linh động thay thế bằng âm bằng tiệm cận với nó

Hiệu quả : Đạt được tính trào phúng, khôi hài cao độ nếu sử dụng một cách tinh tế, thâm thuý, hài hoà. Thí dụ : Trích từ thơ dân gian-Tác giả Khuyết danh

Đứng xa cứ tưởng ta già Lại gần mới biết vẫn là … trẻ … khô Mắt HI, môi sứt, mặt RÔ (hí / rỗ) Cô ơi tui chỉ hơn cô mấy TUỒI (tuổi)

Thuyền đi ngược, nước chảy xuôi Trăm năm nhớ mãi cái BUÔI ban đầu (buổi)

Chồng bà mới chết hôm qua Vừa NĂN, vừa khóc, vừa XÒA, vừa rên (nắn / xoa)

Ý câu này bề ngoài là “vừa lăn, vừa khóc, vừa xõa tóc, vừa rên la” vì … thương chồng, nhưng lại bao hàm một ý ngầm “nắn / xoa” vừa tinh tế, vừa thâm thúy, cười người phụ nữ bị mất … một món … đồ chơi !!!

V-LỤC BÁT TRẮC VẬN

Từ lâu, thơ Lục bát hầu như tất cả đều là vần bằng. Tuy vậy, vẫn có thể tìm thấy những thí dụ về Lục bát trắc vận trong kho tàng ca dao Việt Nam, đặc biệt là ca dao phương Nam. Mới nghe qua thấy có vẻ kỳ quặc, nhưng quả thật là có thứ Lục bát vần Trắc thật :

*Thí dụ 1 : Ca dao

Tò vò mà nuôi con NHỆN Ngày sau nó lớn nó QUẾN nhau đi Tò vò ngồi khóc tỉ ti Nhện ơi nhận hỡi nhện đi đàng nào ?

*Thí dụ 2: Thơ dân gian +Lục bát Trắc vận :

Môi xẻ, mũi lân, mắt LỘ Khắp xứ này không ai NGỘ bằng em

+Lục bát More Trắc vận :

Môi thò lõ, lỗ mũi lân, con mắt LỘ Khắp xứ này không ai NGỘ bằng em

+Lục bát More, Ngắt câu, Trắc vận :

Môi thò lõ Lỗ mũi lân Con mắt LỘ Khắp xứ này, không ai NGỘ bằng em

*Thí dụ 3 : Thơ dân gian +Lục bát chính thể :

Mũi xúc xích, miệng chèm BÈM Làng trên xóm dưới ai THÈM cưới cô !

+Lục bát Trắc vận :

Miệng chèm bèm, mũi xúc XÍCH Có thằng khùng nó rục RỊCH cưới cô !!!

*Tóm lại : Lục bát trắc vận tuy chỉ là … của hiếm, và thường dùng để đùa bỡn thôi, nhưng dù sao vẫn tồn tại thể loại này trong thi ca, đặc biệt là thi ca truyền khẩu Nam bộ.

*Ý kiến khác : Có người cho rằng không có cái gọi là “Lục bát trắc vận”, mà những trường hợp thí dụ nêu trên chỉ là một biến thái thêm bớt chữ của thể “Song thất” mà thôi. Thí dụ :

Miệng chèm bèm, mũi (như) xúc XÍCH Có thằng khùng (nó) rục RỊCH cưới cô !

Nghĩ như vậy cũng có thể là đúng. HSN chỉ nêu ra, và không dám có ý kiến riêng.

(Còn tiếp)

HSN

Lá Diêu Bông Là Gì? Sự Thật Về “Lá Diêu Bông”

Lá diêu bông còn được ví von với cái tên khác là “sao em nỡ vội lấy chồng”. Sao em nỡ vội lấy chồng là một bài hát trữ tình do chính nhạc sĩ Trần Tiến tạo ra vào năm 1990. Bài nhạc này được mô phỏng từ bài thơ “Lá diêu bông” của tác giả Hoàng Cầm. Nội dung của bài hát này được dùng để diễn tả về một người con gái đã thề non hẹn biển. Với người con trai mà cô đem lòng yêu thương là: Nếu như anh có thể tìm được “lá diêu bông” thì cô sẽ đồng ý lấy chàng làm hôn phu. Tuy nhiên cô biết rằng không hề có loại lá diêu bông trên đời. Theo thời gian thì người con trai cô đem lòng yêu luôn đi tìm loại lá đó, nhưng cô đã đi lấy chồng từ rất lâu.

Tác giả Hoàng Cầm đã đưa một tình yêu vừa có phần chân thật vừa mờ ảo vào tác phẩm của mình. Tạo thành một tác phẩm bình dị, chân thực và hài hước của một thời trai trẻ ở cậu bé. Cũng từ tác phẩm này mà các cô gái muốn chối bỏ tình cảm của người con trai. Thường sử dụng chiếc lá diêu bông để làm khó người con trai.

Nguồn gốc của câu chuyện Lá Diêu Bông

Nguồn gốc của bài thơ “Lá Diêu Bông” bắt nguồn từ câu chuyện tình cảm có thật của chính tác giả. Khi đó ông chỉ là cậu bé 8 tuổi, về quê thăm ông bà ở làng Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh. Đúng lúc đang ở trong quán của mẹ mình ông đã gặp được một người con gái xinh đẹp 16 tuổi. Bước vào quán của mẹ mình, ngay lập tức tác giả đã trúng phải tiếng sét ái tình. Qua một khoảng thời gian 4 năm trời ông đã luôn yêu thầm người con gái ấy.

Tuy nhiên người con gái ấy cũng biết được tình cảm của ông nhưng vẫn giữ im lặng. Một ngày nọ cô nói vui với tác giả rằng “Nếu ai tìm được chiếc Lá Diêu Bông thì sẽ gọi là chồng của mình”. Với kiến thức của mình thì tác giả đã biết rằng không hề có chiếc lá diêu bông. Nhưng vẫn mải miết đi tìm suốt từng ấy năm, tuy nhiên khi ông 12 tuổi thì người con gái đó đã đi lấy chồng. Đến năm ông 37 tuổi thì ông đã sáng tác ra bài thơ “Lá diêu bông”.

Bản nhạc được sáng tác từ bài thơ “Lá diêu bông”

Bài thơ của tác giả Hoàng Cầm đã được ca nhạc sĩ Hữu Nội phổ thành nhạc. Bởi vì những khó khăn trong cuộc sống nên tác giả Hoàng Cầm đã mở quán rượu để buôn bán. Vô tình ca nhạc sĩ Hữu Nội lại thường xuyên ghé qua quán của tác giả Hoàng Cầm. Từ đó vô tình bài hát “Lá diêu bông” đã được ca nhạc sĩ Hữu Nội hát ngân nga và truyền đến tai mọi người.

Vô tình thì bài hát “Lá diêu bông” đã được truyền ra nước ngoài. Một người bạn của tác giả Hoàng Cầm đã biết được, chính ông là một nhạc sĩ nên đã cho ra đời một bài hát. Bài hát đó khá nổi tiếng nhưng Hoàng Cầm vẫn thích bài hát của Hữu Nội hơn so với những bài hát mới.

Bài Thơ “Mùa Lá Rụng” Của Nhà Thơ Olga Berggoltz

Mùa thu ở Mátxcơva người ta thường treo những tấm biển trên các đại lộ, với dòng chữ: “Tránh đừng động vào cây, mùa lá rụng”

Những đàn sếu bay qua. Sương mù và khói toả.Matxcơva lại đã thu rồi!Bao khu vườn như lửa chói ngời,Vòm lá sẫm ánh vàng lên rực rỡNhững tấm biển treo dọc trên đại lộNhắc ai đi ngang dù đầy đủ lứa đôiNhắc cả những ai cô độc trong đời:“Tránh đừng động vào cây, mùa lá rụng”Ôi trái tim, trái tim một mình tôiĐập hồi hộp giữa phố hè xa lạBuổi chiều kéo lang thang mưa giáKhẽ rung lên bên khung cửa sổ sáng đènỞ đây tôi cần ai khi xuôi ngược một mình?Tôi có thể yêu ai? Ai làm tôi vui sướng?“Tránh đừng động vào cây, mùa lá rụng” –Nhắc suốt đường cũng chỉ bấy nhiêu thôi!Nếu không có gì ao ước nữa trong tôiThì có nghĩa chẳng còn gì để mấtAnh từng ở đây, từng là người thân nhấtSao phút này làm người bạn cũng không?Tôi chẳng hiểu vì sao cứ ngùi ngẫm trong lòngRằng sẽ phải xa anh vĩnh viễnAnh – con người không vui, con người bất hạnhCon người đi đơn độc quá trong đờiThiếu cẩn trọng chăng? Hay chỉ đáng nực cười?Thôi, hãy biết kiên tâm, mọi điều đều phải đợiDiu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi!Mưa thầm thì rơi mãi lúc chia lyMưa tối rầm nhưng ấm áp nhường kiaMưa run rẩy trong sáng ngời chớp loá…Anh hãy cố vui lên dù con đường hai ngảTìm hạnh phúc bình yên trong ấm áp cơn mưa!…Tôi ra ga, lòng lặng lẽ như xưaMột mình với mình thôi, chẳng cần ai tiễn biệtTôi không thể nói cùng anh đến hếtVà bây giờ còn biết nói gì thêm!Cái ngõ con đã tràn ngập màu đêmNhững tấm biển dọc đường càng thấy trống:“Tránh đừng động vào cây,mùa lá rụng…”

(Bằng Việt dịch)

Đề Tài: Cây Dừa (Lớp Lá)

Đề tài: CÂY DỪALứa tuổi: 5-6

I. Mục đích yêu cầu– Giúp trẻ hiểu và cảm nhận bài thơ– Nhớ tựa đề bài thơ” Cây dừa” của tác giả Trần Đăng Khoa– Hiểu được nội dung cơ bản của bài thơ: Trẻ hiểu trong thiên nhiên có nhiều loại cây. Mỗi loại cây đều có hình dáng và tên gọi riêng. Một số loại cây ra hoa kết quả phục vụ đời sống con người.– Giúp trẻ làm quen với các biện pháp so sánh, nhân cách hoa– Giáo dục trẻ yêu mến và bảo vệ tài nguyên thiên nhiênII. Chuẩn bị– Tranh vẽ

III. Hướng dẫn– Cô đố, cô đố– Cô đố:” Thân em tròn trịa Nước uống ngọt thanhTrong trắng ngoài xanhNgười người ưa thích” Đó là quả gì?– Thế lớp mình đã biết cây dừa và trái dừa, Bây giờ lớp mình tả cây dừa cho cô nghe nào.– À ! Thân cây dừa mọc thẳng, tròn, màu bạc, chia thành từng đốt, nhẵn– Lá dừa màu xanh dài và thẳng, có chùm quả dừa, quả dừa tròn, trong có cùi, có nhiều nước rất ngon– Cô cũng có bài thơ ” Cây dừa” của tác giả Trần Đăng Khoa. Bây giờ cô đọc cho các cong nghe nha

a .Cô đọc bài thơ– Lần 1: Đọc diễn cảm +điệu bộ– Lần 2: Đọc diễn giải, trích dẫn+ tranh Sau đó giải thích cho trẻ về về vẻ đẹp của cây dừa đã được Trần Đăng Khoa miêu tả, ví von, so sánh… trong bài thơ Tàu lá giống như con người giang tay đón gió, gật đầu gọi trăng Thân dừa bạc phết tháng năm Quả dừa giống như đàn lợn con đang nằm trên cao Tàu lá dừa như chiếc lược thả vào mây xanh– Lần 3: Cô đọc diễn cảm cả bài thơ + tranh Sau mỗi lần đọc cô hỏi lại tên bài thơ, tên tác giảb. Trẻ đọc bài thơ– Trẻ đọc theo yêu cầu của cô( cả lớp, tổ nhóm, cá nhân)c. Đàm thoại– Các con vừa đọc xong bài thơ có tựa đề là gì?– Và do ai sáng tác?– Tàu dừa/ quả dừa/ lá dừa giống cái gì?– Củng cố: Hỏi tên bài thơ và tác giả– Nhận xét – tuyên dương

Nhấn vào đây để tải bài giảng

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thæ¡ LᔥC Bã¡T (8) : Cã¡C Hã¬Nh ThᔩC LᔥC Bã¡T BiếN Thá”Ƒ I trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!