Đề Xuất 12/2022 # Suy Niệm Tin Mừng Chiều 30 Tết Bài 1 / 2023 # Top 17 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 12/2022 # Suy Niệm Tin Mừng Chiều 30 Tết Bài 1 / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Suy Niệm Tin Mừng Chiều 30 Tết Bài 1 / 2023 mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Suy niêm cuối năm Lm Emmanuel Nguyễn Vinh Gioang.

Những ngày cuối năm, chúng ta thường nói : năm cùng, tháng tận. Những ngày đầu năm, chúng ta thường nói : ngày rộng, tháng dài.

Nói như vậy, xem ra chúng ta làm chủ thời giờ, vì chúng ta nói : Thời giờ đã cùng tận, cũng được ; mà nói : thời giờ đang rộng dài, cũng được.

Nhưng trong thực tế, chúng ta không thể nào làm chủ được thời giờ, vì cũng như mọi loài mọi vật khác, con người chúng ta đã được Thiên Chúa dựng nên và cho sống trong một khoảng thời gian nào đó nhất định mà thôi : ” Mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời ở dưới bầu trời : thời để sinh và thời để chết, thời để trồng và thời để nhỗ cây trồng, thời để giết chết và thời để chữa lành, thời để phá và thời để xây, thời để khóc và thời để cười, thời để than van và thời để múa nhảy, thời để quăng đá và thời để lượm đá, thời để ôm và thời để tách rời không ôm nữa, thời để tìm kiếm và thời để thất lạc, thời để gìn giữ và thời để vất đi, thời để xé và thời để khâu, thời để nín thinh và thời để lên tiếng, thời để yêu và thời để ghét, thời giặc giã và thời bình an ” ( Gv 3,1-8 ).

Vì lệ thuộc vào thời gian, nên mỗi người chúng ta, trước, thì không có. Thử hỏi trước đây một trăm năm, ai trong chúng ta đây có mặt trên trần gian nầy ? Và thử hỏi : một trăm năm sau nầy, ai trong chúng ta còn sống được trên trần gian nầy nữa không ?

Mỗi người chúng ta chỉ được phép sử dụng thời giờ Chúa thương ban cho sống, chứ không thể nào làm chủ được thời giờ mình sống. Vì thế, khi cái chết đến, chúng ta hết giờ sống của mình, chúng con phải trả thời giờ lại cho Chúa.

Chỉ có Chúa là Chủ thời giờ vì Ngài là Đấng hằng có đời đời. Ông tỷ phú kia đau nặng gần chết. Ông yêu cầu bác sĩ giỏi nhất thế giới làm cho ông sống thêm một thời gian. Bác sĩ lắc đầu, nói : ” Muốn sống thêm một thời gian, ông hãy chắp tay cầu nguyện với Chúa “. Tất cả thời gian đều nằm trong tay Chúa : quá khứ thuộc về Chúa, hiện tại thuộc về Chúa, tương lai thuộc về Chúa

Chỉ có Chúa là Đấng làm Chủ thời giờ vì Chúa là Đấng tuyệt đối, bất di bất dịch, không hề thay đổi. Còn con người chúng ta thì tương đối, thay đổi : chúng ta có trước, rồi mới có sau, chúng ta có ít, rồi mới có nhiều, chúng ta phải nhỏ, rồi mới trở nên lớn, chúng ta trẻ, rồi mới trở nên già, chúng ta sống, rồi thế nào chúng ta cũng chết. Vì sao ? Vì chúng ta không làm chủ được thời giờ. Chúa là Đấng tuyệt đối, luôn luôn là một, không bao giờ thay đỗi, bất di bất dịch, làm chủ thời giờ : thời giờ thuộc về Chúa.

Thiên Chúa đánh giá thời giờ rất cao vì Ngài rất quý thời giờ. Khi ban thời giờ cho chúng ta sống, Thiên Chúa hết sức tiết kiệm, chỉ ban cho chúng ta một cách nhỏ giọt : ban từng giây, từng phút ; ban từng giờ, từng ngày ; ban từng tuần, từng tháng, từng năm. Chúa lấy lại giây phút trước, rổi mới ban cho chúng ta giây phút sau. Giàu sang vô biên như Chúa, mà không bao giờ Chúa ban cho chúng ta có cùng một lúc hai giây, hai phút, hai giờ, hai ngày, hai tuần, hai tháng, hai năm.

Mỗi sáng khi thức dậy, người giàu cũng như kẻ nghèo, người thông cũng như kẻ dốt, người lớn cũng như trẻ nhỏ, ai cũng như ai, đều được Chúa ban cho có thời giờ đổng đều như nhau : ai cũng có trong túi 24 tiếng đổng hổ trong một ngày.

Nhưng có thời giờ, không phải như có tiền. Khi có tiền trong tay, chúng ta tiêu xài mấy ngàn, mấy vạn, mấy triệu cũng được. Trái lại, khi ban cho chúng ta sống trong một năm, Chúa ban cho chúng ta có ba mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi sáu ngàn giây đổng hổ ( 31.536.000 giây đổng hổ ), nhưng Ngài chỉ cho mỗi người chúng ta sử dụng từng giây đồng hồ một mà thôi.

Dù là Giáo Hoàng hay Hổng Y, Giám Mục, dù là hoàng đế hay tổng thống, không ai có thể tiêu xài hai giây đồng hồ trong một lúc : dùng giây đồng hồ nầy xong, Chúa mới cho chúng ta dùng giây đồng hồ khác.

Không gì quý bằng Máu Chúa đã đổ ra để cứu chuộc chúng ta. Mà thời giờ là giá Máu Chúa Giêsu đổ ra để cứu chuộc chúng ta. Những kẻ chịu phạt đời đời trong hỏa ngục, chỉ cần trở lại trên trần gian nầy được một giây mà thôi, thì cũng đủ để cho họ được lên thiên đàng !

Thời giờ là tiền mua được nước thiên đàng. Thời giờ rất quý báu ! Thế mà có nhiều người phí phạm thời giờ, không dùng thời giờ để sống cho đẹp lòng Chúa. Theo một cuộc điều tra được tiến hành nơi một số người sống đạo một cách lơ là : trong một năm, họ có 08.760 giờ ; họ đi lui đi tới, mất 260 giờ ; họ nói chuyện với người khác, mất 310 giờ ; họ tắm rửa và sửa sắc đẹp, mất 620 giờ ; họ ăn uống, mất 930 giờ ; họ ngủ, mất 02.900 giờ ; họ làm việc, mất 03.650 giờ, và họ dành cho các công việc đạo đức : 25 giờ !

Tuy rất quý báu, nhưng thời giờ lại rất chóng qua. Ở trên đời nầy, không gì chóng qua bằng thời giờ. Vì thời giờ trôi đi quá mau, nên nhiều hình ảnh được đem ra so sánh với thời giờ.

Chúng ta hãy lấy một số hình ảnh của Kinh Thánh : ” Ngày đời tôi trôi qua nhanh hơn kẻ chạy đua, chúng trốn chạy mà không tìm thấy hạnh phúc. Chúng lướt mau như thuyền nan, như đại bàng bổ xuống con mồi ” ( G 9,25-26 ) ; ” Cộng niên tuế ước chừng bảy chục, khỏe lắm chăng cũng được bát tuần. Hầu trọn kiếp, chỉ là lao đao khốn khó, vì năm tháng sầm sập qua đi và chúng tôi vụt mất ! ” ( Tv 90,10 ) ; ” Với thời gian, tên tuổi ta sẽ bị lãng quên, sẽ không ai nhớ đến các việc ta làm ; đời ta sẽ qua đi như vết chân mây, và tan biến như đám sương mù bị ánh dương rượt đuổi, bị đè bẹp xuống dưới sức nóng mặt trời. Quả thế, sinh thời của ta như bóng lướt qua, số tận rồi, ta không còn thể phục hồi, ấn đã niêm, và không ai sẽ quay lại “( Kn 2,4-5 ) ; ” Mọi điều xảy đến, thảy là phù vân….Vì phù vân cả, thiếu thời với buổi tóc xanh ” ( Gv 11,7-10 ).

Trong văn chương, cũng có nhiều hình ảnh diễn tả sự chóng qua của thời giờ : thời giờ được ví như mũi tên bắn ra khỏi chiếc cung rồi mất hút ; được ví như tia chớp lóe lên giữa đêm tối âm u rồi biến mất ; được ví như một giấc mơ, khi tỉnh dậy, thấy không còn gì nữa ; được ví như áng mây trên trời, mới có hình nầy, thì lại biến tan thành hình khác ; được ví như chiếc hoa sớm nở chiều tàn ; được ví như con thoi thợ dệt đưa qua đưa lại nhanh như chim én liệng ; được ví như bóng ngựa thoáng vụt qua cửa sổ ; …

Vì thế, thờ giờ trôi đi vùn vụt, và không bao giờ quay đầu trở lại. Thời giờ biến đi trước mắt chúng ta, nhưng chúng ta không tài nào chận bắt nó lại được. Bởi thế, làm được gì hôm nay cho Chúa, cho Mẹ, cho Giáo-Hội, cho các linh hổn, chúng ta hãy làm ngay, đừng bao giờ dời lại ngày mai điều chúng ta có thể làm ngày hôm nay. Chần chờ, là phương thế hiệu nghiệm nhất của ma quỷ để lôi kéo nhiều linh hổn xuống hỏa ngục. Thời giờ rất chóng qua !

Chúng ta hãy qúy trọng thời giờ Chúa ban cho chúng ta sống. Chúng ta phải tin rằng : trong mỗi giây mỗi phút Chúa ban cho chúng ta sống, Chúa đều kèm theo một ơn đặc biệt trong mỗi giây mỗi phút đó. Chúng ta phải biết rằng Chúa chỉ ban cho chúng ta sống giây phút hiện tại mà thôi.

Chúng ta phải ý thức đều quan trọng nầy, là : trong đời sống chúng ta, tuy giây phút nầy qua đi, nhường chỗ cho giây phút khác, nhưng những gì chúng ta đã suy nghĩ trong giây phút đó, đã ước muốn trong giây phút đó, đã làm việc đẹp lòng Chúa trong giây phút đó, đã làm điều mất lòng Chúa trong giây phút đó, đã bỏ đi không làm những gì Chúa soi sáng trong giây phút đó, tất cả những điều nầy sẽ tồn tại mãi mãi bởi vì đã được thiên thần giữ mình ghi chép vào sổ đời đời, để chiếu theo đó mà được Chúa thưởng sau nầy trên nước Thiên Đàng, hoặc bị Chúa phạt sau nầy trong Hỏa Ngục.

Có người cho rằng : một giây, một phút, không đáng gì ! Nhưng chúng ta thấy : với một giây một phút nầy, người trộm lành đã mua được nước Thiên Đàng đời đời, còn người trộm dữ phải sa Hỏa Ngục đời đời. Bởi thế, những giây phút trong cuộc đời chúng ta trôi qua, không phải để biến mất, nhưng để nhập vào kho đời đời của chúng ta sau nầy : kho Thiên Đàng đời đời hạnh phúc, kho Hỏa Ngục trầm luân muôn kiếp.

Chúng ta hãy xác tín rằng : giá trị của một đời người không chủ tại sống lâu năm trên trần gian nầy, nhưng chủ tại sống sâu đậm cuộc đời của họ. Trước mặt Chúa, giá trị của đời sống chúng ta không nằm trong chiều dài của thời gian, nhưng nằm trong chiều sâu của thời gian. Một người chết trẻ, chết sớm, nhưng đã biết dùng thời giờ Chúa ban trong đời sống mình để yêu mến Chúa, để làm tôi Chúa, để sống đẹp lòng Chúa, thì có giá trị trước mặt Chúa, hơn là một người tuy sống lâu năm, nhưng đã không dùng thời giờ Chúa ban để yêu mến Chúa hết lòng, để làm tôi Chúa hết sức, để sống đẹp lòng Chúa mọi bề. Bởi đó, điều quan trọng đối với chúng ta, không phải là được sống nhiều năm trên đời nầy, nhưng điều quan trọng là Chúa ban cho được sống năm nào, thì dùng thời giờ Chúa ban trong năm đó để hết tình yêu mến Chúa, để hết sức phụng sự Chúa, để hoàn toàn hy sinh và hiến thân cho Chúa.

Chúng ta hãy dùng thời giờ để chúc tụng, ngợi khen Chúa : ” Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lĩ ngợi khen Người ” ( Tv 34,2 ). ” Dù ăn, dù uống, hay bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa ” ( 1 Cr 10,31 ).

Chúng ta hãy luôn luôn trông cậy vào Chúa vì chúng ta được Chúa yêu thương và ban ơn trong mọi lúc trong cuộc đời : ” Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi hết mọi ngày trong đời sống ” ( Tv 23,6a ).

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta được khôn ngoan để biết tính sổ ngày đời của chúng ta, biết dùng thời giờ Chúa ban cho chúng ta cho nên : “Xin dạy chúng con biết tính sổ ngày đời chúng con, ngõ hầu chúng con đem được khôn ngoan vào lòng ” ( Tv 90,12 ).

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng biết biết thánh hóa thời giờ mà Chúa ban cho chúng ta sống ngày hôm nay : ” Hôm nay, phải chi các ngươi nghe tiếng Người : ” Chớ cứng lòng như tại Mêriba, như ngày Massa trong sa mạc, nơi mà tổ tiên các ngươi khiêu khích Ta, chúng thử thách Ta, dẫu đã chứng kiến công việc Ta làm ! ” ( Tv 95,7-9 ).

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta luôn luôn tỉnh thức để đón chờ giờ Chúa đến, giờ chúng ta chết để đi gặp Chúa : ” Các con hãy tỉnh thức vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến ” ( Mt 24,42 ).

Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang

Vào những ngày cuối năm, mỗi người thường ngồi lại suy nghĩ về một năm qua xem những gì đã thực hiện được, những điều tốt đẹp, có sức thuyết phục ta làm cho tỏa sáng, làm cho phong phú và nhân lên, những điều khiếm khuyết, những điều thiếu xót, ta khắc phục sửa đổi và cố gắng vươn tiến. Nói đúng hơn, mỗi người hãy tự lượng định vấn đề, đặt ra những mốc của đời sống như năm ta được rửa tội, năm lãnh nhận bí tích thêm sức, năm tốt nghiệp, năm lập gia đình hay đi tu, khấn dòng vv… Tất cả là để ta cảm tạ Thiên Chúa vì mọi sự đều do Ngài, Ngài là chủ vũ trụ, chủ lịch sử và chủ con người.

CHÚA LÀ CÙNG ĐÍCH, LÀ GIA NGHIỆP CUỘC ĐỜI CỦA CON NGƯỜI

Tất cả đều là hồng ân. Dưới ánh sáng của Tin Mừng: Chúa là hạnh phúc, là tình yêu, là gia nghiệp của con người. Đoạn Tin Mừng Luca 1, 39-55 gợi lên cho mỗi người trong trạng huống cuộc đời, trong bối cảnh mình đang sống và trong hiện tình mình đang thụ đắc những phương tiện, những sản nghiệp của đời người rằng tất cả đều bởi Chúa. Nên, cuộc đời của con người là bài ca cảm tạ tri ân nối dài. Con người luôn phải nói lời cảm tạ như Chúa Giêsu đã cảm tạ Thiên Chúa Cha không ngừng. Mỗi khi làm một việc gì, mỗi khi thực hiện một điều gì, Chúa Giêsu luôn cảm tạ Thiên Chúa Cha. Đời mỗi người cũng luôn phải nói “Tình thương Chúa đời đời con ca ngợi “(Tv 88). Con người có là gì đâu. Trong cuộc sống, mỗi người hãy chiêm ngắm sự im lặng của hang đá, cung chiêm Chúa Hài Đồng Giêsu, nhìn ngắm Mẹ Maria và thánh Giuse.

Tất cả các Đấng đều im lặng. Sự im lặng xem ra huyền bí, nhưng là để diễn tả mầu nhiệm cao vời của Con Thiên Chúa giáng sinh làm người. Sự im lặng của các Đấng chỉ ra rằng Con Thiên Chúa làm người là cõi phúc, là cùng đích, là sản nghiệp quí giá của nhân loại. Muốn đạt được cõi phúc là Chúa Giêsu, là Tin Mừng, mỗi người đều phải biết mình làm gì và cách ta phải làm để đạt được cõi phúc ấy. Điều mỗi người phải biết, phải làm là mình là ánh sáng, là men, là muối. Cách ta phải làm là chiếu soi, là làm dậy men, là hòa tan như muối để ướp mặn cho đời. Và như thế, mỗi người phải biết mình: những điều ta làm được, những thành công, những thất bại. Tất cả đều do Chúa. Hiểu được như thế, mỗi người sẽ an tâm phục vụ, an bình trong những việc làm của mình vì tất cả phải phát xuất từ con tim nhạy cảm, từ lòng yêu thương: ” Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”. Muốn phục vụ tốt phải làm việc trong thái độ khiêm tốn vì tất cả đều do ân huệ cao vời của Chúa. Đời con người là một mầu nhiệm đức tin. Tất cả chỉ có thể do Chúa, bởi Chúa và vì Chúa. Nên, cuộc đời dù là muối, là men, là ánh sáng, con người luôn phải biết nói lời cảm tạ tri ân.

HÃY NÓI LỜI CẢM TẠ NHƯ ĐỨC MẸ

Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa. Lời ngợi khen của Mẹ Maria gắn liền với lời xin vâng của Mẹ. Cảm tạ là xin vâng. Tri ân là nói lời tuân phục ý Thiên Chúa. Cuộc đời của Mẹ từ lúc sinh ra, lớn lên, được tuyển chọn làm mẹ Đấng cứu thế, làm Mẹ Thiên Chúa, đứng dưới chân thập giá, chết đi và lên trời luôn vén lộ cho nhân loại thấy Mẹ luôn làm theo ý Chúa và tuân phục làm theo Chúa là lời cảm tạ tri ân tuyệt hảo nhất làm đẹp lòng Chúa. Mẹ nói: ” Đấng toàn năng đã làm cho Tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn” ( Lc 1, 49 ). Tất cả sinh mạng của Mẹ ở trong tay Chúa. Cuộc đời của Mẹ là do Chúa. Làm con cái của Mẹ, mỗi người chúng ta phải biết nói lời xin vâng như Mẹ. Nói lời xin vâng là để cho Chúa định liệu đời sống của con người. Cuộc hành trình đức tin của mỗi người tùy thuộc lời xin vâng của từng người đối với Chúa. Trong ánh sáng của Tin Mừng, của Chúa Giêsu, mỗi người hãy tự vấn lương tâm, đối diện với Chúa, đối diện với anh em để mỗi người tự cải hóa nội tâm, đổi mới cuộc đời và làm nhiều việc có sức tỏa sáng, có sức thuyết phục như Hiến Chương nước trời đã đề ra.

Vậy, những giây phút linh thiêng này, những phút giây còn lại của năm cũ, mỗi người hãy hồi tâm suy nghĩ, kết hiệp mật thiết với Chúa và cầu nguyện, tỉnh thức không ngừng như năm cô trinh nữ khôn ngoan, đón chàng rể trong trạng thái hân hoan, sảng khoái. Chúa là gia nghiệp. là cùng đích để mỗi người phấn đấu tiến tới và hân hoan gặp gỡ Ngài Đời mỗi người phải là bài ca cảm tạ tri ân không ngừng như lời thánh vịnh 88 đã viết: ” Tình thương Chúa đời đời con ca ngợi “.

Lạy Cha, xin Cha giúp chúng con biết thay đổi tâm hồn, đào tạo tâm hồn với chính trái tim của Chúa, với chính cái nhìn và sự suy nghĩ của Chúa.

Xin Cha cho chúng con biết điều gì chúng con nên làm và thái độ chúng con phải có để đạt được chính Đức Kitô Tình Yêu.

Xin Cha cho mỗi người chúng con trong những giờ phút cuối năm này biết nhận ra những thiếu xót, những khiếm khuyết cần phải thay đổi, bù lấp và những điểm sáng chúng con cần nhân lên và làm tỏa sáng trong cuộc đời nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Các trẻ em thuộc trường Tiều học Pháp ở Nũu Ước đang cử hành Lễ Tạ Ơn. Các em diện bộ đồ mọi da đỏ và sắc phục của những người Thanh giáo đầu tiên trên con thuyền Mayflower cấp bến tại

Plymouth ở massachussetts. Lính Mỹ xa nhà tận bên Iraq thuộc sư đoàn bộ binh 4 đóng quân tại quê hương của Saddam Hussein quận Tikrit, miền Bắc của thủ phủ Baghdad, đang lấy đồ ăn trong ngày Lễ Tạ Ơn hôm nay.

Ngày cuối của một năm, thường con người vẫn có thói quen ngồi lại để tính sổ với Chúa, với đời xem mình đã làm được gì, chưa làm được gì và rồi con người dù thế nào đi nữa vẫn phải nói lên lời tạ ơn Thiên Chúa vì do tình thương của Ngài mà con người vẫn còn tồn tại.

CUỘC ĐỜI PHẢI LÀ LỜI CẢM TẠ:

Nhìn lại một năm với bao biến cố xẩy ra trong đời: buồn có, vui có, khó khăn có, may mắn có, con người vẫn tự nhủ tại sao mình còn hiện diện ? Tại sao mình còn thở, còn sinh hoạt được, còn đi dứng, ăn uống, ngủ nghỉ được ? Chắc chắn với lòng tin sẵn có, người Kitô hữu luôn ý thức Thiên Chúa đang tiếp tục làm phép lạ trong cuộc đời của mình. Như vậy, tâm tình của con người là tạ ơn. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Êphêsô đã viết:” Đàn hát lên! Nhờ Thánh Thần linh hứng, trót tâm tình, dâng Thiên Chúa là Cha. Luôn cảm ta Người, nhân danh Thánh Tử vì Người ban muôn phúc lộc chan hòa”( Eph 5, 19-20 ).

Vâng, Thiên chúa đã ban cho nhân loại, cho mỗi người muôn vàn hồng phúc. Những ân huệ cao quí, Thiên Chúa tặng ban cho con người quả không kể xiết. Con người chỉ có thể hiểu được những điều quí hóa ấy khi họ biết hồi tỉnh, suy nghĩ và cầu nguyện. Hồi tỉnh để thấy mình đã lãnh nhận quá nhiều ân phúc mà chỉ Thiên Chúa mới có thể trao ban. Suy nghĩ để con người nhận ra họ được hạnh phúc có Thiên Chúa là Cha nhân từ không nỡ cho con người con bọ cạp hoặc hòn đá khi họ xin bánh ăn. Cầu nguyện để thân mật trao đổi và cám ơn Thiên Chúa vì tình thương vô biên Chúa đã tặng ban cho con người.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Mỗi tổ chức, mỗi quốc gia, mỗi đoàn thể đều có một bản hiến pháp, cương lĩnh, nội quy hay điều lệ. Dân chúng hoặc các đoàn viên sẽ dựa theo đó mà sinh hoạt cho đúng đường lối, đúng tôn chỉ đã được vạch ra. Do đó Đạo Chúa cũng có hiến chương. Đây không phải là bản luật để quy định chuyện thưởng phạt (đạo Chúa cũng có thập giới và 6 điều răn). Mà đây cũng không phải chỉ là những câu đề nghị khuyên nhủ xuông, theo hay không theo cũng chẳng sao. Trái lại, nó kết tạo nên những điều căn bản, cốt cán, để người ta nhận ra và lượng giá một thành phần của tổ chức hay đoàn thể nào đó.

Khi Chúa xuống gian trần nhập thể, Ngài đã quyết định tạo lập một dân riêng mới, dân Tân Ước, để phụng sự và tôn thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý ( Ga 4, 24 ). Đương nhiên, Ngài đã dạy dỗ đầy đủ về con đường mới ai nấy phải theo để được đón nhận ơn cứu độ. Ngài đã lớn tiếng kêu mời mọi người gia nhập nước Thiên Chúa, nhưng lại công bố Bản Hiến Chương Nước Trời hoàn toàn khác biệt với mọi thứ hiến chương khác trên trần đời. Lý do là vì Ngài muốn cho thiên hạ biết rằng nước của Ngài không thuộc về thế gian này ( Ga 18, 36 ).

Bản Hiến Chương này được các nhà thần học, cũng như chú giải Thánh Kinh đồng hóa với chính BÀI GIẢNG TRÊN NÚI của Chúa. Người ta cũng gọi nôm na là TÁM MỐI PHÚC THẬT, phần tóm kết mọi điều cốt tủy của bài giảng này. Tổng quát, Ngài muốn mọi “công dân Nước Trời” phải bắt chước Ngài, kẻ đã đến “để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”. Ngài dạy các môn đệ nếu muốn làm lớn thì phải biết học cách hầu hạ, biết rửa chân cho anh em khác. Thế là cái bản cương lĩnh của Chúa gồm toàn những điều khoản trái ngược với sự mong đợi của đa số, của những kẻ chỉ lăm le được ngồi “bên tả, bên hữu” cái ghế chủ tịch đầy uy quyền theo nghĩa thế gian.

Đương nhiên, có một số không chấp nhận, vì tư tưởng của họ còn đầy những khuynh hướng và tham vọng trần đời. Với họ, Lời Chúa đã trở nên “chói tai”. Mãi cho đến ngày nay và tới ngày tận thế, vẫn sẽ còn nhiều người không chịu đón nhận những điều khoản của Hiến Chương này. Chung quy chỉ là vì họ không muốn cùng Chúa đi con đường khổ giá để tới nguồn ơn Cứu Độ. Trái lại, họ chỉ mong đạt vinh quang bằng con đường tắt dễ dãi, nhung lụa. Tuy nhiên, Chúa chẳng bao giờ thay đổi lập trường. Phúc Âm của Ngài sẽ tồn tại ngàn năm. Dù một nét chấm, một nét phẩy cũng không hề biến thay suy chuyển.

1. PHÚC CHO KẺ CÓ TINH THẦN NGHÈO KHÓ:

Chúa mở đầu với mối phục thật gây sự sợ hãi cho nhiều người. Nhưng đây là điệu kiện tối tư cần thiết để vào nước trời. Một số nhà tu đức dám nói rằng cứ suy cho hết lẽ của mối Phúc Thật này, cũng hiểu hết 7 mối kia: Cái tinh thần nghèo khó phải bao trùm mọi cố gắng trong đời sống thiêng liêng của một tín hữu. Nghèo khó ở đây phải bắt nguồn từ tinh thần, chứ không đơn giản chỉ là thiếu thốn về mặt vật chất. Cái tinh thần này cũng không chỉ là một ước mơ suông, nhưng đòi liên tục được thực hiện ở cuộc sống.

Thật ra, điều đạo Chúa nhắm tới là Đức Ái, chứ không phải chuyện từ bỏ của cải. Thế nhưng, Đức Ái bao giờ cũng thôi thúc ta sống tinh thần nghèo khó của Chúa. Nếu chỉ nghèo vì hoàn cảnh xã hội, con người thường hay thèm khác của cải vật chất. Nhưng một khi ta chấp nhận cuộc sống thanh bần vì nước trời, tâm hồn ta sẽ hoàn toàn khác.

Tại sao thế ? Bởi vì Đức Khó Nghèo Phúc Âm dạy ta phải tự làm mình ra trống rỗng, ra trần trụi, ra thiếu thốn, để rồi phó thác cho bàn tay quan phòng của Chúa, cho sự tác động của ân sủng siêu nhiên. Tinh thần khó nghèo đòi ta trục xuất ra mọi ý nghĩ chủ quan sai lạc, mọi nguyên tắc của con người ích kỷ, mọi nền tảng nhân loại mù quáng, sau đó nhường chỗ cho lời Hằng Sống đổi thay, tái tạo. Cái căn bản ở đây là ta phải biết làm cho ta hóa nên như hư không, như vô nghĩa, đứng trước dung nhan Chúa là Đấng có mọi sự.

Qua cái thái độ hoàn toàn thuần phục và lệ thuộc vào Chúa này, ta sẽ trở thành con người tự do thực sự trên đường thiêng liêng, hết phải dính bén vào bất cứ điều gì trần tục, dẫu là vô hình hay hữu hình. Mọi điều ta đang có đây phải được coi là những phương tiện tạm thời để ta phục vụ Chúa và tha nhân. Cái ta phải lưu tâm để học từ bỏ hơn cả, chính là cái ý riêng, cái nhận xét chủ quan, cái ảo tưởng hợm hĩnh về mình. Ngay cả khi ta đang nghèo thật mà lại hãnh diện kiêu căng về chuyện nghèo của mình, là vô tình rơi vào chỗ lầm lạc tệ hại hàng đầu của bài học Phúc Âm.

Thế nghĩa là ta phải thường xuyên chiến đấu với cái khuynh hướng “sở hữu” trong con người mình. Ta không được phép thỏa mãn với ngay cả một tư tưởng riêng, một định kiến riêng. Trái lại, mỗi ngày cần thoát ra ngoài cái “tôi” đó để nắm tay hành trình với Chúa. Chả khác nào Áp-ra-ham sẵn sàng để lại tất cả mà lên đường đi tới nơi Chúa chỉ dẫn. Ai cũng biết Chúa bảo người giàu có vào Nước Trời khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim. Nhưng kẻ tham lam về mặt tinh thần còn ở trong tình trạng khó khăn gấp bội. Thành ra, cái mẫu mực tuyệt hảo của tinh thần khó nghèo phải được tìm thấy nơi chính bản thân Chúa Ki-tô khi Ngài xuống thế sống giữa loài người.

Thánh Gio-an đã viết rằng Ngôi Hai đã từ bỏ cõi trời sang trọng để để tự làm ra mình nghèo hèn, ngõ hầu chúng ta được giàu có ân sủng của Chúa. Nhưng giàu với thánh ân sao được nếu chúng ta không sẵn sàng đi theo con đường Ngài chỉ vẽ. Người đời vẫn nói “Phú bất nhân, bần bất nghĩa”. Giàu ta hay khinh người, mà nghèo ( kinh tế ) thì lại dễ lâm vào chỗ mất quân bình nội tâm mà làm những điều xằng bậy. Bởi thế, Chúa chẳng cầu chúc cho ai phải sống cảnh khố rách áo ôm. Điều Chúa yêu cầu căn bản là những ai muốn theo Ngài phải biết học bài học từ bỏ, hy sinh, để rồi khi thoát khỏi hình thức nô lệ, ham mê dính bén, ta sẽ dễ dàng gặp Chúa.

Cũng vì thế mà Thánh Kinh Cựu Ước đã dạy ta cầu nguyện: “Xin Chúa chớ để con giàu kẻo con dễ quên Chúa, nhưng cũng đừng để con nghèo khổ kẻo rồi con sinh ra trộm cắp lỗi luật Chúa”. Thực tế hơn nữa, là ta phải biết chia sẻ mọi của cải vật chất cũng như tinh thần cho những người thiếu thốn, xấu số như lời dạy của Ngôn Sứ Ô-sê: Cách tốt nhất để có tinh thần khó nghèo là biết yêu thương những kẻ nghèo hèn.

Chúa muốn dùng đất nước làm phần thưởng cho những kẻ hiền lành.Hiền không phải chỉ mềm nhũn như con sứa, con giun. Nhưng giá trị của họ là ở chỗ biết từ tốn kiên nhẫn. Bản lãnh của họ là ở chỗ biết chờ mong, biết hy vọng rằng rồi sẽ có giải đáp tốt đẹp thỏa đáng từ Chúa. Tất cả bắt nguồn từ niềm tin cậy phó thác nội tâm. Nhờ dựa vào ơn Chúa, mà ta sẽ không dễ nóng giận, cộc cằn hoặc nuôi lòng thù hận ghét ghen.

Những chi tiết về cái nhân đức thuộc mối Phúc Thật thứ hai này phải được lấy tiêu chuẩn từ chính trái tim của Ngôi Hai Nhập Thể: “Hãy học cùng ta vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng, rồi các ngươi sẽ thấy tâm hồn thư thái bình an” ( Mt 11, 29 )

Công dân Nước Trời luôn sẵn sàng chiến đấu chống ba thù, nhưng từ nội tâm, họ phải là những mẫu gương của nhu mì, nhã nhặn, theo phong cách của vị Tôn Sư tối cao. Chỉ có Chúa mới giúp ta giữ luôn được tâm hồn hiền lành tử tế ở những lúc ta đối diện với những kẻ thù hung bạo ác tâm. Cái Đất được hứa làm phần thưởng đây trước hết là chính đất tâm hồn mình: ta sẽ làm chủ được mọi xáo trông bên trong, để rồi không sợ làm những điều sai quấy. Rồi đến sẽ chính là cái đất của tâm hồn tha nhân, nhờ đó ta sẽ giúp họ quy hướng về tình yêu Chúa, theo như mục tiêu Chúa xuống trần gian để đem tin lành cho kẻ nghèo khó, an ủi kẻ buồn phiền v.v… ( Lc 4, 18 )

Chúa đã sống hiền lành như Con Chiên. Nay Ngài muốn ta tiếp tục nếp sống hiền lành đó, dù phải là như con chiên giữa bày sói rừng ( Lc 10, 3 ).

Khóc vì ta nhận ra sự yếu đuối và giới hạn của chính mình để rồi tìm về với Chúa. Khóc vì ta không chấp nhận lối sống bất công của trần đời, bởi đi sai đường lối Chúa. Khóc vì ta đã góp phần vào những tệ đoan, những tai hại cho cho bao tâm hồn thanh sạch ngây thơ.

Ta cũng khóc vì đã không làm gì để chặn đứng những nết xấu của chính bản thân ta trong quá khứ. Như vua Đavít xưa khóc trong Thánh Vịnh 50. Như thánh Augustinô khóc cùng Chúa: Lạy Chúa con đã yêu mến phụng thờ Chúa muộn quá”. Như Ma-đa-lê-na, như Phê-rô… Hơn thế, ta đôi khi cũng phải khóc vì thấy mình nhiều lúc như bất lực, không giúp gì được để làm vơi nỗi sầu khổ đớn đau của tha nhân, tương tự dịp Chúa khóc thương thành Giê-ru-sa-lem xưa khi nhìn rõ những hiểm họa đang sắp đổ xuống dân chúng thành thánh.

Phúc cho kẻ khóc vì phần thưởng sẽ là ủi an vui mừng. Chúa đã hứa bồi thường những giọt nước mắt các môn đệ bằng niềm hoan lạc toàn vẹn, vĩnh cửu. Lời hứa đó sẽ còn được thực hiện với chúng ta mãi mãi cho đến tận thế.

4. PHÚC CHO KẺ KHAO KHÁT SỰ CÔNG CHÍNH:

Hiển nhiên đây là tâm tư của những kẻ thấy mình còn đầy yếu đuối, lắm sai lầm, nhiều oan khiên. Họ biết rõ mình cần hướng lên Đấng là nguồn chân lý. Nhờ thế, họ tín nhiệm hoàn toàn nơi Chúa, thay vì tin tưởng nơi mình. Họ tìm cách tách rời khỏi những thói quen cố hữu, những quan niệm cổ xưa, để rồi dấn thân vào lối sống mới Chúa đề nghị. Đó là cơ nguyên của những cố gắng tự lột xác, tự tẩy não để trở thành con người hoàn toàn mới theo tiêu chuẩn Phúc Âm. Mà con đường kiếm tìm sự công chính, sự thiện hảo toàn ven này, có bao giờ đủ, bao giờ xong được ! Thành ra, với người Ki-tô hữu, sẽ không hề có chuyện nghỉ ngơi trên bước đường thánh hóa.

Thế là ta phải liên tục học từ bỏ con người cũ để thường xuyên hướng về chân trời mới hơn, cao rộng hơn của nước Thiên Chúa, để rồi liên lỉ kiếm tìm ra thánh ý Ngài. Để được thế, ta phải sẵn lòng để Thần Linh Chúa uốn nắn, sửa đổi, thanh lọc, nhiều khi bằng những lần hy sinh thử thách lớn lao. Phần thưởng của những cố gắng này là tâm hồn ta sẽ được no thỏa “niềm vui an bình ta ban sẽ khác hẳn những thứ trần gian ban tặng”. Chúa đã một lần đoan hứa như thế. Và đó chính là bóng dáng hoan lạc Thiên Đàng.

5. PHÚC CHO KẺ BIẾT THƯƠNG XÓT:

Chúa chúc phúc cho kẻ quảng đại ra tay trước để tỏ lòng tốt, không điều kiện, không đợi người khác tử tế rồi mới đáp lại. Đây là phúc của những kẻ sẵn sàng tha thứ, bởi họ biết mình đã thường xuyên được Chúa thứ tha. Đây là lối sống của những kẻ biết bắt chước Chúa làm ơn cho kẻ dữ cũng như người lành. Chúa đã yêu ta trước, và yêu vô bờ bến, yêu đến hy sinh cả mạng sống. Ngài cũng có quyền đòi ta cũng làm thế cho tha nhân để được nên toàn thiện với Ngài.

Trong câu chuyện người đàn bà ngoại tình, Chúa dạy ta đừng lên án ai, vì chính ta cũng là những người tội lỗi, nhiều khi tội tầy đình hơn nữa. Chúa đòi ta chia sẻ tất cả với tha nhân, cách riêng đối với những kẻ khốn cùng xấu số. Mà không phải chỉ là chia sẻ miếng cơm manh áo, nhưng quan trọng hơn cả là cho cả con tim và mạng sống: “Không ai có tình yêu cao qúy hơn kẻ thí sinh mạng cho người mình yêu.” Độc đáo hơn nữa là ta phải thi hành lệnh truyền này với cả những kẻ thù, những đối phương nữa.

Rồi Chúa lại tuyên bố rõ: Ngài sẽ phán xét ta sau này về tình thương tha nhân để quyết định chuyện thưởng phạt vĩnh cửu. Dĩ nhiên phần thưởng cho ta sẽ là được Chúa xót thương lại. Đời ta thực sự chỉ cần có thế.

6. PHÚC CHO KẺ CÓ LÒNG THANH SẠCH:

Lòng thanh sạch đòi khử trừ trước tiên hết mọi hình thức của tà ý, của giả hình, của nhị tâm. Dĩ nhiên trên đường tìm Chúa, ta phải ý thức từ đầu rằng mọi điều liên can hay dẫn đưa tới tội lỗi đều trái ngược với ơn thánh của Ngài. Thành ra mọi thứ xúc phạm tới các lề luật của Chúa đã công bố đều xúc phạm tới chính Chúa.

Tâm hồn thanh sạch ở đây cũng gián tiếp đòi ta hằng ngày sửa chữa những mê tín lầm lạc, hệ lụy của tội nguyên tổ, của sự yếu đuối nhân loại. Khi Chúa cảnh cáo “Kẻ mù dắt kẻ mù, cả hai sẽ sa xuống hố” Ngài muốn căn dặn ta phải cố khiêm tốn nhận ra cái thiếu sót, cái gàn dở căn bản của con người mình, mà xin được ánh sáng Thần Linh soi chiếu dạy vẽ.

Đó cũng là lý do để Chúa hứa rằng tất cả những ai có lòng thanh sạch sẽ được thấy Chúa. Họ sẽ được thấy ngài rõ ràng, trong sáng, không còn qua những bóng mờ hay hình ảnh, mà là đối diện, tựa diễm phúc của các thiên thần trên trời. 7. PHÚC CHO KẺ GÂY HÒA THUẬN: Gây hòa thuận đây chính là một dạng thức khác để biểu lộ tình yêu thương ta đã nhận đón từ chính Chúa. “Hãy nên một như Chúa Cha với ta là một”. Đó là huấn lệnh Chúa để lại trước ngày Ngài chịu khổ nạn.

Bởi tham lam ích kỷ, con người có khuynh hướng chia rẽ, phân cách. Lịch sử loài người đã liên tục nói lên thảm trạng này để rồi thường xuyên thấy những tranh chấp giành giựt khắp nơi. Kẻ yêu hòa thuận là kẻ đã được nếm thử sự bình an chân thật của Chúa. Nền tảng an bình này không bao giờ chấp nhận một yếu tố ghét ghen nào để tạo nên cảnh bè phái, oán thù. Như lời Thánh Phao-lô: “Với những kẻ thật tình mến Chúa, mọi sự sẽ đưa đến kết quả êm thắm tốt đẹp” ( Rm 8, 28 ). Dĩ nhiên mọi phía phải học cho được bài học hy sinh căn bản Chúa dạy: Khi có kẻ kiện đòi ta áo ngoài, hãy cho luôn cả áo trong. Khi đối phương đòi ta đi một dặm đường, hãy vui vẻ đi cả hai dặm.

Chúa quan niệm việc hòa thuận thương yêu quan trọng hơn cả chuyện nghi lễ phụng tự: Nếu con đem của lễ tới bàn thờ mà sực nhớ có người anh em đang xích mích với mình, hãy để của lễ đó mà về làm hòa trước đã ( Mt 5, 23 ). Tạo hòa thuận giữa mình với tha nhân chưa đủ, ta còn có bổn phận gây thuận hòa nơi người khác nữa, dù cho đôi lúc ta phải trả một giá thật đắt. Nhưng phần thưởng cho ta sẽ vô cùng xứng đáng, vì Chúa hứa rằng ta sẽ được trở nên con cái Ngài.

8. PHÚC CHO NHỮNG KẺ CHỊU BÁCH HẠI VÌ DANH CHÚA:

Ở đây ta dễ dàng nghĩ ngay tới ngàn vạn tấm gương của các anh hùng tử đạo, của Việt nam cũng như của bao nhiêu dân nước khác trên hoàn cầu. Tử Đạo chính là làm chứng nhân cho đấng chịu khổ nạn và chết trên thập giá. Sau khi công bố lời chúc phúc này, Chúa nối tiếp ngay rằng nước trời sẽ là của họ, vì chính họ đã can đảm chịu người khác nói xấu, bắt bớ cũng như bị vu khống với đủ điều ác vì danh Chúa. Nối tiếp, Chúa bảo họ hãy vui mừng hoan hỉ vì phần thưởng dành cho họ trên trời sẽ thật lớn lao. Cũng thế, Chúa an ủi họ rằng các ngôn sứ và các tiền nhân của họ xưa kia cũng đã từng bị đối xử tệ như thế.

Thế là trước Chúa có Gio-an Tiền Hô, rồi kế sau Chúa lá 11 trong số 12 Tông Đồ cùng với Phao-lô hiên ngang vì danh Chúa mà đổ máu đào. Đạo Thánh được đắp xây lên bằng xương máu. Đường Chúa đi là đường khổ nạn lên Núi Sọ. Phần thưởng vĩnh cửu cũng chỉ được dành cho những kẻ sẵn sàng chịu thiệt thòi vì Phúc Âm của Ngài. Với ơn Chúa, ta hãy nhủ mình luôn can đảm và quảng đại trong cuộc sống hằng ngày. Chúa hứa sẽ thường xuyên ở cùng chúng ta.

Chúa công bố Hiến Chương Nước Trời như thế đó. Đôi lúc ta không khỏi lo âu khiếp sợ. Đường gai chông sỏi đá Chúa mời ta đi nhiều phen khiến ta nản lòng muốn bỏ cuộc. Bởi vì con người trần tục của ta khác hẳn con người thánh ân Chúa muốn tái tạo. Bởi tội nguyên tổ đã để lại bao hậu quả tai hại trong tâm tư mỗi người chúng ta. Chúa sẽ ra tay giúp chúng ta học với Ngài những bài học của tinh thần nghèo khó, hiền lành, xót thương, v.v…

Khi công bố Tám Mối Phúc Thật, Chúa tỏ bày cho ta khuôn mặt thật của chính Ngài, như nguồn Chân Thiện Mỹ tối cao. Dĩ nhiên, Chúa muốn ta cố gắng vẽ lại, làm sống lại khuôn mặt đó trong cuộc sống hàng ngày của mình. Chúa mời ta đi con đường mà chính Ngài đã đi, cách riêng trong suốt 33 năm khi Ngài nhập thế làm người như chúng ta. Muốn làm dân con Nước Trời, hiển nhiên là ta phải đón nhận mọi điều khoản Chúa đặt ra. Muốn theo Chúa, ta phải học nên giống Chúa để được “Cha nào con nấy”. Chúa chẳng ép buộc ai. Đường Chúa khó đi, những nẻo đường khác vẫn mở rộng để ta tự do lựa chọn. Có điều không đi đường Chúa, ta sẽ tự hủy diệt mình.

Hôm nay, bên Chúa, ta hãy bắt chước Phê-rô để lớn tiếng trả lời Chúa: “Lạy Thày, bỏ Thày thì chúng con biết theo ai”.

ĐƯỜNG PHƯỢNG BAY, Vietcatholic 8.2003

Những ngày đầu Năm Mới, ai cũng mong gặp được điều may mắn, ai cũng ước ao sự bình an. Nhưng không chỉ trong những ngày đầu năm mà thôi. Người ta mong mỏi suốt năm mới tràn đầy những điều tốt đẹp. Và lòng mong ước trở thành lời cầu chúc trên môi miệng mọi người.

Chính trong niềm mong ước đó, kể từ đêm Ba Mươi Tết, nhất là trong Giờ Giao Thừa, người ta kéo nhau đến chùa hái lộc đầu xuân. Trong niềm phấn khởi của tiết xuân tươi, lộc đầu năm này như lời chúc lành quý giá của trời đất, của thần thánh.

Hái lộc đầu năm là một nét đẹp, một việc làm tốt. Bởi thế, người Công Giáo Việt Nam đã “rửa tội” cho truyền thống này, và đem nó vào trong nhà thờ trong những ngày Tết. Chỉ khác một điều, lộc đầu năm của người Công Giáo là Lời Chúa: Lẽ sống của chính mình, cũng là lẽ sống của cả nhân loại, nếu ai cũng áp dụng Lời Chúa để sống trong cuộc đời mình.

Như mọi người, những ngày Tết vừa qua, tôi cũng đi hái lộc. Lộc đầu năm của tôi là một câu Kinh Thánh trích trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” ( St 1, 27 ). Câu Kinh Thánh thật là hay. Nhưng sao tôi cứ tần ngần tẩn ngẩn mãi: Chúa đang nói gì với tôi ? Sao tôi thấy Lời Chúa trong tờ lộc khó để tôi áp dụng vào cuộc sống của mình quá !

Suy nghĩ mã rồi tôi mở Kinh Thánh ra, đọc lại những trang đầu của sách Sáng Thế, cũng là những trang đầu tiên của Kinh Thánh. Lời của Chúa sao mà ấm áp, gần gũi và tràn đầy yêu thương đến thế. Lời ấy giúp tôi khám phá ra huyền nhiệm của mình, huyền nhiệm về con người.

Sách Sáng Thế cho biết, công trình sáng tạo của Thiên Chúa là mọi loài, là cả vũ trụ này, trong đó có con người là chóp đỉnh của mọi thụ tạo. Thiên Chúa sáng tạo bằng Lời quyền năng, biến hư không thành có mọi thứ. Nhưng Người không sáng tạo cùng lúc nhưng trải dài cả tuần lễ:

“Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất, đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng. Liền có ánh sáng. Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ngày”, bóng tối là “đêm”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng đó là ngày thứ nhất…”.

Cứ như thế, Thiên Chúa tạo dựng hết ngày này sang ngày khác trong sáu ngày của một tuần lễ. Ngày thứ Bảy, công trình tạo dựng hoàn tất.

Nhưng nói gì thì nói, nếu nhìn vào mặt chữ, và chỉ hiểu theo nghĩa đen của mặt chữ đó khi đọc hai chương đầu của sách Sáng Thế, sẽ thấy trình thuật tạo dựng đầy dẫy mâu thuẫn. Nhưng rất may, Thánh Kinh mang ý nghĩa của những điều thuộc về đức tin. Vì chất chứa bên dưới mặt chữ là những mạc khải của đức tin cho nên ý nghĩa của Thánh Kinh rất sâu xa, độc đáo, và bống bẩy. Ta có thể nêu ra một vài nhận định như sau:

1. Trình thuật tạo dựng chỉ muốn nhấn mạnh hai điều quan trọng là: Tất cả mọi loài do Thiên Chúa tạo dựng.

Thiên Chúa tạo dựng có trật tự và tốt đẹp ( biểu hiện bằng thời khóa biểu ).

2. Thánh Kinh được viết từ xa xưa, nên dùng những kiểu nói, những hình ảnh bình dân và dùng những quan niệm khoa học cổ thời để người xưa dễ hiểu, nên ngày nay lỗi thời và dễ gây ngộ nhận.

Dù Thánh Kinh dùng kiểu nói xưa để diễn tả chân lý tôn giáo, nhưng ý nghĩa mà những kiểu nói đó muốn ám chỉ thì phù hợp mọi thời đại. Vì Thánh Kinh quan trọng ở ý nghĩa chứ không quan trọng ở kiểu nói.

3. Khi Thánh Kinh cho biết Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, vạn vật, con người trong sáu ngày, ngày thứ bảy, Người nghỉ ngơi. Đó là cái khung văn chương, và khung thời gian ảnh hưởng của não trạng đồng thời của vũ trụ quan thời bấy giờ. Sự thực đâu phải như thế. Nhưng trong cái khung văn chương, và khung thời gian ấy cho ta thấy ý hướng của Thiên Chúa khi linh hứng cho người viết: Thiên Chúa nhắm đến một trật tự hoàn hảo nhằm phục vụ sự sống, đặc biệt là sự sống con người. Thiên Chúa tạo dựng mọi khoáng vật trong bốn ngày đầu, nhưng đến ngày thứ năm sự sống mới xuất hiện. Và mãi đến ngày thứ sáu, ngày cuối cùng của công cuộc tạo dựng, con người mới được sinh ra.

THIÊN CHÚA SÁNG TẠO CON NGƯỜI:

MANG HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA, CON NGƯỜI CÓ MỘT GIÁ TRỊ VÔ CÙNG LỚN:

St 1, 26 – 27 nhắc đi nhắc lại đến ba lần câu nói: “Con người giống hình ảnh Thiên Chúa”. Đây là một điều quý giá vô cùng, một tặng phẩm lớn: Thiên Chúa sáng tạo loài người, không sáng tạo nó giống bất cứ cái gì khác, nhưng lại được mang chính hình ảnh của Thiên Chúa.

Việc sáng tạo con người khác hẳn các loài khác. Vì các loài khác chỉ phán một lời là lập tức có. Nó như một công thức trở thành điệp khúc: “Thiên Chúa phán… liền có”; “Thiên Chúa phán… liền có”. Còn việc tạo dựng con người vượt ra ngoài khuôn khổ của công thức ấy. Thiên Chúa không “phán… liền có” nữa. Dường như Người đặt hết trách nhiệm của mình trong việc tạo dựng đó. Sách Thánh diễn tả việc tạo dựng này làm cho Người phải cân nhắc lắm, đắn đo lắm, suy tính nhiều lắm. Người như muốn căn dặn chính mình: “Ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Ta…”

Chưa hết, ở chương hai, sách Sáng Thế còn mô tả Thiên Chúa như một người thợ gốm tỉ mỉ, nắn nót để nặn thành hình con người. Chưa có một loài động vật nào mà Thiên Chúa phải ra tay tác thành như thế cả, Ngài chỉ “phán” và “có”, thế là xong. Còn loài người, Thiên Chúa chủ động thật sự, hạ mình thật sự để tạo ra nó, và cũng không ngần ngại ghi dấu ấn hình ảnh của Người trên nó.

Vẫn chưa hết ! Chỉ có con người mới được Thiên Chúa thổi hơi ban Thần Khí, ban sự sống. Chưa có một loài thụ tạo nào, sách Thánh cũng chưa từng bao giờ cho biết bất cứ một loài nào, là thụ tạo mà lạisống bằng hơi thở, bằng sự sống của chính Đấng tạo dựng nên mình. Chỉ có con người được ban sự sống rút ra từ chính sự sống của Thiên Chúa. Chúng ta thử tưởng tượng mà xem, một ngày nào đó, Thiên Chúa cầm lấy sản phẩm mà chính mình vừa mới tạo ra, mang hình ảnh của mình, thổi một luồng hơi thở, lập tức nó trở thành một sinh vật sống: khôn ngoan, có hoạt động, thông minh, và rất đáng yêu. Bởi thế giá trị của con người là giá trị thánh thiêng, nhân phẩm của con người không chỉ vì là người, mà còn trong tương quan với trời cao.

Mang hình ảnh Thiên Chúa, con người có linh hồn thiêng liêng, có trí tuệ và có ý chí tự do. Muôn loài trong vũ trụ được Thiên Chúa dựng nên đều là vật chất. Chỉ có con người vừa là vật chất: thể xác; vừa là tinh thần: Linh hồn. Linh hồn thuộc thế giới thần linh, không bao giờ mất đi, không bao giờ chết. Có linh hồn cho nên con ngời có một vận mệnh vĩnh cửu. Cả hai, xác – hồn tạo thành một bản thể duy nhất: Người. Có hồn, không có xác; hoặc ngược lại, chỉ có xác nhưng không có hồn, đều không phải là người toàn vẹn. Thể xác được linh động hóa nhờ có tinh thần là hồn thiêng.

Đàng khác, khi tạo nên muôn vật, chắc chắn Thiên Chúa chúc lành cho chúng để tất cả chúng “đều tốt đẹp”. Nhưng chỉ có nơi con người, Thánh Kinh mới nhắc tới một cách minh xác, rõ ràng: “Thiên Chúa ban phúc lành cho họ” ( St 1, 28 ). Và như thế, tất cả những gì mà con người có được đều chứng minh Thiên Chúa vô cùng tôn trọng con người.

Vì con người giống hình ảnh Thiên Chúa, và vì Thiên Chúa vô cùng tôn trọng con người, do đó nhân phẩm của nó là tối quan trọng. Chính vì đặt nền tảng nơi Thiên Chúa, nên bất cứ ai xúc phạm nhân phẩm đều xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Ca-in là kẻ đều tiên xúc phạm nhân phẩm con người, là kẻ đầu tiên giết người, giết chính em ruột của mình. Hành động giết người của Cain cũng là hành động xúc phạm Thiên Chúa, như Lời Chúa nói: “Máu của em ngươi kêu vang tới trời thấu đến tai Ta” ( St 4, 10 ).

Cũng vậy, ai xúc phạm Thiên Chúa đều làm tổn thương nhân phẩm của chính mình: A-đam là người đầu tiên của nhân loại đánh mất nhân phẩm của chính mình khi không vâng lời Thiên Chúa. Ông đã phải nhục nhã, cúi mặt bước ra khỏi địa đàng dưới lưỡi gươm lửa của thiên thần, là hình tượng của sự uy quyền của Thiên Chúa.

GIỐNG HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA, GIỐNG NHƯ THẾ NÀO ?

Sách Giáo Lý Công Giáo cho biết, giống hình ảnh Thiên Chúa, con người có trí tuệ, có tự do. Thần học dạy, trí tuệ giúp con người nhận biết Thiên Chúa. Còn tự do sẽ làm con người nên tốt, nếu sử dụng tự do vào mục đích tốt. Hoặc nên xấu, nếu sử dụng vào mục đích xấu, tội lỗi. Nhưng nếu chỉ nhìn ở khía cạnh nhân bản, con người không chỉ giống Thiên Chúa về trí tuệ, tự do hay hồn thiêng mà còn giống Thiên Chúa về nhiều mặt khác như: xã hội tính, khả năng sáng tạo…

Vì sao nói con người có xã hội tính, thì xã hội tính ấy lại là hình ảnh Thiên Chúa ? Lời Tiền Tụng trong Lễ Chúa Ba Ngôi tuyên xưng: “Chúa là Thiên Chúa và chủ tể duy nhất, duy nhất không phải trong một Ngôi đơn độc, nhưng trong Ba Ngôi cùng một bản thể”. Ngay chính bản thân Thiên Chúa, dù là một, là duy nhất hoàn hảo tuyệt đối, vẫn là một bản thể biết san sẻ tình yêu, mang nơi mình tới Ba Ngôi vị. Cha trong Con, Con trong Cha. Tình yêu nơi Cha và Con làm phát sinh một Ngôi Vị tròn đầy, mang cùng bản tính như Cha và Con: Ngôi Thánh Thần.

Thiên Chúa duy nhất nhưng không đơn độc. Điều đó chứng tỏ nơi cung lòng Thiên Chúa có một đặc tính xã hội nào đó.

Thánh Kinh luôn cho thấy Thiên Chúa làm việc liên lỉ. Người không ngừng tạo ra thế giới, không ngừng cứu độ. Thánh Kinh diễn tả sự làm việc của Thiên Chúa rất sinh động: Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ, Người lên đường xuất hành với dân, cứu dân khỏi nỗi nhục làm tôi Ai-cập, ngỏ lời với các Tổ Phụ, soi sáng cho các Ngôn Sứ…

Chúa Giê-su khi còn ở trần gian cũng nêu cao tấm gương hoạt động sáng tạo: làm việc phụ giúp thánh Giu-se và Đức Mẹ. Đặc biệt là hoạt động của Chúa Giê-su nhằm cứu độ con người màbốn quyển Tin Mừng nói rất đầy đủ. Thánh Gio-an Tông Đồ đã không quyên ghi lại lời Chúa Giê-su: “Ta và Cha Ta hằng làm việc luôn” ( Ga 5, 17 ).

Khi sáng tạo con người, Thiên Chúa cũng phú ban khả năng sáng tạo của mình cho họ: “Ta hãy tạo dựng con người giống hình ảnh Ta, để con người làm chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” ( St 1, 26 ). Tuy nhiên việc sáng tạo mà con người được ban cho không theo nghĩa tuyệt đối như Thiên Chúa. Người sáng tạo từ hư không. Con người không thể làm được điều đó. Nó chỉ có thể lao động để sản xuất từ những cái mà Thiên Chúa ban. Lao động của con người là tiếp tục công trình sáng tạo của Thiên Chúa.

Suy tư từ nội dung của tờ lộc đầu năm, cho tôi hiểu rõ hơn về giá trị con người. Sự hiểu biết này đòi tôi phải tôn trọng mọi người, cho dù là những sinh linh nhỏ bé nhất, đang còn nằm trong bụng mẹ. Và cũng từ những suy tư ấy, tôi nhận ra điều mà Chúa muốn dạy tôi:

– Được tạo dựng đã là một vinh dự. Được tạo dựng thành một con người, phẩm giá càng lớn lao hơn.

– Không chỉ làm người, Thiên Chúa còn ban biết bao nhiêu ơn cần thiết để con người được sống, hoạt động, hạnh phúc.

– Nhưng không chỉ công trình tạo dựng mới nói lên phẩm giá con người. Phẩm giá ấy càng trở nên mảnh liệt hơn trong công cuộc cứu chuộc. Bởi chẳng những không bị hủy diệt sau phạm tội, mà lại còn đáng lãnh nhận Đấng Cứu Chuộc đời đời là chính Thiên Chúa làm người, hy sinh chết cho mình.

– Cuối cùng, chúng ta phải chân nhận rằng: Phẩm giá của mỗi một người ở nơi Thiên Chúa, xuất phát từ Thiên Chúa. Nếu không có Thiên Chúa, thì không bao giờ có con người. Nếu Thiên Chúa không muốn, thì không bao giờ con người có phẩm giá. Nếu Thiên Chúa vì yêu, đã tạo thành con người, và ban cho mọi sự thuộc về con người, thì cũng chính nhờ Tình yêu của Thiên Chúa, mà con người được vinh dự lớn lao. Tình yêu làm nên giá trị con người. Do đó, nếu ta sống tương quan tình yêu với Thiên Chúa và với anh em, ta tự mình nâng cao giá trị của chính mình. Ngược lại, không tương quan tình yêu như thế, ta tự đánh mất phẩm giá chính mình.

Một nhà tư tưởng người Đức sống vào thế kỷ thứ 14 được tôn làm bậc tôn sự đưa ra khuôn vàng thước ngọc như sau:

– Người quan trọng nhất trong lúc này là người đối diện với ta. – Giờ phút quan trọng nhất đối với ta lúc này là giờ phút hiện tại. – Công việc quan trọng nhất là công việc bác ái yêu thương.

Chỉ chú ý vào người đối dịện, vào giờ phút hiện tại vào công việc ta đang làm. Đó là bí quyết sống hạnh phúc.

Người Nga cũng có một châm ngôn tương tự:

– Chỗ quan trọng nhất là chỗ bạn đang đứng này đây. – Con người quan trọng nhất là con nguời đang đứng trước mặt bạn và đang cần bạn.

Đầu năm mới, có lẽ ai trong chúng ta cũng có một quyết tâm. Có người quyết tâm bỏ thuốc lá. Có người quyết tâm bỏ uống rượu. Có người quyết tâm dành thêm tiền bạc để đi buôn, để xây nhà, v.v… Có người quyết tâm hăng hái học hành để chuẩn bị cho một tương lai sáng lạng. Có quyết tâm và có quyết tâm, nhưng lắm khi sức người có hạn, chúng ta lại bỏ cuộc giữa đàng, đâu lại vào đó, con sâu của chán nản, của thất vọng lúc nào cũng chực sẵn để gậm nhấm tâm hồn chúng ta

– Hãy sống giây phút hiện tại với tất cả tâm tình lạc quan và phó thác. Đó phải là quyết tâm mà chúng ta có thể làm tức khắc trong giây phút này.

– Hãy hưởng nếm những niềm vui nhỏ trong cuộc sống như ân tình diệu vợi của Chúa.

– Hãy trao vào tay Ngài mọi sầu muộn lắng lo. Chúng ta hãy để cho mọi lo âu lắng đọng xuống.

Chúng ta hãy chấm dứt mọi bài ca than vãn của thất vọng để chỉ còn lại một tâm tình duy nhất xứng hợp với người có lòng tin: Đó là tâm tình phó thác và tri ân.

– Tạ ơn Chúa đã ban cho ta chào đón năm mới.

– Tạ ơn Chúa đã luôn có mặt trong cuộc sống của chúng ta để dẫn dắt chúng ta trong từng phút giây của cuộc sống.

– Tạ ơn Chúa đã giữ vững chúng ta trong niềm tin vào Tình Yêu của Ngài.

– Tạ ơn Chúa cho riêng chúng ta. Tạ ơn Chúa cho tất cả mọi người.

– Tạ ơn Chúa chúng ta cũng không quên tạ ơn người:

– Tạ ơn ông bà tổ tiên đã cho chúng ta được sinh ra làm người Việt Nam. Tạ ơn cha mẹ đã sinh ra và giáo dục chúng ta nên người. Tạ ơn những người thân thương ruột thịt đã đùm bọc chúng ta. Tạ ơn những người bạn tốt đã nâng đỡ chúng ta bằng muôn nghìn cách thể hiện của tình yêu. Tạ ơn những người vô danh mà sự hiện diện và âm thầm đồng hành đã giúp chúng ta được sống như con người. Tạ ơn tất cả những người khốn khổ kém may mắn hơn chúng ta: Nhờ đó tiếng gọi sống yêu thương huynh đệ liên đới còn vang vọng trong tâm hồn chúng ta. Tạ ơn nhiều người mà chúng ta thù ghét. Tạ ơn những người thù ghét chúng ta. Tạ ơn tất cả bởi vì cách này hay cách khác họ vẫn luôn luôn là tiếng gọi để chúng ta sống tinh thần Kitô hữu nhiều hơn.

Với tất cả tâm tình tạ ơn. Chúng ta hãy dâng lên Chúa một năm mới.

Xin dâng lên Ngài tất cả niềm cảm mến tri ân của chúng ta●

LM Gioan Bosco Nguyễn Hữu Thy

Cũng y như tác giả Thánh Vịnh, tác giả Giảng Viên cũng dẫn ta bước qua ngưỡng cửa của niềm tin để đi vào trọn vẹn phó thác trong yêu mến và kính sợ Thiên Chúa:

“Tôi nhận ra rằng mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi. Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt. Thiên Chúa đã hành động như thế để phàm nhân biết kính sợ Người.” (Gv 3: 14)

Nhưng có lẽ không thể tìm được một giải thích đẹp đẽ và trang trọng về thời gian nào hơn ngoài những dòng đọc được trong Tông thư ‘Tertio Millennio Adveniente’ (trước thềm đệ tam thiên kỷ) của ĐGH Gioan Phaolô Đệ Nhị. Đoạn 10 của Tông thư này viết rằng: “Trong Kitô giáo, thời gian có một tầm quan trọng căn bản. Chính trong chiều kích của thời gian mà thế giới được tạo thành; cũng chính trong thời gian mà lịch sử cứu độ được mở ra, đạt đến tuyệt đỉnh của nó trong “sự viên mãn của thời gian” nơi biến cố Nhập Thể, và khám phá ra mục tiêu của nó trong sự tái lâm vinh quang của Con Thiên Chúa tại điểm tận cùng của thời gian. Nơi Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời mặc xác phàm, thời gian trở thành một chiều kích của Thiên Chúa, tuy chính Ngài là vĩnh cửu.”

Cũng trong đoạn văn đó, ĐGH khai triển thêm để nhấn mạnh đến vai trò của Chúa Kitô, vừa là Thiên Chúa thật, lại vừa là người thật. Nói khác đi, từ khi Ngôi Lời nhập thể, thời gian mang nặng ý nghĩa Kitô học: “Chúa Kitô là Chúa Tể của thời gian: Ngài là bước khởi đầu và cũng là điểm cuối cùng của thời gian; mỗi năm, mỗi ngày, mỗi khoảnh khắc được ôm ấp trọn vẹn bởi cuộc Nhập Thể và Phục Sinh của Ngài, và do đó, trở thành một phần của ‘sự viên mãn của thời gian.’ Bởi lý do này, Hội Thánh cũng sống và cử hành phụng vụ trong khoảng chiều dài của một năm. Năm dương lịch được thấu nhập bởi năm phụng vụ, mà theo một nghĩa nào đó, tạo nên toàn thể mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc, khởi đầu từ Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng và kết thúc với lễ Chúa Kitô Vua, Chúa Tể Vũ Trụ và Chúa của Lịch Sử. Mỗi ngày Chúa Nhật ta đều tưởng niệm ngày Chúa Phục Sinh.”

“Thời gian viên mãn,” được lặp đi lặp lại nhiều lần trong các thư của Phaolô, nói lên địa vị trung tâm của Chúa Kitô trong lịch sử, bởi vì thời gian đạt tới mức thành toàn của nó khi Con Thiên Chúa bước vào trong lịch sử loài người để đồng hành với con người:

“Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà.” (Gal 4:4) “Người cho ta đươc biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Kitô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô.” (Eph 1: 9-10) “Vào đúng thời đúng buổi, Thiên Chúa đã biểu lộ lời Người” (Tit 1: 3) là Chúa Kitô, Đấng đã đến để khai mở một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của thi ân và cứu độ: “Vậy đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ.” (2 Cor 6:2).

Như vậy, theo Kinh Thánh, hành động cứu độ của Thiên Chúa đã được hoàn tất tự đời đời nơi Chúa Giêsu Kitô, nhưng lại được mạc khải cho ta trong thời gian. Đó chính là lịch sử cứu độ, được khai mào theo ý định nhiệm mầu yêu thương của Thiên Chúa, trong lịch sử con người, tức là trong thời gian. Điều này càng cho thấy tầm quan trọng của thời gian đối với người tín hữu. Với họ, thời gian là một khai mở theo chiều dài: Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa và câu chuyện về sự hợp tác, hay thiếu hợp tác, của con người với kế hoạch ấy. Điều này đúng cho toàn thể loài người, và cũng đúng cho từng cá nhân mỗi người.

Khác với cái nhìn cuộc đời theo kiểu chu kỳ vòng tròn nơi một vài tôn giáo đông phương, theo đó, kiếp này nối tiếp kiếp trước, kiếp sau tiếp nối kiếp này, đầu thai hoá thân, trải qua những đường vòng ấy, đi dần đến mức hoàn thiện, nhân sinh quan Kitô giáo đặt nặng và coi trọng lịch sử, bởi vì mỗi người sống chỉ một lần, cũng như sẽ chỉ chết một lần, đúng như lời thư Phaolô gửi đến tín hữu Do Thái: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét (Dt 9: 27). Bởi vậy, mỗi khoảnh khắc thời gian phải là một chu toàn ý muốn và kế hoạch của Thiên Chúa. Một cách lý tưởng, mỗi giây, mỗi phút của cuộc đời phải được vĩnh cửu hóa, nghĩa là phải cuốn vào quỹ đạo cứu độ của Chúa, trở thành giá trị muôn đời. Nói khác đi, là đặt trọn cuộc đời trong bàn tay của Thiên Chúa. Trong ý nghĩa này, thiết tưởng nên dừng lại để cùng suy niệm theo lời chú giải của ĐHY Joseph Ratzinger, nay là Đức Đương Kim Giáo Hoàng Biển Đức XVI, về câu 5 trong Thánh Vịnh 16: “Lậy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ.” Bài suy niệm này được đăng trong Ordinariatskorrespondenz, số 1, ngày mùng 4 tháng Giêng năm 1979.

“Bối cảnh Thánh Vịnh này là hình ảnh cổ xưa về cái chén chứa đựng số mạng mỗi người, và Thiên Chúa nắm giữ các số mạng này. Thế nhưng, trong hình ảnh ấy, đối đầu nhau lại là hai quan niệm khác biệt về ý nghĩa và sự thách đố của thời gian. Đó là những quan niệm mà ngay cả hôm nay cũng vẫn còn định hướng cho sức phấn đấu của ta trước tương lai. Vũ trụ quan ngoại đạo đã quá quen thuộc với hình ảnh số mạng, nhưng lại dựa trên những tiền đề hoàn toàn khác: thế giới chẳng qua chỉ là một canh bạc đỏ đen dưới sức chi phối của cái nguyên lý may rủi mù quáng. Thời gian, cũng mù lòa như thế, đã nôn ọe ra số mạng, cách này hay cách khác. Trong khi đó, Thánh Kinh đã làm biến đổi tận căn hình ảnh này. Quả thế, đúng là có chén chứa đựng các số mạng: kẻ thắng người thua. Thế nhưng chén số mạng này lại do chính Chúa nắm giữ, tức là “được đặt vào bàn tay của Ngài,” bàn tay của Khôn Ngoan tuyệt đối và Tình Yêu vĩnh cửu. Đây chính là cái tiền đề thiết yếu, mà chỉ duy mình nó cũng đủ khả năng đem đến cho con người những triền sóng hy vọng. Chén đã nằm trong tay Ngài, thành ra chỉ có thể đánh mất phần số của mình khi cố ý chối từ số mạng đang nằm trong tay Ngài. Bản dịch La ngữ còn đào sâu hơn nữa ý nghĩa của đoạn Thánh Vịnh ta đang suy niệm: ‘Trong tay Ngài, lậy Chúa, thời gian của con được an nghỉ.’ Xét về mặt ngữ học thuần túy, ta có thể dịch là: ‘Trong tay Ngài, lậy Chúa, vầng thái dương của con được nghỉ an.’ Thế là nổi lên hình ảnh mái đầu và vầng thái dương của ta được trao phó trong bàn tay từ ái của Chúa. Để rồi thời gian của con người không chỉ là thời gian được tính toán theo vòng xoay của mặt trời, mặt trăng, và mặt đất. Hơn thế nhiều! Với con người, một trung tâm mới của thế giới đã xuất hiện, một đơn vị đo lường, tính toán mới: đó là nhịp tim, cấu thành thước đo hiện hữu con người, ngay cả thước đo mới cho mọi hữu thể tự thân, như một trung tâm mới của thế giới. Lời Thánh Vịnh kêu gọi ta hãy kéo cuộc hiện hữu mình ra từ khoảng thời gian này, hãy nhìn nhận thời gian này như là thời gian đích thực của mình, và dùng ý thức đó mà uốn nắn thế giới này.

Thời gian của trái tim được biến đổi thành thời gian bừng ánh mặt trời, bởi lẽ trái tim ta không rung động giữa cõi trống vắng mênh mông. Trái lại, trong khi chuyển đưa làn điệu rung động thấu đến khối óc và trí năng, trái tim ta bắt được đúng điệu nhịp rộn ràng khi tự đặt mình trong tay của Đấng cầm giữ toàn thể thời gian hiện hữu của ta trong bàn tay Ngài, bàn tay của Khôn Ngoan tuyệt đối, của Tình Yêu vĩnh cửu và cũng là niềm Hy Vọng duy nhất của ta. Chính vì thế, ta hãy đặt Năm Mới này, thời gian mới này, và cả tương lai của ta nữa, vào đôi tay của Chúa. Lậy Chúa, xin đón nhận chúng con, và ban cho chúng con muôn vàn ân phúc!”

Te Deum laudamus!

Nguyễn Kim Ngân 12/31/2005

Đã lắm phen và bằng nhiều cách, Thiên Chúa đã dạy bảo loài người chúng ta phải biết sống thái độ tạ ơn. Qua bao nhiêu bài Thánh Vịnh, thánh thi trong cựu ước chúng ta gặp không biết bao nhiêu lời tạ ơn đã được cất lên :

“Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương (Tv 136) Lạy Chúa xin dâng lời cảm tạ Ngài dã nghe lời miệng con xin (Tv 138) Hãy dâng Chúa bài ca cảm tạ Gảy khúc hạc cầm mừng Thiên Chúa chúng ta (Tv 147)

Ngay trong Bài Đọc 1 hôm nay, sứ ngôn I-sa-i-a đã thay lời Thiên Chúa nói với muôn thế hệ nhân loại rằng :

Tôi xin nhắc lại ân nghĩa Chúa, dâng lời ca tụng Chúa, vì tất cả những gì Chúa thực hiện cho chúng tôi, vì lòng nhân hậu lớn lao của người đối với nhà Ít-ra-en, vì những gì Người đã thực hiện, bởi lòng Người đầy lòng thương xót và lắm nghĩa giàu ân”.

Nhưng để có một lời Tạ ơn cao cả nhất, trọn vẹn nhất phải đợi đến khi Thiên Chúa sai Con Một mình! Vâng, chỉ có người Con nhân loại và chính là Con Thiên Chúa, đã đến để dẫn dắt con người đi vào quỹ đạo của tình yêu tạ ơn, đi vào thái độ hiếu nghĩa tin yêu dành cho Thiên Chúa một cách trọn hảo qua chính cuộc đời Ngài.

1. Đức Kitô thiết lập nghĩa cử tạ ơn bằng cuộc đời vâng phục:

Nếu dân tộc của Giao ước cũ đã minh chứng niềm tin và lòng tri ân hiếu thảo đối với Thiên Chúa qua những của lễ chiên bò, hy sinh và tạ tội; thì trong trật tự của Giao Uớc Mới, của lễ tuyệt hảo nhất, lời tạ ơn trọn vẹn nhất dành cho Thiên Chúa lại chính là Con Người của Đức Kitô, là cuộc đời và toàn bộ cuộc sống của Ngài, một cuộc đời trọn vẹn vâng phục thánh ý Chúa Cha :

Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô đã nói : “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa : lạy Thiên Chúa, nầy con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con.” (Dt 10,5)

Thật vậy, Đức Kitô đã đến giữa trần gian và đã biến cả vũ trụ trở nên một “đền thờ vĩ đại” và đã qui tụ toàn nhân loại chung quanh Ngài để làm nên một cuộc “đại thờ phượng”, một cuộc tạ ơn và phụng thờ Thiên Chúa vượt qua mọi biên giới không gian, xuyên suốt mọi thời gian. Bởi vì đó là cuộc thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh Thần và Chân lý :

“Nầy chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi nầy hay tại Giê-ru-sa-lem…..Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc nầy đây – giờ những người thờ phượng đích thức sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.” (Ga 4,21-24)

Qua những chỉ dẫn của Tin Mừng, chúng ta còn biết được rằng : thái độ tạ ơn, tâm tình tri ân cảm tạ lại chính là thái độ cốt yếu của tinh thần “Tám mối Phúc thật”, tinh thần “nghèo khó, khiêm hạ, yêu thương…”, tinh thần luôn biết đưa tay hướng mắt về phía Thiên Chúa với niềm tin yêu phó thác của những con người như Bà Góa bị loạn huyết 18 năm xứ Canaan, của người phung hủi ngoại bang được chữa lành, của viên sĩ quan có người tôi tớ đau nặng, của người đàn bà tội lỗi khóc lóc ăn năn, của những người thu thuế bị loại trừ như Gia-kê, Lê-vi, của các trẻ thơ xúm quanh để chờ được chúc lành hay của người kẻ trộm sắp sửa đi về bên kia thế giới với hy vọng sẽ được cứu độ trong Vương quốc phục sinh…

Rồi cũng chúng ta cũng biết được rằng : trên môi miệng của Đức Kitô luôn vang lên lời tri ân cảm tạ : “Lạy Cha, con tạ ơn Cha, vì Cha đã dấu…”

Và còn hơn thế nữa Ngài đã tạ ơn bằng chính 1 cuộc đời vâng phục mà chỉ trọn vẹn khi Ngài nói lời “Con phó thác hồn con trong tay Cha”. Đó chính là lời tạ ơn trọn hảo nhất bằng Hy Tế Thập Giá mà hôm nay trên mọi bàn thờ chúng ta đang tái diễn mỗi ngày.

2. Đức Trinh Nữ Maria và lời Tạ Ơn Magnificat :

Cảm tạ hồng ân của Thiên Chúa trong Đức Kitô, nhờ Đức Kitô và với Đức Kitô chính là con đường đức tin của Dân Chúa hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Và may mắn thay, trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại suốt 2000 năm nay, đã có một “bài ca tạ ơn”, đã có một “cuộc đời tạ ơn” theo cung cách ấy. Đó chính là bài ca “Magnificat”, đó chính là “cuộc đời của Trinh nữ Maria”. Quả thật cuộc đời của Đức Mẹ được phản ảnh qua bài Magnificat mà Tin Mừng hôm nay vừa nhắc đến là mô hình sống động, là mẫu gương sáng ngời để nhân loại bước đi trong “con đường tạ ơn” Thiên Chúa, trên nẽo đường đáp trả hồng ân.

– Tạ ơn : trước hết là như Đức Maria dâng lên lời ngợi khen Thiên Chúa và hân hoan vì hồng ân cứu độ Ngài đã ân ban: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa….”

– Tạ ơn : phải chăng như Đức Maria nhận ra “những việc lạ lùng Thiên Chúa đã thực hiện nơi tôi”.

– Tạ ơn phải chăng như Đức Maria luôn biết nhận ra bàn tay Thiên Chúa đưa ra nâng đỡ thân phận yếu hèn, lòng quảng đại Chúa mở ra để ban cho dư đầy ơn phúc.

-Tạ ơn phải chăng là luôn xác tín mãnh liệt và đầy lòng trông cậy vững vàng trước lời hứa và kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa : “Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta. Vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời”.

Và Mẹ đã hoàn tất lời tạ ơn tuyệt diệu đó vào Chiều Thứ Sáu trên đồi Can-vê khi Mẹ thay cho nhân loại dâng hiến lễ Tạ Ơn đầu tiên cùng với Con yêu dấu trên bàn thờ Thánh Giá.

3. Sống chiều kích Tạ Ơn trong nhỏ nhặt đời thường :

Qua lời kinh Tạ Ơn Magnificat của Đức Maria, và nhất là, qua cuộc đời đã trở nên Hy Tế TẠ Ơn của chính Đức Kitô, chúng ta cảm nhận được rằng :

– Thái độ Tạ Ơn, cuộc sống Tạ Ơn không chỉ là một hành vi mang tính “thời sự’, “cơ hội” đột xuất (như được khỏi cơn bệnh hiểm nghèo, thoát qua cơn hoạn nạn, tránh được hiểm nguy, làm ăn buôn bán trúng mánh, trúng số độc đắc…), nhưng “Tạ Ơn” phải là một thái độ, một nhịp sống, một cử hành thường xuyên, từng phút giây, mọi biến cố, trên mọi nẽo đường cuộc sống. Đó chính là cách ứng xử mà mấy ngàn năm trước, ông thánh Gióp đã từng nêu gương : “Chúa cho, Chúa cất lấy, xin cảm tạ ơn Chúa !”. Dĩ nhiên, có những thời điểm, có những biến cố dễ gợi mở tâm tình chúng ta hướng về Thiên Chúa trong thái độ tạ ơn đặc biệt…Nhưng không phải, chỉ tạ ơn trong những hoàn cảnh, những thời điểm đặc biệt thôi, còn ngoài ra thì “bàn tay ta làm nên tất cả”, có nhờ vả ai đâu, có khấn xin gì nào mà phải tạ ơn cám ơn…

– Bởi vì, chính khi chúng ta cử hành cuộc sống trong thái độ tạ ơn, chúng ta sẽ thấy cuộc đời mình nhỏ lại, khiêm hạ hơn, khó nghèo hơn, trái tim kiêu căng hợm hĩnh sẽ được biến đổi để trở nên nhỏ bé hiền lành, và từ đó con mắt tâm hồn sẽ khám phá ra muôn vạn hồng ân của Cha trên trời vây bọc xung quanh. Ngày hôm nay, hơn lúc nào hết, cái nảo trạng ‘đương nhiên” của chủ nghĩa duy vật vô thần đang âm thầm hay mãnh liệt len lỏi vào mọi ngỏ ngách của cuộc sống. Vì đã lý luận như thế : “đương nhiên trái cấm nầy thuộc về tôi, địa đàng nầy là của tôi, tôi cóc cần Thiên Chúa với những luật lệ của Ngài…” mà A-đam và E-Va đã đẩy nhân loại vào vũng lầy nguyên tội. Cũng vì lý luận như thế : tôi khỏi phung cùi chắc là do số phận run rủi, là tới lúc phải được như thế, chứ ông Giêsu nào có can thiệp gì đâu… nên chín người phung cùi được khỏi bệnh đã không thèm trở lại tạ ơn Chúa Giêsu ! Còn chúng ta hôm nay thì sao. Có thấy được “phép lạ tình yêu của Thiên Chúa” ghi dấu ấn trên đời thường cuộc sống mỗi ngày để ngước mắt tạ ơn, hay chỉ là những thở dài oán trách Chúa vì đã van xin bao điều mà sao vẫn cứ hoài vô vọng. Có thấy bàn tay quan phòng của Thiên Chúa tế nhị ấp yêu trên mọi biến cố cuộc đời để cảm tạ tri ân, hay chỉ thấy mọi sự là “đương nhiên” để cóc cần phải tính sổ với Thiên Chúa.

Trong giờ phút thiêng liêng khi trời đất sắp sửa giao mùa, chúng ta có dịp ngồi lại với nhau trước mặt Chúa để nhờ ánh sáng của Lời Ngài mà nhìn lại cuộc sống, mà cảm nhận muôn vạn hồng ân Chúa đã ân ban trong suốt một năm. Và điều quan trọng hơn hết, phải chăng là chúng ta được cùng với Đức Kitô dâng Hy Tế Tạ Ơn nầy như một nghĩa cử của lòng hiếu thảo mến yêu, của tâm tình tri ân cảm mến; và cũng chính qua sứ điệp của lời kinh tạ ơn Magnificat của Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta được gọi mời từ hôm nay, biết mở lòng đón nhận và khám phá muôn điều kỳ diệu Chúa đã làm, để từ đó biến cuộc sống trở thành “Lời ca khen cảm tạ Magnificat” :

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, Thần trí tôi hớn hở vui mừng, vì Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi, phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới…”. Đây là lời kinh Ngợi Khen mà Đức Mẹ đã tiến dâng Thiên Chúa bằng tất cả tâm tình mến yêu, tin tưởng, cậy trông, phó thác của mình.

Ngày cuối năm, Hội Thánh muốn ta suy niệm về tâm tình ngợi khen của Đức Mẹ để ta cũng biết ngợi khen Chúa như Đức Mẹ. Vậy, trong bầu khí vui mừng, rộn ràng, xen lẫn những lo âu, toan tính cho cả một năm vừa qua, ta mặc lấy tâm tình của Đức Mẹ, cùng Đức Mẹ chúc tụng, ca ngợi Thiên Chúa. Lời ngợi khen của Đức Mẹ đẹp lòng Chúa. Chắc chắn mượn lấy tâm tình của Đức Mẹ, cùng ca ngợi Chúa với Đức Mẹ bằng tất cả lòng tri ân của ta, ta cũng sẽ đẹp lòng Chúa, sẽ được Chúa đoái thương đón nhận, như Chúa đã đoái thương đón nhận Đức Mẹ.

Trong bài Ngợi Khen mà Đức Mẹ dâng lên Chúa, Đức Mẹ đã nói: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn” (Lc 1,46). Như thế, cũng đồng nghĩa với việc Đức Mẹ đã thừa nhận tất cả sinh mạng của Đức Mẹ ở trong tay Chúa. Cuộc đời của Đức Mẹ là bởi Chúa. Mọi hoàn cảnh, mọi biến cố diễn ra cho chính cuộc đời, chính sự sống của Đức Mẹ đều nằm trong chương trình thánh ý của Chúa. Hiểu như thế, Đức Mẹ đã sống cả một đời tuyệt đối xin vâng theo thánh ý Chúa.

Chúng ta bâng khuâng trong ngày cuối năm, với tất cả những biến chuyển, những thao thức của cả một năm vừa đi qua. Rồi đây, một năm mới lại về. Tương lai lại đang chờ ta cũng sẽ là những trăn trở, những giăng mắc đầy hối thúc của cuộc mưu sinh đời thường. Vì thế, ngày cuối năm là thời gian thiêng liêng nhất, hợp lý nhất để chúng ta dừng lại kiểm điểm mình và tạ ơn Thiên Chúa vì một năm qua, ta đã sống, đã làm việc, đã hoạt động. Đồng thời xin lỗi Chúa vì biết bao nhiêu lần ta đã quên ơn Chúa, đã không cộng tác với ơn Chúa để phát triển đời sống đạo đức, sự thánh thiện của mình.

Là con của Đức Mẹ, chúng ta hãy học lấy lời xin vâng của Đức Mẹ mà tiếp tục Xin Vâng như Đức Mẹ. Xin Vâng như Đức Mẹ, nghĩa là chúng ta cũng sẽ thừa nhận tất cả sinh mạng của mình ở trong tay Chúa. Cuộc đời của mình là bởi Chúa. Mọi hoàn cảnh, Mọi biến cố diễn ra cho chính cuộc đời, và chính sự sống của mình đều nằm trong chương trình thánh ý của Chúa. Bởi vậy, ta hãy sống như Đức Mẹ đã sống: cả một đời tuyệt đối xin vâng theo thánh ý Chúa.

Lạy Chúa, xin chấp nhận tâm tình tri ân, ngợi khen của chúng con trong ngày cuối năm này. Chúng con xin dâng lên Chúa cùng với Đức Mẹ, nhờ Đức Mẹ. Xin chấp nhận tất cả những gì mà chúng con có thể có để hiến dâng và tha thứ tất cả những gì chúng còn thiếu sót hay lỗi lầm. Amen

Tạ ơn cho những người bố, những người mẹ. Tạ ơn cho những sáng sớm vất vả với dòng xe cộ đỏ chói và đen đặc trên xa lộ. Tạ ơn cho tháng năm ngược xuôi kiếm tiền nuôi chồng, nuôi vợ và nuôi con. Tạ ơn cho những người cha người mẹ một đời khổ vì con, một đời cực vì cháu.

Tạ ơn cho những giọt nước mát lạnh từ trời cao đã tuôn đổ, những giọt nước mắt đã rớt rơi để dập tắt mầm mống của giận hờn oán ghét. Tạ ơn cho những vết thương bầm tím trên thân xác và trong tâm hồn đang từ từ phai màu và được chữa lành.

Tạ ơn cho những lầm lỗi. Tạ ơn cho những lần được thứ tha, được bỏ qua, được quên đi, được xóa nhòa. Tạ ơn cho những chịu đựng âm thầm, không cằn nhằn, không đi ra đi vào đá thúng đụng nia. Tạ ơn cho những hành động ích kỷ và một tấm lòng từ tâm bao dung.

Tạ ơn cho những giây phút thất vọng và hy vọng. Tạ ơn cho những giọt lệ khổ đau và nụ cười hạnh phúc. Tạ ơn cho những giây phút buồn phiền, cô đơn, và chán nản, không ai vỗ về. Tạ ơn cho một lần hạnh phúc, vinh quang, và thất vọng. Tạ ơn cho những thất bại và thành công.

Tạ ơn cho một tô mì gói với chả lụa thơm nồng . Tạ ơn cho một tô phở đặc biệt với bò viên, hành ngò, và thịt tái nạm. Tạ ơn cho một tô cơm trắng với thịt kho, rau muống, và dưa muối. Tạ ơn cho nước mắm, mắm tôm, mắm ruốc bốc mùi thơm lừng trong nhà bếp. Tạ ơn cho bún bò huế, bún vịt sáo măng, bún mọc, cháo gà, cháo vịt, cháo lòng và phở tái. Tạ ơn cho bánh cuốn, bánh bèo, bánh đúc, bánh phồng tôm. Tạ ơn cho gạo trắng cơm ngon. Tạ ơn cho những bữa cơm thơm nồng được nấu bởi bàn tay của ông của bà, của bố của mẹ, của chị của anh, và của cả những người em, em trai cũng như em gái.

Tạ ơn cho những người thầy những người cô đã giúp con trưởng thành và đồng hành với con. Tạ ơn cho một năm học vui vẻ với nhiều kết quả tốt đẹp. Tạ ơn cho những trí khôn Thiên Chúa đã ban cho con. Tạ ơn cho một sức khỏe không đau yếu. Tạ ơn cho sự cần cù, hy sinh, và thương yêu của mẹ cha. Tạ ơn cho một đêm dạ vũ vui nhộn với tiếng nhạc êm đềm và quyến rũ.

Tạ ơn cho những thân hình lực lưỡng của đứa con trai, mới ngày nào còn nhỏ xíu, nay vươn vai đứng dậy hóa ra người thanh niên với những sợi râu mọc lưa thưa trên mép. Tạ ơn cho những đứa con gái, ngày nào tóc còn ngắn như con trai, giờ này tóc dài thướt tha đen nhánh, êm đềm bước đi những gót hài đầu tiên của tuổi thanh xuân, tuổi của sắc đẹp rực rỡ, huy hoàng.

Tạ ơn cho những đám cưới tưng bừng với bao nhiêu quan khách. Tạ ơn cho những tà áo dài trắng thướt tha, những khuôn mặt đỏ hồng, những đôi mi e lệ dưới khăn voan cô dâu trắng toát. Tạ ơn cho những đứa con đang hình thành trong bụng. Tạ ơn cho những mái ấm gia đình hạnh phúc.

Và quan trọng hơn cả& Tạ ơn cho con được biết Chúa, được làm con của Chúa, được bàn tay Ngài luôn chở che thương yêu chăm nom săn sóc &Và nhất là cho con được hưởng nhờ Ơn Cứu Ịộ từ trời cao, cho con được tham dự vào ẪBản Tính Thiêng LiêngỮ của Chúa, cho con được trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài.

Lạy Chúa! Có rất nhiều điều con cần phải tạ ơn, tạ ơn Trời và tạ ơn Đời. Có kể ra hết cũng không đủ giấy mực để tâm sự với Chúa về những hồng ân con đã lãnh lãnh nhận. Con chỉ biết khắc ghi trong lòng để luôn sống tâm tình tạ ơn trong mỗi giây mỗi phút của cuộc đời con. Amen

Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương ( Tv 135)

Chúng ta đang cùng nhau sống những giờ phút cuối cùng của năm cũ, và chuẩn bị chia tay năm 2014 năm Giáp Ngọ, bước vào năm 2015, năm Ất Mùi với thời khắc thật linh thiêng. Vào dịp tạ ơn cuối năm, Đức Thánh Cha Phanxicô nói với chúng ta rằng : “Người tín hữu Kitô hữu dựa trên Thánh Kinh thấy thời gian không mang tính tuần hoàn mà là một đường thẳng: thời gian là con đường dẫn đến chung cuộc”. Đúng thế, nêu chúng ta nhìn lại một năm vừa trôi qua chính là một bước đi hướng đến sự hoàn tất của lịch sử, đến cứu cánh của nhân loại là hy vọng và vui mừng được gặp Chúa, thị việc tạ ơn này thật là ý nghĩa.

Chắc chắn mỗi người mang một tâm tình, vui, buồn, sướng, khổ, thành công hay thất bại. Nhưng giờ phút này đây, tất cả đều có chung một ý tưởng là tạ ơn và phó thác. Tạ ơn, vì Chúa đã cho chúng ta sống đến giờ phút này, còn gì thích hợp và ý nghĩa hơn khi chúng ta mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria để hát vang lên tới Chúa : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa… vì Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (Lc 1, 29-55). Lời của thánh Phaolô nhắn nhủ với tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca xưa kia, nay ngài muốn nói với mỗi người chúng ta rằng: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu.” (1 Tx 5, 16-18). Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa, về ân huệ Người đã thương ban (1Cr 1, 3-9).

Nhìn lại trong năm qua, chúng ta thấy các biến cố lần lượt diễn ra : các thảm kịch và hy vọng, niềm vui và đau khổ, chiến thắng và thất bại; kinh tế thế giới tiếp tục lún sâu, thiên tai ngày càng khủng khiếp xuất hiện siêu bão, tai nạn dữ hơn, thời tiết khắc nghiệt hơn, hành vi người với người đối xử với nhau giã man hơn v.v…

Việt Nam chúng ta đang lún sâu vào cuộc khủng hoảng về nhiều phương diện từ đạo đức đến nhân văn, từ mô hình phát triển xã hội đến từng bước phát triển, từ lãnh đạo đến đường lối, từ kinh tế đến chính trị, từ ổn định xã hội đến an ninh quốc phòng, đạo đức con người như đang bị suy giảm tới mức báo động trong các ngành nghề như y học và giáo dục, nạn tham nhũng trở nên hệ thống hơn từ trên xuống dưới… chúng ta đang phải đối mặt với thực tại.

Nhìn qua mọi sự, đến giờ phút này đay, chúng ta phải khẳng định rằng Thiên Chúa là chủ lịch sử, Ngài hướng dẫn các biến cố nhân loại. Ngài đồng hành với con người và không ngừng thực hiện những điều vĩ đại. Làm sao chúng ta có thể không cám ơn Người vào đêm nay? Và nhất là trong năm Tân Phúc Âm Hóa Giáo xứ này, làm sao chúng ta có thể không dâng lên Người lời tuyên xưng: “Lạy Chúa, chúng con đặt niềm tin tưởng nơi Chúa”!

Giờ đây chúng ta mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria hướng về trời cao và cất lên lời tạ ơn Thiên Chúa và phó thác nơi Ngài. Bởi lẽ, tạ ơn là thái độ căn bản của người Kitô hữu đối với Thiên Chúa, vì tất cả những gì con người có đều là hồng ân của Thiên Chúa.

Chúng ta đồng thanh hiệp ý với Mẹ ca tụng những điều kỳ diệu của Thiên Chúa đã và còn đang làm trong lịch sử : Người đã và còn đang biểu lộ quyền năng của Ngài… đã và còn đang làm tan rã những kẻ kiêu căng… đã và còn đang hạ xuống người quyền thế… đã và còn đang nâng dậy kẻ khiêm cung… đã và còn đang ban tràn đầy ơn lành cho người đói khát… đã và còn đang đuổi người giàu có ra về tay không… đã và còn đang cứu giúp Israel Dân Người.” Ðó là bảy hành động của Thiên Chúa là Chúa của lịch sử: Người luôn đứng về phía những kẻ thấp hèn nhất, những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn, những ai “kính sợ Người, trung thành với Lời Người; đó là những kẻ khiêm tốn, những kẻ đói khát; đó là Israel người tôi tớ trung thành của Người; đó là cộng đồng dân Chúa, được kết thành bằng những kè nghèo hèn, trong sạch và đơn sơ trong tâm hồn, như Mẹ Maria.

Thánh lễ này diễn ra vào giờ phút cuối cùng của năm 2014 Âm Lịch, đôi mắt chúng ta hướng nhìn lên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của đời sống chúng ta. Vì không có Chúa, chúng ta sẽ không hiện hữu, không có Chúa sẽ chẳng có gì, hoàn toàn không có gì. Chúa là Đấng “vạn vật được tạo thành” (Ga 1, 13), Chúa là Đấng mà nhờ Chúa, chúng ta được tạo thành, và sống cho đến phút này đây. Không có Chúa, sự sống không thể đạt đến vận mệnh cuối cùng của nó. Không có Chúa sẽ chẳng có gì, hoàn toàn không có gì. Chính Người giúp chúng ta đối diện với các thách đố trong năm mới; chính Người ban cho chúng ta khả năng sử dụng đời sống để làm vinh danh Thiên Chúa và mưu ích cho nhân loại. Chúng ta hãy để tình yêu Ngài lôi cuốn cuộc đời ta.

Lúc này đây, chúng ta hãy đặc biệt nhớ tới và cầu nguyện cho những ai đang đau khổ, những ai đang gặp khó khăn và những ai đang sống trong buồn phiền, để khẩn cầu sự trợ giúp quan phòng của Chúa.

Cái nhìn của chúng ta giờ đây mở rộng ra hướng về gia đình, giáo họ, giáo xứ, giáo phận, toàn thể Hội Thánh và thế giới. Chúng ta hy vọng rằng Năm Mới sẽ đem lại hoà bình, công lý, tình huynh đệ và sự thịnh vượng cho tất cả mọi quốc gia! Nguyện xin Ðức Nữ Trinh Rất Thánh, Hừng Đông của thời đại mới, giúp chúng ta nhìn lịch sử đã qua và Năm Mới khởi đầu với con mắt đức tin. Xin cầu chúc một Năm Mới hạnh phúc đến với mọi người! Amen.

Vào những ngày cuối năm này, đây đó rộn ràng với những bữa tiệc tất niên để tổng kết cuối năm. Đối với những người sống đời thánh hiến, chúng ta dành những giây phút linh thiêng này để nhìn lại một năm cũ đã qua, đây là một dịp thuận tiện để nhìn lại đời ta, nhìn vào bên trong, nhìn vào đằng sau sự vật, để biết quý chuộng những gì chúng ta đang có bởi lẽ tất cả là hồng ân của Chúa, vì thánh Phaolô đã tung hô rằng: “Chúc tụng Thiên Chúa, là thân phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Giêsu Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần.” (Ep 1,3) Thánh Gioan khẳng định rằng: Mọi vật đều do Người làm nên và không có Người, thì chẳng vật chi được tác thành.” (Ga 1,3) Như vậy, đứng trước một Thiên Chúa cao cả và quyền năng, đã ban cho chúng ta tất cả, việc tạ ơn Chúa là việc cần thiết và chính đáng.

Với tâm tình trên, từng cộng đoàn, từng thành viên hãy nhìn lại 365 ngày qua, với 8,760 giờ, để nhận ra muôn vàn phúc lành mà chúng ta đã lãnh nhận từ Thiên Chúa như về: thời giờ, tài năng, sức khỏe, những thành công và cả những thất bại… Nhìn lại một năm qua, trong mọi biến cố, chúng ta thấy bao can thiệp diệu kỳ của Chúa, bao hồng ân lớn lao Chúa ban. Nhưng ân phúc lớn nhất không là những quà tặng, mà là chính Chúa, là sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài trong cuộc đời ta. Đó mới là quà tặng tuyệt đối cao cả. Tất cả như đang đổ đầy lòng ta bao cảm xúc và khơi gợi lời tạ ơn nhiều chân thành, rộng lớn trong phút giây này.

Niềm xác tín này mời gọi chúng ta hãy luôn giữ mãi tinh thần tạ ơn. Vì chỉ khi biết tạ ơn thì chúng ta mới nhận ra tất cả những gì ta có là bởi Chúa thương ban. Chúng ta có thể sống tâm tình tạ ơn mọi nơi mọi lúc, trong thành công cũng như trong thất bại, hãy phó thác chính cuộc đời của chúng ta vào sự quan phòng của Thiên Chúa.

Tạ ơn Chúa, chúng ta cũng không quên cám ơn người: cám ơn cha mẹ đã sinh thành nuôi dưỡng ta khôn lớn với bao vất vả nhọc nhằn. Tri ân Hội dòng, quý bề trên đã bảo ban dạy dỗ lo lắng cho chúng ta qua từng ngày sống về tinh thần lẫn vật chất. Cám ơn chị em, bạn bè đã dành cho ta bao yêu thương nâng đỡ trong ơn gọi đời sống tu trì. Cám ơn bao người đã âm thầm hy sinh cách này cách khác để ta có được ngày hôm nay.

Ngày cuối năm, cũng là dịp để suy nghĩ, điều chỉnh tâm hồn, để hồi tỉnh xem điều gì mình còn thiếu sót, điều gì còn chưa chu toàn, điều gì chưa tốt. Để tạ lỗi với Chúa và tạ lỗi mọi người. Tạ lỗi để nói lên lòng sám hối, ăn năn. Nguyện xin Chúa nung nấu tâm tình sám hối đích thực nơi chúng ta và ban cho chúng ta niềm an bình nội tâm, để chúng ta cũng biết chia sẻ niềm an bình ấy với mọi người bằng cảm thông, tha thứ, và xây dựng một cộng đoàn hiệp nhất yêu thương. Đồng thời, phó thác một năm mới sắp tới trong bàn tay quan phòng đầy yêu thương của Ngài.

Lạy Chúa, trong ngày đầu năm mới này, con xin nâng tâm hồn con lên cùng Chúa.

Xin Chúa giúp con luôn hướng về Chúa, biết nhìn nhận Chúa là nguồn hạnh phúc thật của đời sống con.

Xin cám ơn Chúa vì đã cho con được sống cho đến hôm nay. Xin Chúa thương gìn giữ con, gìn giữ cả những người thân của con được sống trong năm mới này tràn đầy ơn lành và sự bảo vệ của Chúa. Amen.

Lạy Chúa, xin thương tha thứ những lỗi lầm mà chúng con đã phạm trong năm qua.

Xin thương giúp mỗi người chúng con canh tân đời sống của mình trong năm mới.

Chúng con xin cám ơn Chúa vì những hồng ân Chúa đã ban cho và xin Chúa thương tiếp tục đổ muôn ơn lành xuống trong cuộc đời chúng con, trên gia đình chúng con, trên dân tộc và trên quê hương chúng con. Amen. (Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu)

Một chiếc xe vận hành trên đường, nó phải có thời gian dừng lại, vừa để nghỉ ngơi, vừa để kiểm tra xe vừa để tăng thêm nhiên liệu. Một học sinh sau thời gian dài học tập, cũng có thời gian để kiểm tra, thi cử. Đó là lúc nhìn lại kết quả đã đạt được trong thời gian qua như thế nào. Con người với đời sống thường ngày cũng thế, cứ sau 12 tháng là bắt đầu lại những ngày tháng mới. Trước giây phút chuyển giao linh thiêng mà chúng ta gọi là giao thừa, chúng ta cũng có thời gian đến trước Chúa, để nhìn lại đời sống của mỗi người trong một năm qua.

Giờ đây chúng ta cùng nhìn lại kết quả của những tháng ngày mệt nhọc mà mỗi người đã trải qua. Chúng ta vừa lắng nghe lời chúc phúc cho những ai biết thực hiện cách sống xứng đáng. Những điều chúc phúc mà khiến cho nhiều người không khỏi giật mình, những lời chúc phúc dường như bảo con người không được quyền vươn lên. Nhìn và nghe thoáng qua thì như thế, nhưng nếu chịu khó suy tư và nhìn vào thực tế, chúng ta không còn bở ngở. Thật thế, nếu không chịu khó vất vã để làm ăn mà lười biếng chỉ biết hưởng thụ cho sung sướng, nếu không biết nhẫn nhục chịu khó, chấp nhận một chút thua thiệt mất mát, thì làm sao tích lũy được những thành quả tốt đẹp cho tương lai. Như vậy những lời Chúa Giêsu nói cách đây 2000 năm, lại vang động bên tai và vẫn còn giá trị cho những con người của thời đại mới nầy.

Mỗi người giờ đây để ra một ít thời gian, nhìn lại cuộn phim cuộc đời mà mình đã tạo nên trong năm qua. Có những chỗ, những nơi chúng ta không dám dừng lại để nhìn, và cũng không muốn cho ai nhìn thấy. Đó là những lúc con người này chỉ còn nhìn thấy có chính mình, chỉ biết lo hưởng thụ cho riêng bản thân, không còn nghĩ đến người khác, nên bất chấp tất cả, bất chấp cả những thủ đoạn tàn ác, miển sao bản thân đạt được điều mình mong muốn. Ngoài ra còn có những lúc lười biếng không chu toàn trách nhiệm của cuộc sống mà mỗi người đang đảm nhận: trách nhiệm của một người cha, người mẹ, người con trong gia đình. Trách nhiệm với những người thân cận chung quanh. Trách nhiệm đối với xã hội mà mỗi người đang nắm giữ một địa vị, một chỗ đứng. Nhiều khi vì lơ là, lười biếng hay sợ sệt mà chúng ta đã bỏ qua đi những điều cần phải làm như thế.

Có những đoạn phim, khi nhìn đến, mỗi người cảm thấy tự hào và hảnh diện cho bản thân, vì mình đã làm những điều tốt đẹp, có ý nghĩa. Đó là những lúc chúng ta dám đổ những giọt mồ hôi của mình để đem lại hạnh phúc cho người khác, đem lại niềm vui cho những người chung quanh. Đó cũng là những lúc chúng ta cam tâm chấp nhận những câu nói không êm tai, nhường nhịn một sự bất công, hách dịch để đem lại sự bình an cho những người chung quanh mình. Đó cũng là những lúc chúng ta biết tìm lợi ích thật sự cho những gì mình có trách nhiệm. Đó cũng là những lúc trước những sóng gió bất công của cuộc đời, mà mình vẫn đứng vững để vượt qua. Càng tự hào hơn nữa, khi chúng ta nhìn thấy rằng: trong suốt cuộc đời, đặc biệt trong một năm vừa qua, với những vui buồn sướng khổ của cuộc sống, đều có Thiên Chúa cùng đồng hành, cùng ở bên cạnh chúng ta trong mọi trường hợp.

Với những kết quả như thế, mỗi người tự cho điểm về chính mình về những việc làm của một năm qua, như kết quả học tập của một học sinh đang làm bài kiểm tra. Chúng cảm thấy mình được số điểm như thế nào, tốt hay xấu, là tùy mỗi người, không ai có thể giúp cho được.

Chúng ta cùng nhau xin lỗi Chúa vì những lỗi lầm của năm qua, chúng ta cũng cầu xin Chúa ban ơn cho mỗi người, trong năm mới có được sức sống mới, để vững vàng bước đi trong những ngày tháng mới cho xứng đáng hơn.

Một năm với tháng ngày dần trôi, giờ chúng ta đang sống là thời khắc cuối cùng của năm cũ 2015, năm Ất Mùi và chuẩn bị bước vào năm mới 2016, năm Bính Thân, thời khắc thật linh thiêng. Vào dịp tạ ơn cuối năm, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các tín hữu cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa vì những hồng ân đã nhận lãnh trong năm qua, đồng thời xét mình và kiểm điểm những gì xảy ra trong năm 2015. Ngài nói:

“Giờ này đây, chúng ta cần đặc biệt tập trung vào những dấu chỉ Thiên Chúa đã ban, để cảm nghiệm cụ thể sức mạnh tình yêu thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta không thể quên bao nhiêu ngày ghi đậm bạo lực, chết chóc, đau thương khôn tả của bao người vô tội, những người tị nạn buộc lòng phải rời bỏ quê hương, những con người nam nữ và trẻ em không còn gia cư nhất định, thiếu lương thực và kế sinh nhai. Dầu vậy cũng có bao nhiêu cử chỉ tốt lành, yêu thương và liên đới diễn ra trong những ngày tháng của năm cũ, mà không được các bản tin tức nói tới ! Không thể để cho quyền lực sự ác che khuất những dấu chỉ tình thương ấy. Sự thiện luôn chiến thắng, cho dù có lúc sự thiện xem ra yếu ớt và âm thầm” ( Bài giảng Kinh Chiều cuối năm 2015 ). Vì thế chúng ta phải dâng lời cảm tạ Chúa.

Một năm sắp kết thúc, người kitô hữu chúng ta dựa trên Thánh Kinh thấy thời gian không mang tính tuần hoàn mà là một đường thẳng: thời gian là con đường dẫn đến chung cuộc, nên một năm trôi qua là một bước đi hướng đến sự hoàn tất của lịch sử, đến cứu cánh của nhân loại là hy vọng và vui mừng được gặp Chúa, thì việc tạ ơn này thật là ý nghĩa.

Trong giờ phút linh thiêng này chúng ta dâng lời tạ ơn Chúa. Bởi lẽ, tạ ơn là thái độ căn bản của người Kitô hữu đối với Thiên Chúa, Isaia dạy chúng ta phải dâng lời ca tụng Chúa, “vì tất cả những gì Đức Chúa đã thực hiện cho chúng tôi vì lòng nhân hậu lớn lao của Người… bởi lòng Người đầy thương xót và lắm nghĩa giầu ân” ( Is 63, 7 ). Thật phù hợp với Năm Thánh Lòng Thương Xót chúng ta đang sống. Thánh Phaolô viết: “Chúc tụng Thiên Chúa, là thân phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Giêsu Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần” ( Ep 1, 3 ). Thánh Gioan khẳng định: “Mọi vật đều do Người làm nên và không có Người, thì chẳng vật chi được tác thành” ( Ga 1, 3 ). Như vậy, đứng trước một Thiên Chúa cao cả và quyền năng, đã ban cho chúng ta tất cả, việc tạ ơn Chúa là việc cần thiết và chính đáng.

Thật là đẹp, khi giờ đây chúng ta đồng thanh hiệp ý với Mẹ Maria ca tụng những điều kỳ diệu của Thiên Chúa đã và còn đang thể hiện trong lịch sử: Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, vì Người đã và còn đang biểu lộ quyền năng của Ngài… đã và còn đang làm tan rã những kẻ kiêu căng… đã và còn đang hạ xuống người quyền thế… đã và còn đang nâng dậy kẻ khiêm cung… đã và còn đang ban tràn đầy ơn lành cho người đói khát… đã và còn đang đuổi người giàu có ra về tay không… đã và còn đang cứu giúp Israel Dân Người.

Ðó là bảy hành động của Thiên Chúa là Chúa của lịch sử: Người luôn đứng về phía những kẻ thấp hèn nhất, những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn, những ai kính sợ Người, trung thành với Lời Người; đó là những kẻ khiêm tốn, những kẻ đói khát; đó là Israel người tôi tớ trung thành của Người; đó là cộng đồng dân Chúa, được kết thành bằng những kè nghèo hèn, trong sạch và đơn sơ trong tâm hồn, như Mẹ Maria. Lời của thánh Phaolô nhắn nhủ với tín hữu Thêxalônica xưa kia, nay ngài muốn nói với mỗi người chúng ta rằng: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” ( 1Tx 5, 16-18 ). Chúng ta cảm tạ Chúa, về ân huệ Người đã thương ban ( 1Cr 1, 3-9 ). Cảm tạ Chúa và xin Chúa thứ tha, kèm theo lòng phó thác cho Chúa năm mới sắp tới.

Cũng vào dịp cuối năm, cùng với việc tạ ơn, Đức Thánh Cha Phanxicô còn thức tỉnh con cái mình: “Chúng ta được kêu gọi kiểm điểm xem những thế sự có được thực hiện theo ý Thiên Chúa hay là chúng ta chỉ ưu tiên lắng nghe những dự án của con người, nhiều khi đầy những tư lợi, lòng khao khát quyền lực vô độ và bạo lực vô cớ” ( Bài giảng Kinh Chiều cuối năm 2015 ). Nên chúng ta phải tạ lỗi với Chúa và với mọi người nữa. Tạ lỗi để nói lên lòng sám hối, ăn năn. Tạ lỗi về những điều thiếu sót, điều gì còn chưa chu toàn, điều gì chưa tốt, hoặc lỗi bác ái với tha nhân, hay chưa biết thương xót người như Chúa đã thương xót chúng ta. Xin Chúa thương tha thứ những lỗi lầm mà chúng ta đã phạm trong năm qua. Tương lai tùy thuộc ở Chúa, chúng ta phải có tinh thần phó thác.

Nhìn lại một năm đã qua, chúng ta thấy các biến cố lần lượt diễn ra: các thảm kịch về tai nạn hàng không, những vụ khủng bố người giết người dã man hơn, niềm vui và đau khổ, chiến thắng và thất bại, đạo đức con người như đang bị suy giảm tới mức báo động trong các ngành nghề, nạn tham nhũng đã trở nên giặc nội khó diệt…

Nhìn qua mọi sự, đến giờ phút này đây, chúng ta phải khẳng định rằng Thiên Chúa là chủ lịch sử, hướng dẫn các biến cố nhân loại. Chúng ta phó thác vận mệnh tương lai cho Chúa và thưa rằng: “Lạy Chúa, chúng con đặt niềm tin tưởng nơi Chúa” !

Biết ơn là một hành vi hết sức nhân văn của con người ở mọi thời và mọi nơi. Ai càng biết ơn nhiều bao nhiêu, người đó càng trở nên người hơn bấy nhiêu. Vì thế, khi ta nhận được một ân huệ nào đó của ai, ta thường nói lời cám ơn. Người không biết cám ơn là người sống chưa trưởng thành đủ.

Chiều tối hôm nay, chúng ta quy tụ nhau tại nơi đây để cử hành Thánh lễ tất niên. Gọi là tất niên, vì đây là thời điểm kết thúc 365 ngày của năm cũ. Nhìn lại, trong suốt một năm qua, chúng ta lãnh nhận biết bao ơn lành đến từ Chúa. Vì thế, thái độ tạ ơn là điều rất chính đáng và phải đạo để dâng lên cho Chúa trong thánh lễ hôm nay.

1. Kinh Thánh dạy cho con người biết phải tạ ơn

Đọc Kinh Thánh, chúng ta thấy đây đó, rất nhiều chỗ nói về thái độ biết ơn cần phải có của con người đối với Thiên Chúa.

Chẳng hạn như trong Thánh Vịnh, chúng ta bắt gặp câu: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (x. Tv 136); hay: “Lạy Chúa, xin dâng lời cảm tạ, vì Ngài đã nghe lời miệng con xin” (x. Tv 138); và “Hãy dâng Chúa bài ca cảm tạ, gảy khúc hạc cầm mừng Thiên Chúa chúng ta” (Tv 147).

Tâm tình tạ ơn chúng ta còn tìm thấy ngay trong bài đọc I hôm nay. Tiên tri Isaia đã nhắc lại cho dân về những ân tình mà Thiên Chúa đã vì yêu thương mà ban tặng cho con người, ngài nói: “Tôi xin nhắc lại ân nghĩa Đức Chúa, dâng lời ca tụng Đức Chúa, vì tất cả những gì Đức Chúa đã thực hiện cho chúng tôi vì lòng nhân hậu lớn lao của Người đối với nhà Itraen, vì những gì Người đã thực hiện, bởi lòng Người đầy thương xót và lắm nghĩa giàu ân” (Is 63, 7).

Sang bài đọc II, thánh Phaolô cũng nhắc cho dân về tình yêu và lượng hải hà mà Thiên Chúa ban nơi Đức Giêsu. Hơn nữa, chính thánh nhân là người đã cất cao lời tạ ơn Chúa thay cho con cái của mình: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Kitô Giêsu”. Đây là hành động nêu gương cho cộng đoàn của ngài về thái độ biết ơn Chúa (x. 1 Cr 1,3-9). Thánh nhân còn mời gọi: “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh” vì “đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1 Tx 5:16-18).

Đỉnh cao của thái độ tạ ơn chính là ơn cứu chuộc. Tâm tình này đã được Giáo Hội đưa vào Kinh tiền tụng IV như sau: “Thật ra, Cha không cần chúng con ca tụng, nhưng được tạ ơn Cha lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con chẳng thêm gì cho Cha, nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời”.

Tuy nhiên, muốn tạ ơn cho xứng đáng, chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria trong bài Tin Mừng hôm nay.

2. Thái độ tạ ơn của Mẹ Maria và của chúng ta

Khi ý thức được thân phận tôi hèn nơi mình, nhưng lại được Thiên Chúa yêu thương và trao ban một ân huệ lớn lao là được trở thành Mẹ Thiên Chúa ngang qua việc cưu mang và sinh hạ Đức Giêsu. Ngay lập tức, mẹ đã coi đây là ân huệ lớn lao không chỉ cho riêng Mẹ, nhưng cho toàn thể nhân loại qua muôn ngàn thế hệ, vì thế, Mẹ đã cất lên: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”.

Lời tạ ơn này phải là lời tạ ơn kiểu mẫu cho hết mọi người ở mọi nơi. Thế nên, ngay lúc này, chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria để: Tạ ơn Chúa vì hồng ân sự sống, hồng ân Đức Tin; tạ ơn Chúa vì những điều kỳ diệu Chúa đã làm nơi mình và tha nhân; Tạ ơn Chúa vì Ngài đã cứu giúp, bênh đỡ ta khỏi muôn điều ác hại.

Như vậy, hành vi tạ ơn của chúng ta không chỉ dừng lại nơi thánh lễ hôm nay, mà nó phải kéo dài trong suốt cuộc đời của mình. Nó cũng không dừng lại ở khía cạnh nhất thời, nhưng phải liên lỉ; nó không chỉ dược cất lên lúc thuận buồm xuôi gió, lúc ăn nên làm ra, lúc thoát khỏi bệnh tật hiểm nguy…mà là trong mọi hoàn cảnh.

Vì thế, tâm tình tạ ơn không có tính thời vụ theo kiểu buôn bán, cũng chẳng phải lâm thời theo kiểu nay người mai ta, nhưng tâm tình tạ ơn phải như nhịp đập con tim, hơi thở linh hồn…

Khi tạ ơn như thế, chúng ta dễ nhận ra ơn lành của Thiên Chúa trên cuộc đời, và hơn nữa, luôn được bàn tay của Thiên Chúa phù trợ chở che.

Trong giờ phút linh thiêng huyền nhiệm này, chúng ta hãy thành khẩn xin lỗi Chúa vì biết bao lần chúng ta để cho thái độ vô ơn ngự trị trong tâm hồn. Đã biết bao lần chúng ta bị ảnh hưởng và đi đến những tuyên bố trắng trợn rằng: những gì tôi có là do công khó của tôi, do tự nhiên có, chứ đâu có bàn tay can thiệp gì của Thiên Chúa.

Đây chính là tâm tình và sứ điệp của Lời Kinh tạ ơn Magnificat mà Đức Trinh Nữ Maria đã cất lên trong bài Tin Mừng chúng ta vừa đón nghe. Amen.

Chiều hôm nay, cộng đoàn chúng ta họp nhau cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn nhân ngày Tất Niên, ngày kết thúc một năm cũ, năm Giáp Thân 365 ngày của năm cũ sắp đi qua mang theo bao nhiêu vui buồn sướng khổ, những giọt mồ hôi lẫn nước mắt, những nụ cười hoan vui lẫn xót xa cay đắng. Chúng ta xin dâng lên Thiên Chúa tất cả để hiệp cùng của lễ cực thánh là chính hiến Tế của Chúa Kitô làm thành Lời Ca Tụng Tạ Ơn tôn vinh Thiên Chúa, như chính Đức Kitô đã hiến dâng của lễ Tạ Ơn Chúa Cha là cả cuộc đời trong Hy Tế Thập Giá mà chúng ta đang tái diễn qua Thánh Lễ nầy.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta để xứng đáng cử hành Thánh Lễ.

Đã lắm phen và bằng nhiều cách, Thiên Chúa đã dạy bảo loài người chúng ta phải biết sống thái độ tạ ơn. Qua bao nhiêu bài Thánh Vịnh, thánh thi trong cựu ước chúng ta gặp không biết bao nhiêu lời tạ ơn đã được cất lên: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ

Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương (Tv 136)

Lạy Chúa xin dâng lời cảm tạ Ngài dã nghe lời miệng con xin (Tv 138)

Hãy dâng Chúa bài ca cảm tạ Gảy khúc hạc cầm mừng Thiên Chúa chúng ta (Tv 147)

Ngay trong Bài Đọc 1 hôm nay, sứ ngôn I-sa-i-a đã thay lời Thiên Chúa nói với muôn thế hệ nhân loại rằng:

Tôi xin nhắc lại ân nghĩa Chúa, dâng lời ca tụng Chúa, vì tất cả những gì Chúa thực hiện cho chúng tôi, vì lòng nhân hậu lớn lao của người đối với nhà Ít-ra-en, vì những gì Người đã thực hiện, bởi lòng Người đầy lòng thương xót và lắm nghĩa giàu ân”.

Nhưng để có một lời Tạ ơn cao cả nhất, trọn vẹn nhất phải đợi đến khi Thiên Chúa sai Con Một mình! Vâng, chỉ có người Con nhân loại và chính là Con Thiên Chúa, đã đến để dẫn dắt con người đi vào quỹ đạo của tình yêu tạ ơn, đi vào thái độ hiếu nghĩa tin yêu dành cho Thiên Chúa một cách trọn hảo qua chính cuộc đời Ngài.

1. Đức Kitô thiết lập nghĩa cử tạ ơn bằng cuộc đời vâng phục:

Nếu dân tộc của Giao ước cũ đã minh chứng niềm tin và lòng tri ân hiếu thảo đối với Thiên Chúa qua những của lễ chiên bò, hy sinh và tạ tội; thì trong trật tự của Giao Uớc Mới, của lễ tuyệt hảo nhất, lời tạ ơn trọn vẹn nhất dành cho Thiên Chúa lại chính là Con Người của Đức Kitô, là cuộc đời và toàn bộ cuộc sống của Ngài, một cuộc đời trọn vẹn vâng phục thánh ý Chúa Cha:

Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô đã nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: lạy Thiên Chúa, nầy con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con.” (Dt 10,5)

Thật vậy, Đức Kitô đã đến giữa trần gian và đã biến cả vũ trụ trở nên một “đền thờ vĩ đại” và đã qui tụ toàn nhân loại chung quanh Ngài để làm nên một cuộc “đại thờ phượng”, một cuộc tạ ơn và phụng thờ Thiên Chúa vượt qua mọi biên giới không gian, xuyên suốt mọi thời gian. Bởi vì đó là cuộc thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh Thần và Chân lý:

“Nầy chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi nầy hay tại Giê-ru-sa-lem…..Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc nầy đây – giờ những người thờ phượng đích thức sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.” (Ga 4,21-24)

Qua những chỉ dẫn của Tin Mừng, chúng ta còn biết được rằng: thái độ tạ ơn, tâm tình tri ân cảm tạ lại chính là thái độ cốt yếu của tinh thần “Tám mối Phúc thật”, tinh thần “nghèo khó, khiêm hạ, yêu thương…”, tinh thần luôn biết đưa tay hướng mắt về phía Thiên Chúa với niềm tin yêu phó thác của những con người như Bà Góa bị loạn huyết 18 năm xứ Canaan, của người phung hủi ngoại bang được chữa lành, của viên sĩ quan có người tôi tớ đau nặng, của người đàn bà tội lỗi khóc lóc ăn năn, của những người thu thuế bị loại trừ như Gia-kê, Lê-vi, của các trẻ thơ xúm quanh để chờ được chúc lành hay của người kẻ trộm sắp sửa đi về bên kia thế giới với hy vọng sẽ được cứu độ trong Vương quốc phục sinh…

Rồi cũng chúng ta cũng biết được rằng: trên môi miệng của Đức Kitô luôn vang lên lời tri ân cảm tạ: “Lạy Cha, con tạ ơn Cha, vì Cha đã dấu…”

Và còn hơn thế nữa Ngài đã tạ ơn bằng chính 1 cuộc đời vâng phục mà chỉ trọn vẹn khi Ngài nói lời “Con phó thác hồn con trong tay Cha”. Đó chính là lời tạ ơn trọn hảo nhất bằng Hy Tế Thập Giá mà hôm nay trên mọi bàn thờ chúng ta đang tái diễn mỗi ngày.

2. Đức Trinh Nữ Maria và lời Tạ Ơn Magnificat:

Cảm tạ hồng ân của Thiên Chúa trong Đức Kitô, nhờ Đức Kitô và với Đức Kitô chính là con đường đức tin của Dân Chúa hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Và may mắn thay, trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại suốt 2000 năm nay, đã có một “bài ca tạ ơn”, đã có một “cuộc đời tạ ơn” theo cung cách ấy. Đó chính là bài ca “Magnificat”, đó chính là “cuộc đời của Trinh nữ Maria”. Quả thật cuộc đời của Đức Mẹ được phản ảnh qua bài Magnificat mà Tin Mừng hôm nay vừa nhắc đến là mô hình sống động, là mẫu gương sáng ngời để nhân loại bước đi trong “con đường tạ ơn” Thiên Chúa, trên nẽo đường đáp trả hồng ân.

– Tạ ơn: trước hết là như Đức Maria dâng lên lời ngợi khen Thiên Chúa và hân hoan vì hồng ân cứu độ Ngài đã ân ban: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa….”

– Tạ ơn: phải chăng như Đức Maria nhận ra “những việc lạ lùng Thiên Chúa đã thực hiện nơi tôi”.

– Tạ ơn phải chăng như Đức Maria luôn biết nhận ra bàn tay Thiên Chúa đưa ra nâng đỡ thân phận yếu hèn, lòng quảng đại Chúa mở ra để ban cho dư đầy ơn phúc.

-Tạ ơn phải chăng là luôn xác tín mãnh liệt và đầy lòng trông cậy vững vàng trước lời hứa và kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa: “Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta. Vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời”.

Và Mẹ đã hoàn tất lời tạ ơn tuyệt diệu đó vào Chiều Thứ Sáu trên đồi Can-vê khi Mẹ thay cho nhân loại dâng hiến lễ Tạ Ơn đầu tiên cùng với Con yêu dấu trên bàn thờ Thánh Giá.

3. Sống chiều kích Tạ Ơn trong nhỏ nhặt đời thường:

Qua lời kinh Tạ Ơn Magnificat của Đức Maria, và nhất là, qua cuộc đời đã trở nên Hy Tế TẠ Ơn của chính Đức Kitô, chúng ta cảm nhận được rằng:

– Thái độ Tạ Ơn, cuộc sống Tạ Ơn không chỉ là một hành vi mang tính “thời sự’, “cơ hội” đột xuất (như được khỏi cơn bệnh hiểm nghèo, thoát qua cơn hoạn nạn, tránh được hiểm nguy, làm ăn buôn bán trúng mánh, trúng số độc đắc…), nhưng “Tạ Ơn” phải là một thái độ, một nhịp sống, một cử hành thường xuyên, từng phút giây, mọi biến cố, trên mọi nẽo đường cuộc sống. Đó chính là cách ứng xử mà mấy ngàn năm trước, ông thánh Gióp đã từng nêu gương: “Chúa cho, Chúa cất lấy, xin cảm tạ ơn Chúa!”. Dĩ nhiên, có những thời điểm, có những biến cố dễ gợi mở tâm tình chúng ta hướng về Thiên Chúa trong thái độ tạ ơn đặc biệt…Nhưng không phải, chỉ tạ ơn trong những hoàn cảnh, những thời điểm đặc biệt thôi, còn ngoài ra thì “bàn tay ta làm nên tất cả”, có nhờ vả ai đâu, có khấn xin gì nào mà phải tạ ơn cám ơn…

– Bởi vì, chính khi chúng ta cử hành cuộc sống trong thái độ tạ ơn, chúng ta sẽ thấy cuộc đời mình nhỏ lại, khiêm hạ hơn, khó nghèo hơn, trái tim kiêu căng hợm hĩnh sẽ được biến đổi để trở nên nhỏ bé hiền lành, và từ đó con mắt tâm hồn sẽ khám phá ra muôn vạn hồng ân của Cha trên trời vây bọc xung quanh. Ngày hôm nay, hơn lúc nào hết, cái nảo trạng ‘đương nhiên” của chủ nghĩa duy vật vô thần đang âm thầm hay mãnh liệt len lỏi vào mọi ngỏ ngách của cuộc sống. Vì đã lý luận như thế: “đương nhiên trái cấm nầy thuộc về tôi, địa đàng nầy là của tôi, tôi cóc cần Thiên Chúa với những luật lệ của Ngài…” mà A-đam và E-Va đã đẩy nhân loại vào vũng lầy nguyên tội. Cũng vì lý luận như thế: tôi khỏi phung cùi chắc là do số phận run rủi, là tới lúc phải được như thế, chứ ông Giêsu nào có can thiệp gì đâu… nên chín người phung cùi được khỏi bệnh đã không thèm trở lại tạ ơn Chúa Giêsu! Còn chúng ta hôm nay thì sao. Có thấy được “phép lạ tình yêu của Thiên Chúa” ghi dấu ấn trên đời thường cuộc sống mỗi ngày để ngước mắt tạ ơn, hay chỉ là những thở dài oán trách Chúa vì đã van xin bao điều mà sao vẫn cứ hoài vô vọng. Có thấy bàn tay quan phòng của Thiên Chúa tế nhị ấp yêu trên mọi biến cố cuộc đời để cảm tạ tri ân, hay chỉ thấy mọi sự là “đương nhiên” để cóc cần phải tính sổ với Thiên Chúa.

Trong giờ phút thiêng liêng khi trời đất sắp sửa giao mùa, chúng ta có dịp ngồi lại với nhau trước mặt Chúa để nhờ ánh sáng của Lời Ngài mà nhìn lại cuộc sống, mà cảm nhận muôn vạn hồng ân Chúa đã ân ban trong suốt một năm. Và điều quan trọng hơn hết, phải chăng là chúng ta được cùng với Đức Kitô dâng Hy Tế Tạ Ơn nầy như một nghĩa cử của lòng hiếu thảo mến yêu, của tâm tình tri ân cảm mến; và cũng chính qua sứ điệp của lời kinh tạ ơn Magnificat của Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta được gọi mời từ hôm nay, biết mở lòng đón nhận và khám phá muôn điều kỳ diệu Chúa đã làm, để từ đó biến cuộc sống trở thành “Lời ca khen cảm tạ Magnificat”:

Lm.Tổng linh hướng GĐPTTTCG

Suy niệm Tin Mừng (Lc 17, 11-19)

– Lược ghi: Pet. Minh Sơn – Tư liệu: Jos. Hoàng Mạnh Hùng

Trong đời sống cá nhân hoặc trong mỗi gia đình cũng thế, những gì chúng ta có được là do tình yêu thương của Thiên Chúa. Chúng ta làm được chút gì đó chỉ là nhỏ bé thôi, còn mọi sự là do Chúa. Tâm tình khiêm tốn đó sẽ giúp chúng ta luôn nhớ và biết tạ ơn Chúa, giúp chúng ta thành con cái đích thực của Thiên Chúa.

Bổn phận của chúng ta là phải biết tạ ơn Thiên Chúa, đó là tâm tình không thể thiếu được trong cuộc sống con người. Bởi lẽ Thiên Chúa không tạo dựng thì chẳng có chúng ta. Chúa ban sự sống và cả vũ trụ này cho chúng ta thừa hưởng. Đó chính là tất cả tình thương của Thiên Chúa, và có thể nói tất cả những gì chúng ta có được đều từ nguồn sống của Thiên Chúa. Thế nhưng, nhận ra điều này và tỏ lòng biết ơn Chúa thì loài người chúng ta rất thiếu sót, nếu không muốn nói rằng thật là vô ơn bạc nghĩa đối với Thiên Chúa; bởi vì chúng ta được Chúa ban cho, nhưng rất ít khi có tâm tình biết tạ ơn. Hình ảnh trong bài Tin Mừng hôm nay chứng minh cho chúng ta thấy, mười người phong cùi được chữa lành nhưng chỉ có một người biết quay về tạ ơn Chúa.

Đối với Chúa Giêsu, Người không có sự tránh né. Đến lượt người phong hủi cần Chúa thì Người đã chạm tay chữa lành cho họ, bất chấp cả lề luật. Chúa chỉ nói một câu đơn giản: “Hãy đi trình diện với các tư tế” (Lc 17, 14). Trình diện với tư tế để được chứng nhận là đã lành sạch, khỏi bị ô uế, và được tái nhập vào cộng đoàn. Theo cách nói ngày nay là khỏi bị “rút phép thông công”, mà được hiệp thông với cộng đoàn.

Với mười người phong hủi sau khi được chửa khỏi bệnh, coi như mình là người đã chết mà nay được sống lại, dĩ nhiên điều đáng làm trước tiên là họ phải biết tạ ơn người đã chữa lành cho mình. Thế nhưng, chỉ có một trong số mười người quay trở lại để tạ ơn, mà đó lại là người Samari. Theo Kinh Thánh, người Samari là dân ngoại. Có lẽ vì lý do sâu xa là dân ngoại thì đâu có tư tế để đi trình diện, nên chỉ biết quay về với Chúa thôi; còn chín ông kia là dân Do Thái nên chỉ biết vâng lời Chúa dạy, có thể sau khi đi gặp tư tế phải lo nhiều thủ tục nghi thức mất thời gian, hoặc được về sum họp gia đình thì quá mừng vui bận rộn không còn thời giờ quay lại tạ ơn, thậm chí quên đi cả việc tạ ơn Thiên Chúa, hay có thể là muốn quay lại nhưng chẳng biết có gặp được Chúa hay không!

Rất nhiều lần trong cuộc sống của chúng ta bắt gặp điều này. Khi chúng ta đi khám chữa bệnh, luôn cầu xin Chúa ban cho điều này điều kia. Đến lúc được Chúa nhậm lời ban cho khỏi bệnh thì mình cũng là người chậm tạ ơn, lâu dần rồi thành quên luôn, vì bận bịu như chín người đi gặp tư tế. Đôi khi chính vì hình thức luật lệ đã làm cho chúng ta quên mất nghĩa tình đối với Chúa, quên đi bổn phận phải tạ ơn Thiên Chúa. Trong khi người Samari vì là dân ngoại nên không bị ràng buộc chi phối vì lề luật của người Do Thái, thì việc đầu tiên của anh ta là quay lại để tạ ơn. Hi vọng cuộc sống của mỗi người chúng ta có thể nhập vai những người phong hủi này để rút ra được bài học cho riêng mình đối với Thiên Chúa.

Cách riêng về hội đoàn Gia đình Phạt tạ Thánh Tâm trong giáo hạt, năm qua đã phát triển được hai xứ đoàn. Đó là một điều mà nhìn lại như trong mơ, vì điều mơ ước mà ai cũng mong muốn làm sao cho các giáo xứ đều có đoàn thể Phạt tạ. Chúa đã ban cho ước mơ này trở thành hiện thực, vì lẽ chúng ta sống khiêm nhường và hiền lành theo tinh thần của Chúa Giêsu và được Chúa đã nhậm lời chúng ta cầu xin.

Chúa đã ban cho chúng ta rồi, nhưng điều quan trọng cần lưu ý là nhiều khi chúng ta lo làm về hình thức mà quên cân đối tổ chức, quên đi tinh thần hiền lành khiêm nhường phục vụ, quên mất tâm tình tạ ơn. Muốn tạ ơn thì phải có sự khiêm tốn và hiền lành, bởi vì khi đạt được nhiều thành công quá sẽ trở nên ỷ lại vào sức mình, sinh ra kiêu căng ngạo mạn, cho mình là hay; lúc đó còn đâu tinh thần của Chúa để được chúc lành.

Những thành công hôm nay nơi xứ đoàn mình hay giáo hạt mình chỉ là công sức đóng góp nho nhỏ của chúng ta đối với Chúa, còn tất cả là của Chúa. Chúng ta nên luôn luôn sống thiết thực trong tâm tình tạ ơn, mọi của cải không phải của mình mà là của Chúa. Luôn sống đẹp lòng Chúa thì Chúa sẽ chúc lành cho công việc chúng ta. Mỗi xứ đoàn trong giáo hạt đều phải cần xây dựng tâm tình là tất cả những gì chúng ta làm được đều là của Chúa, qua đó chúng ta sẽ nói được rằng: “Chúng con chỉ là những đầy tớ vô dụng, chúng con chỉ làm việc theo bổn phận đấy thôi” (Lc 17, 10).

Trong đời sống cá nhân hoặc trong mỗi gia đình cũng thế, những gì chúng ta có được là do tình yêu thương của Thiên Chúa. Chúng ta làm được chút gì đó chỉ là nhỏ bé thôi, còn mọi sự là do Chúa. Tâm tình khiêm tốn đó sẽ giúp chúng ta luôn nhớ và biết tạ ơn Chúa, giúp chúng ta thành con cái đích thực của Thiên Chúa. Đứng trước sự vong ân bội nghĩa của loài người, những đoàn viên Gia đình Phạt tạ Thánh Tâm Chúa sẽ trở thành những người luôn luôn biết xác tín tạ ơn Chúa, bằng những tâm tình yêu thương trong cử chỉ, lời nói, việc làm của chúng ta, để bù lại sự thiếu sót mà nhân loại đã lãng quên trước tình yêu bao la của Thánh Tâm Chúa dành cho mọi người.

Thánh lễ tạ ơn hôm nay là để nhắc nhở và cũng là dịp để chúng ta hiệp thông dâng lên Chúa tâm tình tạ ơn, đền bù phạt tạ; vì những thiếu sót mà nhân loại đã quên đi bổn phận cảm tạ, trước những hồng ân Chúa đã thương ban trong suốt năm qua./-

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng hạt giống và hạt cải làm ví dụ để nói về Nước Thiên Chúa.

Nước Thiên Chúa được thiết lập giống hệt như một tiến trình gieo gặt trọn vẹn: từ hạt giống, hạt nẩy sinh thành cây, rồi thành bông lúc. Như người dân Palestina, sau khi gieo hạt giống, họ âm thầm chờ đợi lúa chín để gặt hái, chứ không hề biết hạt giống được gieo xuống đất đã phát triển như thế nào: Chúa Giêsu cũng gieo hạt giống Nước Trời nơi tấm lòng con người, cùng với ơn Chúa, Nước đó âm thầm phát triển lan rộng khắp thế giới, tạo nên mùa gặt các linh hồn. Chúa Giêsu chỉ đích thân có mặt trong mùa gieo giống và mùa gặt hái. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian chờ đợi, Ngài vẫn tiếp tục hoạt động một cách vô hình, qua Chúa Thánh Thần và Giáo Hội. Khi Nước Thiên Chúa đã phát triển đến mức tối đo, Ngài sẽ trở lại trong vinh quang, thu hoạch mùa gặt của Ngài.

Dụ ngôn hạt cải là dụ ngôn cuối cùng trong năm dụ ngôn về Nước Thiên Chúa. Cũng như các dụ ngôn trước, dụ ngôn này được rút ra từ đời sống thôn dã. Nó đưa ra một nét tương phản hấp dẫn: hạt cải nhỏ xíu trở thành một cây to lớn. Nước Thiên Chúa cũng mang nơi mình một nghịch lý tương tự: Dưới cái nhìn của thánh Marcô, dụ ngôn hạt cải chứa đựng cách diễn tả tuyệt vời về bí mật Mêsia. Cho đến lúc này, hành vi của Chúa Giêsu có thể bị coi là vô nghĩa và Nước Thiên Chúa vẫn chỉ là một thực tế khiêm tốn. Dù vậy, các dân ngoại đang nhìn thấy sự tăng trưởng dị thường của nó như các Kitô hữu ở Rôma đã kinh nghiệm được điều này. Chính Giáo Hội tiên khởi, dù yếu đuối, vẫn ý thức được mình đang tham dự vào sự thành công của một công trình đã sẵn tiềm tàng nguồn sinh lực vô biên, công trình này sẽ đạt tới mức hoàn vũ vào cuối giai đoạn phát triển của nó.

Hạt giống đã trải qua một quá trình phát triển âm thầm trước khi tới mùa gặt; hạt cải được trồng dưới đất cũng phải trải qua một quá trình cho đến khi trở thành một cây lớn. Trong những bổn phận dù âm thầm hằng ngày, chúng ta hãy tin tưởng phó thác cho quyền năng yêu thương của Chúa, chính Ngài sẽ làm cho công việc chúng ta thực hiện theo ý Chúa đạt tới kết quả vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta, và như vậy chúng ta sẽ làm ích cho chính bản thân, cho tha nhân và cho Nước Chúa. Xin Chúa củng cố chúng ta trong niềm xác tín đó.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Người nói: “Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nảy mầm và mọc lên, bắng cách nào thì người ấy không biết.” (Mc. 4. 26-27)

“Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như …”, Chúa Kitô nói với chúng ta như vậy mà, …

Ta hãy kiên nhẫn và tin tưởng!

Chúa còn kể dụ ngôn thứ hai, dụ ngôn hạt cải, để ta thêm vững lòng. Thực vậy, Chúa đặt đối chọi nhau hai sự thể: một bên là cái mong manh bé nhỏ, bên kia lại là những kết quả to lớn đạt được. “Cây cải mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng”.

Chúng ta không thường sống sự tương phản này sao, sự tương phản giữa một bên là những dấu chỉ mong manh, còn bên kia là những kết quả to lớn đạt được? Tất cả đời sống bí tích chỉ là việc xử dụng một loại hạt giống nhỏ nhất để rồi hạt giống đó trở thành một dấu chỉ sinh ân sủng vô vàn của Chúa.

Chỉ có ai yêu mến mới hiểu được

Sau cùng, những dụ ngôn này kết thúc với lời ghi nhận rằng khi chỉ có thầy trò với nhau, thì Chúa Giêsu giải nghĩa hết cho các Tông đồ. Sự gắn bó, gần gũi với Chúa giúp ta tiến tới Người vượt xa mức bình thường mà quần chúng có thể tiếp cận được, bởi vì xét cho cùng người ta chỉ có thể hiểu biết rõ được một người khi ta yêu mến người đó.

Sau khi kể lại một loạt dụ ngôn mà Đức Giê-su đã dùng trong lời giảng của mình, dụ ngôn người gieo giống, dụ ngôn cái đèn, dụ ngôn đấu đong, dụ ngôn hạt giống và dụ ngôn hạt cải, thánh sử Mác-cô kết luận:

Người không bao giờ nói với họ mà không dùng dụ ngôn.

Câu nói này của thánh Mác-cô rất là triệt để và chúng ta cần lưu tâm cách đặc biệt; bởi lẽ theo đó, dụ ngôn không chỉ là một trong những cách thức giảng dạy của Đức Giê-su, nhưng còn là chính cách thức giảng dạy của Người; hay ít nhất chúng ta có thể nói rằng, một mình cách giảng dạy bằng dụ ngôn đủ để diễn tả toàn bộ lời giảng của Đức Giê-su. Một nhà chú giải còn đi xa hơn khi nói rằng, Đức Giêsu là “Dụ Ngôn của Thiên Chúa” cho con người. Trong bài tin Mừng hôm nay, thánh sử Mác-cô, trong bài Tin Mừng hôm nay còn nói:

Nhưng khi chỉ có thầy trò với nhau, thì Ngài giải thích hết.

Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về sự khó hiểu của các dụ ngôn, cũng giống như các môn đệ xưa; và vì thế chúng ta cảm thấy có nhu cầu học hỏi. Đúng là phải học, nhưng điều này vẫn chưa đủ, thậm chí không phải là yếu tố quyết định; bởi lẽ lời Chúa hôm nay muốn nói với chúng ta rằng chúng ta cần ở lại với Đức Giê-su (thay vì thấy khó rồi bỏ đi), im lặng lắng nghe chính Ngài giải thích. Chính tương quan thiết thân với Đức Kitô, và sự hiểu biết Đức Kitô mà thánh Phaolô nói tới trong thư Phi-líp-phê mới là quyết định để hiểu các dụ ngôn: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi” (Phil 3, 8)

Những dụ ngôn mà Đức Giêsu kể luôn là một câu chuyện đến từ kinh nghiệm đời thường và từ thiên nhiên. Nhưng các dụ ngôn lại nói cho chúng ta những điều kín ẩn: kín ẩn về Thiên Chúa, kín ẩn về con người, kín ẩn về mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người và giữa con người với nhau, kín ẩn về chương trình cứu độ của Thiên Chúa, kín ẩn về Nước Trời. Chúng ta được mời gọi nhớ lại bao nhiêu có thể những dụ ngôn mà Đức Giêsu đã kể trong các Tin Mừng và xin Chúa dẫn chúng ta vào “những điều kín ẩn” ở bên dưới các dụ ngôn, như thánh sử Mát-thêu nói:

Tất cả các điều ấy, Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà nói với đám đông; và Người không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn, hầu ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ: Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa.

Dụ ngôn hạt giống và hạt cải

Khi nói đến Nước Thiên Chúa, chúng ta thường nghĩ ngay đến năng lực của con người: con người yếu đuối, tội lỗi, bất lực; thế giới và xã hội chúng ta đang sống đầy hỗn mang, lệch lạc, ô nhiễm… Nhưng, để giúp chúng ta hiểu mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, lời của Đức Giêsu lại mời gọi chúng ta chiêm ngắm năng lực của thiên nhiên, đúng hơn là năng lực của một trong những điều nhỏ bé nhất của thiên nhiên, để nhận ra điều kì diệu vượt qua mọi nỗ lực của con người: “

Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất… Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất.

Đó là năng lực của hạt lúa, đó là năng lực của hạt cải. Đúng là trong hai dụ ngôn nhỏ này, Đức Giê-su hình như xem nhẹ công sức của con người. Tuy nhiên, đó lại là sự thật của muôn đời: dù con người có cố mấy đi nữa cũng không thể thay thế được sức sống của thiên nhiên, dù hiểu biết khoa học của con người có tiến bộ mấy đi nữa cũng không thấu hiểu được thiên nhiên, nhất là sự sống trong thiên nhiên. Nhưng xét cho cùng, với những dụ ngôn này, Đức Giêsu không muốn dạy chúng ta về thế giới thực vật, nhưng Ngài mời gọi chúng ta hãy chiêm ngắm thiên nhiên để cảm nghiệm được năng lực ẩn dấu nhưng thật mạnh mẽ và kì diệu của Nước Thiên Chúa, của Hạt Giống Giê-su, ngang qua mầu nhiệm Vượt Qua, nẩy mầm, thành cây, trỗ đòng đòng và thành “bông lúa nặng trĩu hạt”.

Thật vậy, hai dụ ngôn hạt giống và hạt cải thật nhỏ bé và rất tự nhiên (nghĩa là không có những yếu tố “lạ thường” mà các dụ ngôn thường có), nhỏ bé và tự nhiên như chính hình thức (rất ngắn) và nội dung của dụ ngôn (hạt giống và hạt cải nhỏ bé khiêm tốn). Tuy nhiên, niềm hy vọng mà hai dụ ngôn này có thể khơi dậy nơi tâm hồn người nghe thì rất to lớn và rất siêu nhiên:

Niềm hy vọng to lớn. Bất chấp tất cả, bất chấp Sự Dữ, bất chấp những hoàn cảnh khó khăn hay bất lợi, bất chấp những giới hạn, yếu đuối, tội lỗi của loài người, của người khác, của anh em, của chị em và của chính chúng ta, bất chấp hạt giống rất nhỏ bé mong manh đang có trong thế giới, trong cộng đoàn và trong lòng chúng ta, Nước Trời mà chúng ta hy sinh cả đời để xây dựng trong đời sống dâng hiến, tất yếu sẽ hiện hữu, lớn mạnh và đạt tới sự viên mãn. Hình ảnh đồng lúa trĩu hạt và chín vàng và hình ảnh cây cải cành lá sum suê đến độ chim trời làm tổ trên cành được diễn tả sự viên mãn tất yếu của NT.

Niềm hy vọng siêu nhiên. Bởi vì đó chỉ có thể là công trình của Thiên Chúa, công trình kì diệu diễn ra trước mắt chúng ta. Thật ra, ngay trong tiến trình lớn lên tự nhiên của hạt lúa và hạt hạt cải đã có điều gì đó là siêu nhiên rồi, trong mức độ con người không thấu suốt và làm chủ được hoàn toàn.

Điều mà hai dụ ngôn này muốn diễn tả, đang được thực hiện cho cộng đoàn chúng ta, cho từng người chúng ta mỗi ngày ngang qua việc đọc và cầu nguyện với Lời Chúa, ngang qua Thánh Lễ được cử hành và ngang qua ngày sống được nuôi dưỡng bằng Lời và Mình của chính Đức Ki-tô. Từng ngày và từng ngày, dù bất cứ điều gì đã xẩy ra trong nội tâm của chúng ta, tất cả chúng ta, từng người và cả cộng đoàn, đã được Chúa gieo hạt giống. Hạt giống thật nhỏ bé và mong manh, nhưng tất yếu sẽ tạo nên mùa màng bội thu và trở nên to lớn và bền vững. Bởi vì đó là sức mạnh tất yếu của Lời Chúa. Hạt giống chính là Lời Chúa. Như chính Đức Chúa đã tuyên bố:

Lời TA, một khi xuất phát từ miệng ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.

Trong bữa tiệc li, theo Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu nói: ” Anh em là bạn của Thầy ” và ” Không có ai có tình yêu lớn hơn người từ bỏ sự sống cho những người bạn của mình ” (Ga 15, 13-14). Qua hành vi trao bánh và rượu cho các môn đệ, qua hành vi rửa chân của các ông, Đức Giêsu muốn Phê-rô và tất cả chúng ta hiểu ra rằng Ngài không chỉ muốn gieo Lời của Ngài, nhưng còn muốn gieo chính bản thân của Ngài. Vì Lời của Ngài và Ngôi Vị của Ngài là một. Hạt giống là chính Đức Giê-su, là Sự Thiện và Sự Sống nơi Người, mạnh hơn Sự Dữ và Sự Chết, chính vì vậy mà sự viên mãn của Nước Trời là tất yếu.

Trong thiên nhiên, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa được ghi khắc, và không chỉ mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, nhưng đỉnh cao của mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, nghĩa là mầu nhiệm Vượt Qua, cũng được khi khắc trong thiên nhiên, khi Đức Giêsu nói:

Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.

Đức Giê-su ví lời của mình và chính bản thân mình với hạt giống. Như thế, trong thiên nhiên, còn ghi khắc mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Và nếu trong thiên nhiên, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa và mầu nhiệm Vượt Qua được ghi khắc thật rõ nét, thì trong lịch sử loài người, trong thế giới và xã hội chúng ta đang sống và trong chính cuộc đời của mỗi người chúng ta, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa và mầu nhiệm Vượt Qua còn được ghi khắc rõ nét hơn biết bao. Có thể nói, cuộc đời của chúng ta như thế đó cũng là một dụ ngôn nói về Nước Thiên Chúa, về mầu nhiệm Vượt Qua.

Xin cho con tim chúng ta bừng cháy, khi nhận ra “điều kín ẩn” này và quảng đại mở lòng ra để cho Chúa Thánh Thần hoàn tất mầu nhiệm Nước Thiên Chúa và mầu nhiệm Vượt Qua nơi cuộc đời của chúng ta.

Bài hát “Nhật Ký Đời Tôi” của nhạc sĩ Thanh Sơn có đoạn nói về phút chạnh lòng nhìn lại cuộc đời: “Ngược thời gian trở về quá khứ phút giây chạnh lòng. Bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu ân tình chỉ còn lại con số 0. Ai thương ai rồi và ai quên nhau rồi? Trong suốt cuộc đời tương lai trả lời thôi…”

Trong bối cảnh của ngày cuối năm Âm Lịch, chúng ta cũng có dịp nhìn lại suốt một năm qua với bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu ân tình, giờ còn lại điều gì? Chúng ta đã thương ai và đã quên ai, chúng ta đã làm được gì cho Chúa và cho nhau… Hay tất cả chỉ còn là con số không?

Xuất xứ của lời kinh Magnificat cho đến nay vẫn chưa hết những tranh luận của nhiều nhà thần học, nhưng dựa theo chính những lời được thốt ra trong lời kinh “Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” mà đặc ân “đầy ơn phúc” lúc này chỉ có nơi Mẹ Maria và được khẳng định qua sứ thần Gabriel cũng như của bà Elisabeth, nên ta không nghi ngờ gì nữa mà chắc chắn lời kinh này được hát lên từ môi miệng Mẹ Maria, ca ngợi lòng thương xót của Chúa đã thực hiện lời hứa cứu chuộc dân Người. Tuy lời kinh hoạ lại tâm tình của bà Anna mẹ của Samuel (x. 1Sm 2, 1- 10) cùng với những chắt lọc ý nguyện của các lời kinh Cựu Ước đương thời, nhưng quan trọng hơn cả là được đọc trong một tâm tình của một người nữ tỳ được chọn làm Mẹ Thiên Chúa và cộng tác trực tiếp trong chương trình cứu độ.

Kinh Magnificat được khởi đầu bằng niềm vui của một con người được cứu độ (x. Lc 1, 47), kế đến nói lên lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho những ai hèn mọn (x. Lc 1, 48- 53) . Đặc biệt, điều được nói đến nhiều nhất là sự đối nghịch giữa thế lực giàu và người nghèo bị áp bức, và Thiên Chúa đã yêu thương cứu giúp người nghèo khó khiêm hạ.

Có thể nói, Mẹ Maria đã cất lên bài ca của những người bị áp bức, mà trong đó Mẹ và bà Elisabeth diễn tả mối bận tâm của mình dành cho dân Israel. Mẹ Maria đã nhận vào trong con người của Mẹ một cảm thức và mối bận tâm của bà Anna sau khi bà này sinh hạ Samuel, và ca ngợi về tất cả những điều này vào trong một bài ca biết ơn. Luca giữ lấy cảm thức này cho chúng ta trong kinh Magnificat mà ngài đặt như là một lời dẫn cho việc công bố của Đức Giêsu về sứ mạng của Người là giải phóng người nghèo và những kẻ bị bỏ rơi (Lc 4, 18- 19).

Cụm từ “tapeinoi” hoặc “anawim” theo ngôn ngữ Hy Lạp muốn nói về một người nghèo bình thường, không quyền hành, không ảnh hưởng. Khi hát lên lời này, Đức Maria như muốn tuyên bố, Thiên Chúa không đánh giá con người theo tiêu chuẩn trần thế. Những con người thành đạt, giàu sang và leo lên đỉnh cao quyền lực, có lẽ sẽ làm cho mọi người kính nể và sợ sệt, nhưng đối với Thiên Chúa thì không. Giàu sang và quyền lực trần thế chỉ là thứ chóng qua như “con người chóng qua như cỏ”. Thiên Chúa chú tâm đến người góa bụa, trẻ mồ côi, người hèn mọn, những con người không có chút quyền hành gì, những con người vô tích sự trước mắt người đời. Kẻ giàu sang quyền thế thường thoả mãn về mình; người nghèo hèn chỉ trông cậy vào Thiên Chúa. Kinh Magnificat là tuyên ngôn: Thiên Chúa là Thiên Chúa của người nghèo và người bị áp bức; phúc cho người nghèo vì có Thiên Chúa là Đấng luôn chăm sóc họ. Mẹ Maria là mẫu gương sự nghèo khó và lời kinh Magnificat mà Mẹ hát lên phản ánh việc Mẹ đứng về phía những người bị áp bức. Điều này làm cho lời kinh này mang một tính cách mạng vĩ đại: cần phải thay đổi vị trí xã hội để mọi người được bình đẳng trước mặt Thiên Chúa.

Kính mời Mẹ cùng vào nhà chúng ta, cùng đến gia đình chúng ta để cùng “ăn tất niên” và ca ngợi Thiên Chúa với chúng ta.

Một năm với tháng ngày dần trôi, giờ chúng ta đang sống là thời khắc cuối cùng của năm cũ 2016, và chuẩn bị bước vào năm mới 2017, thời khắc thật linh thiêng. Vào dịp tạ ơn cuối năm, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các tín hữu cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa vì những hồng ân đã nhận lãnh trong năm qua, đồng thời xét mình và kiểm điểm những gì xảy ra trong năm 2016. Ngài nói : “Giờ này đây, chúng ta cần đặc biệt tập trung vào những dấu chỉ Thiên Chúa đã ban, để cảm nghiệm cụ thể sức mạnh tình yêu thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta không thể quên bao nhiêu ngày ghi đậm bạo lực, chết chóc, đau thương khôn tả của bao người vô tội, những người tị nạn buộc lòng phải rời bỏ quê hương, những con người nam nữ và trẻ em không còn gia cư nhất định, thiếu lương thực và kế sinh nhai. Dầu vậy cũng có bao nhiêu cử chỉ tốt lành, yêu thương và liên đới diễn ra trong những ngày tháng của năm cũ, mà không được các bản tin tức nói tới! Không thể để cho quyền lực sự ác che khuất những dấu chỉ tình thương ấy. Sự thiện luôn chiến thắng, cho dù có lúc sự thiện xem ra yếu ớt và âm thầm” (Bài giảng Kinh Chiều cuối năm 2015). Vì thế chúng ta phải dâng lời cảm tạ Chúa.

Một năm sắp kết thúc, người kitô hữu chúng ta dựa trên Thánh Kinh thấy thời gian không mang tính tuần hoàn mà là một đường thẳng: thời gian là con đường dẫn đến chung cuộc, nên một năm trôi qua là một bước đi hướng đến sự hoàn tất của lịch sử, đến cứu cánh của nhân loại là hy vọng và vui mừng được gặp Chúa, thì việc tạ ơn này thật là ý nghĩa.

Trong giờ phút linh thiêng này chúng ta dâng lời tạ ơn Chúa. Bởi lẽ, tạ ơn là thái độ căn bản của người Kitô hữu đối với Thiên Chúa, Isaia dạy chúng ta phải dâng lời ca tụng Chúa, “vì tất cả những gì Đức Chúa đã thực hiện cho chúng tôi vì lòng nhân hậu lớn lao của Người… bởi lòng Người đầy thương xót và lắm nghĩa giầu ân” (Is 63,7). Thật phù hợp với Năm Thánh Lòng Thương Xót chúng ta đang sống. Thánh Phaolô viết : “Chúc tụng Thiên Chúa, là thân phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Giêsu Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần” (Ep 1,3). Thánh Gioan khẳng định : “Mọi vật đều do Người làm nên và không có Người, thì chẳng vật chi được tác thành” (Ga 1,3) Như vậy, đứng trước một Thiên Chúa cao cả và quyền năng, đã ban cho chúng ta tất cả, việc tạ ơn Chúa là việc cần thiết và chính đáng.

Thật là đẹp, khi giờ đây chúng ta đồng thanh hiệp ý với Mẹ Maria ca tụng những điều kỳ diệu của Thiên Chúa đã và còn đang thể hiện trong lịch sử : Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, vì Người đã và còn đang biểu lộ quyền năng của Ngài… đã và còn đang làm tan rã những kẻ kiêu căng… đã và còn đang hạ xuống người quyền thế… đã và còn đang nâng dậy kẻ khiêm cung… đã và còn đang ban tràn đầy ơn lành cho người đói khát… đã và còn đang đuổi người giàu có ra về tay không… đã và còn đang cứu giúp Israel Dân Người. Ðó là bảy hành động của Thiên Chúa là Chúa của lịch sử: Người luôn đứng về phía những kẻ thấp hèn nhất, những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn, những ai kính sợ Người, trung thành với Lời Người; đó là những kẻ khiêm tốn, những kẻ đói khát; đó là Israel người tôi tớ trung thành của Người; đó là cộng đồng dân Chúa, được kết thành bằng những kè nghèo hèn, trong sạch và đơn sơ trong tâm hồn, như Mẹ Maria. Lời của thánh Phaolô nhắn nhủ với tín hữu Thêxalônica xưa kia, nay ngài muốn nói với mỗi người chúng ta rằng: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1 Tx 5, 16-18). Chúng ta cảm tạ Chúa, về ân huệ Người đã thương ban (1Cr 1, 3-9). Cảm tạ Chúa và xin Chúa thứ tha, kèm theo lòng phó thác cho Chúa năm mới sắp tới.

Cũng vào dịp cuối năm, cùng với việc tạ ơn, Đức Thánh Cha Phanxicô còn thức tỉnh con cái mình : “Chúng ta được kêu gọi kiểm điểm xem những thế sự có được thực hiện theo ý Thiên Chúa hay là chúng ta chỉ ưu tiên lắng nghe những dự án của con người, nhiều khi đầy những tư lợi, lòng khao khát quyền lực vô độ và bạo lực vô cớ” (Bài giảng Kinh Chiều cuối năm 2015). Nên chúng ta phải tạ lỗi với Chúa và với mọi người nữa. Tạ lỗi để nói lên lòng sám hối, ăn năn. Tạ lỗi về những điều thiếu sót, điều gì còn chưa chu toàn, điều gì chưa tốt, hoặc lỗi bác ái với tha nhân, hay chưa biết thương xót người như Chúa đã thương xót chúng ta. Xin Chúa thương tha thứ những lỗi lầm mà chúng ta đã phạm trong năm qua. Tương lai tùy thuộc ở Chúa, chúng ta phải có tinh thần phó thác.

Nhìn lại một năm đã qua, chúng ta thấy các biến cố lần lượt diễn ra : các thảm kịch về tai nạn hàng không, những vụ khủng bố người giết người giã man hơn, niềm vui và đau khổ, chiến thắng và thất bại, đạo đức con người như đang bị suy giảm tới mức báo động trong các ngành nghề, nạn tham nhũng theo cựu Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang đã trở nên giặc nội khó diệt, chúng ta đang phải đối mặt với thực tại.

Nhìn qua mọi sự, đến giờ phút này đây, chúng ta phải khẳng định rằng Thiên Chúa là chủ lịch sử, hướng dẫn các biến cố nhân loại. Chúng ta phó thác vận mệnh tương lai cho Chúa và thưa răbgf: “Lạy Chúa, chúng con đặt niềm tin tưởng nơi Chúa”!

Ngày Tết chúng ta sắm mặc, sửa ăn, ngày đầu năm chúng ta đi chúc tết nhau, con cháu tết ông bà cha mẹ, người dưới chúc tết người trên, với biết bao nhiêu lời chúc tốt đẹp,

Tâm Tình Tạ Ơn và Phó Thác

Suy Niệm Thánh lễ Tất Niên

Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương ( Tv 135)

Chúng ta đang cùng nhau sống những giờ phút cuối cùng của năm cũ, và chuẩn bị chia tay năm 2014, năm Giáp Ngọ, bước vào năm 2015, năm Ất Mùi với thời khắc thật linh thiêng. Vào dịp tạ ơn cuối năm, Đức Thánh Cha Phanxicô nói với chúng ta rằng : “Người tín hữu Kitô hữu dựa trên Thánh Kinh thấy thời gian không mang tính tuần hoàn mà là một đường thẳng: thời gian là con đường dẫn đến chung cuộc”. Đúng thế, nêu chúng ta nhìn lại một năm vừa trôi qua chính là một bước đi hướng đến sự hoàn tất của lịch sử, đến cứu cánh của nhân loại là hy vọng và vui mừng được gặp Chúa, thị việc tạ ơn này thật là ý nghĩa.

Chắc chắn mỗi người mang một tâm tình, vui, buồn, sướng, khổ, thành công hay thất bại. Nhưng giờ phút này đây, tất cả đều có chung một ý tưởng là tạ ơn và phó thác. Tạ ơn, vì Chúa đã cho chúng ta sống đến giờ phút này, còn gì thích hợp và ý nghĩa hơn khi chúng ta mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria để hát vang lên tới Chúa : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa… vì Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (Lc 1, 29-55). Lời của thánh Phaolô nhắn nhủ với tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca xưa kia, nay ngài muốn nói với mỗi người chúng ta rằng: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu.” (1 Tx 5, 16-18). Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa, về ân huệ Người đã thương ban (1Cr 1, 3-9).

Nhìn lại trong năm qua, chúng ta thấy các biến cố lần lượt diễn ra : các thảm kịch và hy vọng, niềm vui và đau khổ, chiến thắng và thất bại; kinh tế thế giới tiếp tục lún sâu, thiên tai ngày càng khủng khiếp xuất hiện siêu bão, tai nạn dữ hơn, thời tiết khắc nghiệt hơn, hành vi người với người đối xử với nhau giã man hơn v.v…

Việt Nam chúng ta đang lún sâu vào cuộc khủng hoảng về nhiều phương diện từ đạo đức đến nhân văn, từ mô hình phát triển xã hội đến từng bước phát triển, từ lãnh đạo đến đường lối, từ kinh tế đến chính trị, từ ổn định xã hội đến an ninh quốc phòng, đạo đức con người như đang bị suy giảm tới mức báo động trong các ngành nghề như y học và giáo dục, nạn tham nhũng trở nên hệ thống hơn từ trên xuống dưới… chúng ta đang phải đối mặt với thực tại.

Nhìn qua mọi sự, đến giờ phút này đay, chúng ta phải khẳng định rằng Thiên Chúa là chủ lịch sử, Ngài hướng dẫn các biến cố nhân loại. Ngài đồng hành với con người và không ngừng thực hiện những điều vĩ đại. Làm sao chúng ta có thể không cám ơn Người vào đêm nay? Và nhất là trong năm Tân Phúc Âm Hóa Giáo xứ này, làm sao chúng ta có thể không dâng lên Người lời tuyên xưng: “Lạy Chúa, chúng con đặt niềm tin tưởng nơi Chúa”!

Giờ đây chúng ta mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria hướng về trời cao và cất lên lời tạ ơn Thiên Chúa và phó thác nơi Ngài. Bởi lẽ, tạ ơn là thái độ căn bản của người Kitô hữu đối với Thiên Chúa, vì tất cả những gì con người có đều là hồng ân của Thiên Chúa.

Chúng ta đồng thanh hiệp ý với Mẹ ca tụng những điều kỳ diệu của Thiên Chúa đã và còn đang làm trong lịch sử : Người đã và còn đang biểu lộ quyền năng của Ngài… đã và còn đang làm tan rã những kẻ kiêu căng… đã và còn đang hạ xuống người quyền thế… đã và còn đang nâng dậy kẻ khiêm cung… đã và còn đang ban tràn đầy ơn lành cho người đói khát… đã và còn đang đuổi người giàu có ra về tay không… đã và còn đang cứu giúp Israel Dân Người.” Ðó là bảy hành động của Thiên Chúa là Chúa của lịch sử: Người luôn đứng về phía những kẻ thấp hèn nhất, những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn, những ai “kính sợ Người, trung thành với Lời Người; đó là những kẻ khiêm tốn, những kẻ đói khát; đó là Israel người tôi tớ trung thành của Người; đó là cộng đồng dân Chúa, được kết thành bằng những kè nghèo hèn, trong sạch và đơn sơ trong tâm hồn, như Mẹ Maria.

Thánh lễ này diễn ra vào giờ phút cuối cùng của năm 2014 Âm Lịch, đôi mắt chúng ta hướng nhìn lên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của đời sống chúng ta. Vì không có Chúa, chúng ta sẽ không hiện hữu, không có Chúa sẽ chẳng có gì, hoàn toàn không có gì. Chúa là Đấng “vạn vật được tạo thành” (Ga 1, 13), Chúa là Đấng mà nhờ Chúa, chúng ta được tạo thành, và sống cho đến phút này đây. Không có Chúa, sự sống không thể đạt đến vận mệnh cuối cùng của nó. Không có Chúa sẽ chẳng có gì, hoàn toàn không có gì. Chính Người giúp chúng ta đối diện với các thách đố trong năm mới; chính Người ban cho chúng ta khả năng sử dụng đời sống để làm vinh danh Thiên Chúa và mưu ích cho nhân loại. Chúng ta hãy để tình yêu Ngài lôi cuốn cuộc đời ta.

Lúc này đây, chúng ta hãy đặc biệt nhớ tới và cầu nguyện cho những ai đang đau khổ, những ai đang gặp khó khăn và những ai đang sống trong buồn phiền, để khẩn cầu sự trợ giúp quan phòng của Chúa.

Cái nhìn của chúng ta giờ đây mở rộng ra hướng về gia đình, giáo họ, giáo xứ, giáo phận, toàn thể Hội Thánh và thế giới. Chúng ta hy vọng rằng Năm Mới sẽ đem lại hoà bình, công lý, tình huynh đệ và sự thịnh vượng cho tất cả mọi quốc gia! Nguyện xin Ðức Nữ Trinh Rất Thánh, Hừng Đông của thời đại mới, giúp chúng ta nhìn lịch sử đã qua và Năm Mới khởi đầu với con mắt đức tin. Xin cầu chúc một Năm Mới hạnh phúc đến với mọi người! Amen.

Suy Nghĩ Của Em Về Quan Niệm Sống C… / 2023

Đề bài

Lời giải

Gia sư QANDA – Lynnn

a) Mở bài – Giới thiệu tác giả và bài thơ Mùa xuân nho nhỏ là thi phẩm đặc sắc cuối đời của nhà thơ Thanh Hải + Thanh Hải là nhà thơ cách mạng, hoạt động văn nghệ từ cuối cuộc kháng chiến chống Pháp + Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ là nỗi lòng của tác giả về niềm yêu mến tha thiết với cuộc đời, đất nước mong muốn cống hiến góp mùa xuân nho nhỏ của mình vào mùa xuân của đất nước, dân tộc. b) Thân bài * Cảm xúc trước mùa xuân thiên nhiên đất nước và con người – Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp trong tưởng tượng của tác giả (lưu ý, tác giả viết bài thơ 11/1980 – lúc này đang là mùa đông) + Hình ảnh vẻ đẹp của mùa xuân xứ Huế được khắc họa qua: hoa tím, sông xanh, bầu trời cao rộng + Âm thanh tiếng chim chiền chiện báo xuân về như kết tinh thành “từng giọt long lanh” + Vẻ đẹp của mùa xuân thể hiện qua góc nhìn của tác giả cũng như tấm lòng trân trọng của tác giả trước thiên nhiên, cuộc đời + Lời trò chuyện thân mật cùng tự nhiên và sự trân trọng sự sống được thể hiện qua hành động “đưa tay hứng” của tác giả Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng + Giọt long lanh được hiểu theo nghĩa ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, từ chỗ âm thanh được cảm nhận bằng thính giác chuyển sang cảm nhận bằng thị giác và xúc giác “đưa tay hứng”. * Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân của đất nước – Sáng tạo của tác giả thể hiện qua việc dùng từ “lộc” và hình ảnh “người cầm súng”, “người ra đồng” + Hình ảnh lộc xuân trên “nương mạ” là hình ảnh đẹp về cuộc sống lao động kiến thiết đất nước của lực lượng sản xuất

– Sáng tạo của tác giả thể hiện qua việc dùng từ “lộc” và hình ảnh “người cầm súng”, “người ra đồng” + Hình ảnh lộc xuân trên “nương mạ” là hình ảnh đẹp về cuộc sống lao động kiến thiết đất nước của lực lượng sản xuất

+ Hình ảnh người cầm súng trên đường ra trận mang trên vai cành lá ngụy trang, và niềm tin vào ngày mai hòa bình + Tác giả sử dụng hai từ láy “hối hả” và “xôn xao” để chỉ nhịp sống lao động khẩn trương vội vã nhưng nhộn nhịp, vui vẻ kết hợp hài hòa với nhau. – Nhà thơ tin tưởng và tự hào vào tương lai tươi sáng của đất nước cho dù trước mắt trải qua nhiều khó khăn, gian khổ + Đất nước được so sánh với những hình ảnh đẹp đẽ, kì vĩ khẳng định sự trường tồn bền vững của đất nước Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước + Tác giả không quên nhắc nhở mọi người nhớ về những tháng ngày gian khổ trong chiến đấu, cách mạng + Phụ từ “cứ” kết hợp với động từ “đi lên” thể hiện quyết tâm cao độ, hiên ngang tiến lên phía trước dù khó khăn gian khổ → Sự lạc quan tin tưởng của nhà thơ ca ngợi sức sống, sự vươn lên mạnh mẽ của đất nước, dân tộc * Ước nguyện chân thành, giản dị được cống hiến của tác giả – Tác giả thể hiện tâm nguyện tha thiết muốn cống hiến qua những hình ảnh đẹp, thuần phác: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến + Điệp từ “ta” để khẳng định đó là tâm niệm chân thành của nhà thơ, cũng là khát vọng cống hiến cho đời chung của nhiều người. + Các từ láy “lặng lẽ”, “nho nhỏ” là cách nói khiêm tốn, chân thành của nhân cách sống cao đẹp khi hướng tới việc góp vào lợi ích chung của dân tộc. – Mùa xuân nho nhỏ là một ẩn dụ đầy sáng tạo của nhà thơ khi thể hiện thiết tha, cảm động khát vọng được cống hiến và sống ý nghĩa. + Điệp từ “dù là” khiến âm điệu câu thơ trở nên thiết tha, lắng đọng + Dù đang nằm trên giường bệnh nhưng tác giả vẫn tha thiết với cuộc đời, mong muốn sống đẹp và hữu ích, tận hiến cho cuộc đời chung. → Với niềm yêu đời tha thiết, tác giả vượt lên trên hoàn cảnh về bệnh tật mong muốn da diết được sống có ích bằng tất cả sức trẻ của mình.

Ui

Sr em

Cj lm nhầm đề

Chờ chị chút cj lm lại

a) Mở bài – Giới thiệu tác giả Thanh Hải và bài thơ Mùa xuân nho nhỏ: + Thanh Hải là nhà thơ hiện đại Việt Nam trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. + “Mùa xuân nho nhỏ” là một trong những bài thơ hay viết về mùa xuân, về khát vọng cống hiến cho đời của nhà thơ. – Khái quát nội dung khổ thơ 4 và 5: + Hai khổ thơ 4 và 5 thể hiện rõ nhất ước vọng được hòa nhập hiến dâng cho cuộc đời, cho mùa xuân chung của dân tộc của tác giả.

b) Thân bài * Khái quát về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ – Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được tác giả sáng tác trong khi nằm trên giường bệnh, trước khi mất ít lâu, trong hoàn cảnh đất nước đã thống nhất, đang xây dựng cuộc sống mới nhưng còn vô vàn khó khăn gian khổ, thử thách. – Nội dung chính: Bài thơ là tiếng lòng, những tâm sự, suy ngẫm, mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của tác giả cho mùa xuân vĩ đại của đất nước. * Phân tích khổ thơ thứ 4: Khát vọng hòa nhập, tự nguyện mang niềm vui đến cho cuộc đời Ta làm con chim hót, Ta làm một cành hoa. Ta nhập vào hoà ca, Một nốt trầm xao xuyến – Điệp từ “ta làm” cùng với nhịp thơ dồn dập diễn tả rõ nét khát vọng cống hiến của nhà thơ: + muốn làm con chim hót : góp tiếng hót cho cuộc đời + muốn làm một cành hoa : góp chút sắc hương cho cuộc sống – Đại từ “ta” dùng để khẳng định đó không chỉ là tâm niệm riêng của cá nhân nhà thơ mà còn là khát vọng chung của nhiều người. “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời” – Từ láy “lặng lẽ”, “nho nhỏ” là cách nói khiêm tốn, chân thành của nhân cách sống cao đẹp khi hướng tới việc góp vào lợi ích chung của dân tộc. “Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc.” – Điệp ngữ “dù là” : thái độ tự tin trước những khó khăn trở ngại của đời người – “tuổi hai mươi”, “khi tóc bạc” : ầm thầm cống hiến bất kể khi tuổi trẻ hay lúc về già. * Đặc sắc nghệ thuật trong 2 khổ thơ: – Sử dụng các từ láy, điệp từ hiệu quả – Hình ảnh đẹp, giản dị – Ngôn từ chính xác, tinh tế, gợi cảm – So sánh và ẩn dụ sáng tạo

– Ngôn từ chính xác, tinh tế, gợi cảm – So sánh và ẩn dụ sáng tạo

– quan niệm sống của thế hệ trẻ: sống có tinh thân trách nhiệm, sống có mục đích lý tưởng ước mơ

c) Kết bài – Khái quát giá trị nội dung của 2 khổ thơ. – Cảm nhận của em về 2 khổ thơ.

Trên là dàn ý

Tố Hữu – nhà thơ cùng quê hương xứ Huế với Thanh Hải – đã viết trong bài “Một khúc ca xuân” những lời tâm niệm thật chân thành, giản dị và tha thiết. Còn Thanh Hải khi viết bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” trước lúc ra đi, không những đã giải bày những suy ngẫm mà còn mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của mình cho mùa xuân vĩ đại của đất nước Việt Nam. Thanh Hải đã thể hiện “tâm nguyện thật thiết tha, cảm động của nhà thơ Thanh Hải với đất nước, với cuộc đời rõ nhất trong hai khổ thơ 4,5: Sau những dòng thơ dâng tràn tình yêu thiên nhiên, lòng tự hào, lạc quan, tin yêu đối với đất nước, dân tộc Thanh Hải chuyển sang giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người. Từ cảm xúc của thiên nhiên, đất nước, mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng. Với Thanh Hải cũng thế, đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng, một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước, quê hương với một khát vọng chân thành và tha thiết: “Ta làm con chim hót, Ta làm một cành hoa. Ta nhập vào hòa ca, Một nốt trầm xao xuyến”

Nhịp thơ dồn dập và điệp từ “ta làm” diễn tả rõ nét khát vọng cống hiến của nhà thơ. Đó là khát vọng sống hòa nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé, của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên giàu sức gợi tả, gây xúc động sâu xa trong lòng người đọc. Ước nguyện được làm một tiếng chim, một cành hoa để góp vào vườn hoa muôn hương muôn sắc, rộn rã tiếng chim, để đem lại hương sắc, tô điểm cho mùa xuân thêm tươi đẹp. Nhà thơ nguyện cầu được làm một “nốt trầm xao xuyến” không ồn ào, không cao điệu mà chỉ âm thầm, lặng lẽ để “nhập” vào khúc ca, tiếng hát của nhân dân vui mừng đón xuân về. Được tô điểm cho mùa xuân, được góp phần tạo dựng mùa xuân là tác giả đã nguyện hi sinh, nguyện cống hiến cho sự phồn vinh của đất nước. Một ước mơ nho nhỏ, chân tình, không cao siêu vĩ đại mà gần gũi quá, khiêm tốn và đáng yêu quá! Hình ảnh nhuần nhị, tự nhiên, chân thành, giọng thơ nhè nhẹ, êm ái, ngọt ngào của những thanh bằng liên tiếp kết hợp với cách cấu tứ lặp lại như vậy đã mang một ý nghĩa mới nhấn mạnh thêm mong ước được sống có ích cho đời, cống hiến cho đất nước như một lẽ tự nhiên. Điệp từ “ta” như một lời khẳng định, vừa như một tiếng lòng, như một lời tâm sự nhỏ nhẹ, chân tình. Ước nguyện đó đã được đẩy lên cao thành một lẽ sống cao đẹp, không chỉ cho riêng nhà thơ mà cho tất cả mọi người, cho thời đại của chúng ta. Đó là lẽ sống cống hiến cho đời lặng lẽ, khiếm tốn, không kể gì đến tuổi tác:

Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc. Thái độ “lặng lẽ dâng cho đời” nói lên ý nguyện thật khiêm nhường nhưng hết sức bền bỉ và vô cùng đáng quý vì đó là những gì tốt đẹp nhất trong cuộc đời. Thật cảm động làm sao trước ao ước của nhà thơ dẫu đã qua tuổi xuân của cuộc đời, vẫn được làm một mùa xuân nhỏ trong cái mùa xuân lớn lao ấy. Điệp ngữ “dù là” ở đây như một lời tự khẳng định để nhủ với lương tâm sẽ phải kiên trì, thử thách với thời gian tuổi già, bệnh tật để mãi mãi làm một mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương đất nước. Giọng thơ vẫn nhỏ nhẹ, chân tình nhưng mang sức khái quát lớn. Chính vì vậy, hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” ở cuối bài như ánh lên, toả sức xuân tâm hồn trong toàn bài thơ.

Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của cuộc đời. “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời và những câu thơ này là một trong những câu thơ cuối cùng. “Một mùa xuân nho nhỏ” cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào thế giới cực lạc, chuẩn bị ra đi mãi mãi.

Từ ước nguyện chân thành của nhà thơ Thanh Hải, ta chợt nghĩ tới thế hệ trẻ ngày nay. Cũng là người Việt Nam, là công dân của đất nước, được hưởng trọn ven dòng máu tổ tiên, chúng ta phải có nghĩa vụ và trách nhiệm như thế nào với mảnh đất quê hương.

Trong những cuộc chiến tranh, khi đất nước làm nguy, cống hiến cho quê hương là góp sức mình để giành lại độc lập và chủ quyền dân tộc. thời đại đó là thời đại của những người “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh“, sẵn sàng xả thân vì màu xanh hòa bình trên mảnh đất quê hương.

Trong thời đại ngày nay, khi đất nước đã hòa bình, thống nhất và đang trên đà phát triển. là một người con của đất nước, nhiệm vụ của chúng ta là phải gắng phấn đấu học tập, lao động để phục vụ, xây dựng đất nước vững mạnh đi lên: “sánh vai với các cường quốc năm châu”, để mỗi ngày được ngắm nhìn quê hương thay da đổi thịt, lớn mạnh, hùng cường. Cống biển cho đất nước là nghĩa vụ và bổn phận của tất cả người dân Việt Nam. Mỗi người với khả năng của mình, hãy cố gắng đóng góp cho đất nước mình để đưa quê hương ngày càng giàu đẹp hơn.

Để là người sống có trách nhiệm với đất nước, chúng ta phải sống có mục đích, ước mơ, lí tưởng. Chính những mơ ước, lí tưởng ấy là cơ sở để chúng ta xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Đặc biệt, tuổi trẻ chúng ta cần tránh xa những tệ nạn xã hội, biết sống một cách lành mạnh và có trách nhiệm. Có như thế, ta mới là người sống có trách nhiệm với đất nước mình bởi mỗi người chỉ có thể có trách nhiệm với người khác khi có trách nhiệm với chính bản thân mình.

Tình yêu dành cho đất nước là thứ tình cảm máu thịt, luôn cất tiếng gọi những người con hướng về nguồn cội, tổ tiên. Nó đánh thức trong ta trách nhiệm của một người công dân, thôi thúc ta hành động.

Là một người trẻ tuổi, một thành viên của thế hệ trẻ ngày nay, tôi cũng đang tự nhủ phải từng ngày, từng giờ, cố gắng học tập và phấn đấu thật tốt để có thể đóng góp công sức nhỏ bé của mình làm nên những “mùa xuân” đẹp tươi của đất nước ta như nguyện ước ngày nào của nhà thơ Thanh Hải.

Cj gửi e bài

Học sinh

em cảm ơn

Nhớ Một Tết Độc Lập Buồn Và 30 Năm Bài Thơ “Chống Đảng” / 2023

TNc: Có một thời chúng ta hay suy diễn và chụp mũ. Nhắc lại chuyện cũ cũng là “Ôn cố tri tân”

Ông Hoàng Tuấn Phổ tuổi 80

Mùng Hai Tháng Chín năm Giáp Tý 1984 là một ngày buồn trong một năm buồn của gia đình tôi.

Sau gần 20 năm theo Đảng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, Huy chương chiến sĩ văn hóa (hai lần), Cha tôi bỗng bị buộc thôi việc, khai trừ Hội tịch, trả về địa phương-nơi cũng chừng ấy năm trước, ông đứng dậy từ vũng lầy thời cuộc. Nhưng lần này trở về làng cũ, trên đầu ông nặng thêm một tội danh-một tội danh tày trời: Tội “chống Đảng” !

Tôi nhớ, bởi chuyện buồn ấy xảy ra đúng vào dịp Tết Độc Lập dân tộc. Chính xác, Cha tôi phải chấp hành Quyết định buộc thôi việc sau Tết Độc Lập một ngày: Ngày 3 tháng 9 năm 1984. Thế là mọi phấp phỏng hy vọng được minh oan của cả nhà tôi kéo dài từ mùa xuân sang mùa hè, đến mùa thu thì chấm dứt. Mẹ tôi tần tảo, sẵn sàng hy sinh, chịu đựng tất cả vì chồng con, nhưng bà không chịu nổi những lời dị nghị của làng xóm. Khi ấy tôi đã 14-15 tuổi nên cũng hiểu mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Tội “chống Đảng” lớn lắm, nhục nhã lắm ! Nó đồng nghĩa với tội Việt gian phản động ! Hai đứa em tôi bé nhỏ chưa hiểu gì, nhưng thấy bố mẹ, các anh buồn, chúng cũng buồn lây.

Thông thường, Mùng Hai Tháng Chín hàng năm, xóm làng tôi vui như Tết. Trẻ con vui đùa, thanh niên cắm trại, tổ chức chơi trò “Hái hoa Dân chủ”. Và bao giờ làng cũng có một tiết mục đặc biệt được già trẻ, gái trai chờ đợi là “màn” mổ lợn ăn mừng Tết Độc Lập. Tôi thường sốt sắng với nhiệm vụ đi nhận phần thịt cho nhà mình. Ở làng có mấy ông chuyên chia thịt và chia rất khéo. Thật khó có thể chọn ra một phần thịt nào nhiều hơn, ngon hơn. Phần nào cũng như phần nào, thịt, xương, mỡ, nạc…có đủ cả trong từng khóm. Nhà ai cũng có một phần thịt khá tươm tất. Mấy tháng mới được bữa cơm thịt no nê, bọn trẻ con chúng tôi vui đến mức cứ tưởng ngày này trên thế gian ai ai cũng được sung sướng như mình ! Nhưng năm ấy, nhà tôi không có Tết Độc Lập.

Đồng thời với kỷ luật buộc thôi việc, đề nghị đình bản tiểu thuyết “Mai vàng chùa Tháp” ở NXB Thanh Niên, Hội văn nghệ Thanh Hóa tuyên bố đã gửi công văn đi các cơ quan, tạp chí đề nghị không xuất bản sách và in bài của kẻ “chống Đảng” Hoàng Tuấn Phổ. Thế là, cánh cửa mà Đảng từng mở ra con đường chữ nghĩa cho Cha tôi, nay lại bị đóng sập lại. Trước khi đi “thoát ly”, Cha tôi từng cổ cày vai bừa ở quê. Nhưng lần này trở về, dù nặng gánh trên vai, Mẹ tôi không muốn ông lại tiếp tục công việc đồng áng… Cha tôi cũng quyết định bỏ bút, cầm dao cầu làm nghề thuốc, châm cứu chữa bệnh. Nhà tôi trở thành cái xưởng bào chế thuốc nho nhỏ. Phần chúng tôi, chỉ còn biết cố gắng ngoan ngoãn học hành để cha mẹ vơi đi nỗi buồn.

Vậy mà bể dâu thoáng chốc đã 30 năm tròn !

Chắc bạn đọc không khỏi thắc mắc, Cha tôi “chống Đảng” như thế nào ? Vâng, ông “chống” bằng một bài thơ Thất ngôn bát cú ! Nghĩa là ông tham gia cuộc thi “Xướng họa thơ vui, năm Tý nói chuyện chuột” do báo Đảng Thanh Hóa mời. Thơ ông “Họa” lại bài “Xướng” của ông Hà Khang và Mai Bình-Chủ tịch Hội văn nghệ Thanh Hóa. Tôi nhớ như in hai bài thơ này:

Bài “Xướng” do ông Mai Bình chấp bút:

Năm Tý về đây nhắc chuyện đời

Không coi chừng chuột, chuột sinh sôi !

Chùm nem sơ hở con chù vọc

Lạ nhỉ ? chơi không toan gọn lốm,

Ở kìa ! ngồi rỗi chực ngon xơi !

Hẹn nhau sắm bả phòng năm chuột

Bài “Họa” của Cao Đăng (Cha tôi-Hoàng Tuấn Phổ):

Giống chuột làm sao vẫn sống đời ?

Con đàn cháu lũ cứ sinh sôi !

Đồ ăn bè cánh chia phần nhậu,

Của để tớ thầy hợp sức lôi !

Tiếc lọ chê ai đành chuột phá,

Hoài cơm trách bạn để mèo xơi !

Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc,

Tôi dù ở tuổi thiếu niên cũng đã đủ khôn để cảm nhận đây là bài thơ hay, nghĩa bóng chống lại những tiêu cực thời nào cũng có. Mẹ tôi là nông dân chất phác, dù lòng đang nặng trĩu nỗi buồn, khi nghe bài thơ “chống Đảng” của Cha tôi cũng phải tủm tỉm cười khen là…được, và nói: “Tôi chả thấy ông chống Đảng ở chỗ mô cả ! ” Có lẽ cuối cùng dù Cha tôi không thoát được tội tày đình, nhưng tự lòng Mẹ tôi đã cảm thấy vô tội và thanh thản.

Nhà tôi tuy nghèo nhưng từ nhỏ chúng tôi được bố mẹ cho ăn học, giáo dục tử tế. Cha tôi luôn nhắc nhở con cái: “Nhà ta được như ngày nay là nhờ có Đảng, các con phải cố gắng học hành, phấn đấu, đi bằng chính đôi chân của mình, sống có ích cho gia đình, xã hội”. Tôi biết rõ Cha tôi là người thế nào. Tôi không tin ông chống lại những chủ trương mà thường ngày tôi vẫn nghe ông ca ngợi là đúng đắn và tiến bộ.

Thế nhưng “có người” đại diện cho Đảng lại động lòng, tự thấy mình trong bài thơ “chuột” và cho rằng “nó” đang “chống” mình ! Họ phân tích như sau: “Con đàn cháu lũ” ở đây ý chỉ “con ông cháu cha” đời nối đời hưởng đặc quyền đặc lợi. “Đồ ăn bè cánh chia phần nhậu, Của để tớ thầy hợp sức lôi” ám chỉ chuyện vây bè, kéo cánh, ăn cắp của công, tham ô, hối lộ, móc ngoặc với nhau. Của ít chia nhau ăn, của nhiều hợp sức lôi về nhà làm giàu. Không thể chấp nhận được ! Chế độ này là khối “đại đoàn kết”, chỉ có quan hệ “đồng chí” “đồng nghiệp”, tại sao lại có từ “bè cánh”, “tớ thầy” ở đây ? Cao Đăng nói “Tiếc lọ”, thì “lọ” cũng là “bình”. Mà “bình” không phải “Mai Bình” còn ai vào đây ? Hóa ra, cấp trên vì nương tay với “Bình” nên không chống tiêu cực ? Thật quá “thâm ý” ! “Hoài cơm trách bạn để mèo xơi”, “mèo” đây đích thị là những người nắm pháp luật rồi ! Dám nói họ là “hoài cơm” sao ? Lại còn định “Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc, Cống lỗ chi chi cũng hết nòi !” Cao Đăng muốn “diệt” tận gốc, từ “ông to” đến “ông nhỏ” kia ư ? (đoạn này tôi nhớ lại theo lời kể của Cha tôi sau mỗi tuần trở về nhà với gương mặt thất thần…)

Thế là họa lớn ! Chín tháng trời ròng rã, Cha tôi chỉ làm mỗi công việc trần tình, kiểm điểm, mất ăn mất ngủ… Rốt cuộc ông vẫn không thể nào thanh minh được.

Năm Mậu Tý 2008, ông Khương Bá Tuân-nguyên PGĐ Sở NN và PTNT Thanh Hóa hỏi tôi: “Cậu còn nhớ bài thơ xướng họa “Năm Tý nói chuyện Chuột” của ông Phổ không? Thỉnh thoảng các cụ trong câu lạc bộ Hàm Rồng có hỏi. Mình thì chỉ nghe nói chứ cũng đã được đọc đâu. Nếu cậu còn nhớ chép lại cho mình một bản làm kỷ niệm” Tôi trả lời: ” Cháu nhớ. Mậu Tý năm nay là 24 năm bài thơ họa năm Tý nói chuyện chuột. Cháu có nói với Bố cháu nhân đây nên kể lại sự việc để mọi người hiểu. Nhưng ông Cụ bảo, “Thôi, chuyện đã qua rồi…Mình nhắc lại người ta lại hiểu lầm là gợi chuyện cũ…”

Tôi hiểu. Sau nhiều tai bay vạ gió từ thời Cải cách ruộng đất và Đấu tranh chính trị, Cha tôi giống như con chim sợ làn cây cong vậy. Thế nên ông mới viết: “Sờ râu lão Tý tay còn nhớp, Chạm vía cụ Mèo mạng suýt toi !”

Ngày Tết Độc Lập 2014 năm nay khiến tôi lại nhớ về ngày buồn cách đây đúng 30 năm trước. Lần này ông Cụ đã đồng ý cho Tuấn Công thư phòng công bố bản Trần tình “Có hay không có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá ?” từng đọc tại Đại hội Văn nghệ Thanh Hóa cách đây 25 năm về trước, sau khi ông được phục hồi công tác. Xin trích đăng để bạn đọc hiểu rõ thêm câu chuyện nhỏ của gia đình tôi trong muôn vàn câu chuyện lớn khổ đau của “Biển cả đời người”:

Có hay không có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá ?

(Bài phát biểu của Hoàng Tuấn Phổ đã trình bày tại Đại hội văn học nghệ thuật Thanh Hoá lần thứ III vào lúc 2 giờ chiều ngày khai mạc 22/5/1989 tại hội trường tỉnh 25B)

“Thưa ông Bí thư tỉnh uỷ Lê Huy Ngọ

Thưa Ban thường vụ Tỉnh uỷ và các đại biểu,

chúng tôi sự khẳng định của Ban thường trực Hội do Ô. Mai Bình làm Chủ tịch, có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá và Hoàng Tuấn Phổ là một hạt nhân, một thành viên của tổ chức ấy.

Bút tích một số trang của bản Điều trần

Dịp Tết Giáp Tý (1984) báo Thanh Hoá phối hợp với các cơ quan Sở văn hoá-thông tin, Đài phát thanh tỉnh, Hội văn nghệ mở cuộc thi hoạ thơ vui với tiêu đề “Năm Tý nói chuyện chuột”. Bài xướng do Mai Bình chấp bút (nghe nói bài này chẳng những đã thông qua Ban thường vụ tỉnh uỷ mà còn được ông Bí thư Tỉnh uỷ Hà Trọng Hoà phê duyệt) và báo Thanh Hoá mời tôi tham gia, sau đó đã đăng bài hoạ của tôi ký tên Cao Đăng. Số báo này vừa mới phát hành, bản thân tác giả chưa được nhìn thấy bài mình in ấn ra sao đã bị Ban thường trực Hội gọi bảo: bài thơ hoạ của Cao Đăng, theo các đồng chí lãnh đạo cấp trên, sai lầm về quan điểm. Tôi hỏi: sai lầm về những “điểm” gì, xin chỉ rõ, thì không được giải đáp cụ thể. Rồi chẳng hiểu căn cứ vào đâu: Bài thơ hoạ của Cao Đăng bị qui là có tư tưởng chống Đảng vào người ta tiến hành khá khẩn trương, gay gắt và kiên quyết một số biện pháp như hội họp lãnh đạo để phân tích phê phán bài thơ, bắt tác giả phải viết tự kiểm điểm, gây dư luận quần chúng phản đối tác giả, vận động cán bộ, nhân dân, văn nghệ sĩ trong tỉnh gửi kiến nghị lên án tác giả và viết bài gửi tới Báo Thanh Hóa phê phán bài thơ, rồi về địa phương tác giả lập hồ sơ bịa tạc,v.v…nhằm tạo ra một vụ án văn học(1). Ông Mai Bình, Chủ tịch Hội cho biết: “Đáng lẽ Sở công an Thanh Hóa và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh khởi tố vụ án này, nhưng Ban thường trực Hội xin để Hội giải quyết nội bộ. Vậy thái độ của tác giả phải hết sức thành khẩn”. Tôi nói: “Tôi không thấy mình mắc sai lầm ở chỗ nào” Ông Hà Khang phó Chủ tịch Hội, gợi ý: “Kiểm điểm theo dư luận của cán bộ và nhân dân phê phán nội dung tư tưởng xấu của bài thơ”. Tôi nói: “Dư luận thì không phải cái gì cũng đúng. Có người bảo tôi đả kích ông này ông nọ, nhưng cũng có người cho rằng: không có “xướng” thì sao có “họa”,v.v…tôi biết theo “dư luận” nào ?” Ông Vương Anh, phó chủ tịch Hội (Ủy viên chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam) bắt tôi phải thú nhận theo tinh thần một bài viết dưới mục “Ý kiến bạn đọc” trên báo Thanh Hóa phê phán thơ họa của Cao Đăng là xuyên tạc sự thật, nói xấu chế độ. Bài này ký tên Phạm Trung Thực (Thị xã Thanh Hóa). Ông Vương Anh nhấn mạnh là bài của “ông to” cấp trên viết (thực ra do ông Vương Anh viết). Tôi nói: “Nếu là “ông to” cấp trên thì bài viết phải ghi rõ họ tên thật và chức vụ thì tôi mới chấp hành nghiêm túc kiểm điểm, còn như người viết dù “to”cỡ nào, ở “cấp” nào mà lại nhân danh “bạn đọc” thì trên nguyên tắc thông thường bạn đọc có quyền khen, chê, và tác giả được quyền tiếp thu hay không tiếp thu”. Nhưng ông Vương Anh vẫn không cho biết rõ Phạm Trung Thực là ai và vẫn nhắc lại rằng tôi phải kiểm điểm theo hướng đó. Ông Vương Anh nói thêm với tôi và một số anh em văn nghệ như Trọng Miễn, Đào Phụng, Xuân Quảng, Nguyễn Ngọc Quế và nhiều chị em khác rằng: trong cuộc họp Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập lãnh đạo Hội văn nghệ để bàn xét về vấn đề thơ chống Đảng, ông Vương Anh liếc nhìn vào sổ tay ông Lê Xuân Sang (Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy) và ông Quách Lê Thanh (Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy) đều thấy cùng ghi một dòng chữ: “Hoàng Tuấn Phổ chống Đảng”. Điều này không biết có thực hay không, nhưng chẳng riêng gì tôi mà các anh em khác cũng đều hết sức hoang mang lo sợ. Mặc dù vậy, tôi vẫn không thể làm vừa lòng Ban thường trực Hội nói chung và ông Phạm Trung Thực nói riêng vì không hề nhận ra mình đã mắc những sai phạm chính trị trong bài thơ họa ký tên Cao Đăng. Sau những cuộc kiểm điểm liên miên ngày này qua tháng khác, Ban thường trực Hội kết luận tôi là “thái độ kiểm điểm không thành khẩn kéo dài” (9 tháng).

Cũng trong thời gian này, anh Minh Hiệu (Nhà thơ) có 8 bài thơ, Ban thường trực Hội coi như là “8 phát súng đại bác” nã vào Tỉnh ủy. Ông Vương Anh nói: trong khi ông Minh Hiệu tấn công trực diện vào Đảng thì Hoàng Tuấn Phổ gián tiếp đả kích những cán bộ lãnh đạo của Đảng. Anh Xuân Hùng vẽ bức tranh “Chuẩn bị thóc nhập kho”, vì góc bức tranh có vẽ một cây rơm, chung quanh có mấy em bé đang đùa chơi, ông Mai Bình và Ban thường trực Hội bảo là “cây rơm to hơn đống thóc tức là mất mùa thì lấy thóc đâu nhập kho ? Phải chăng tác giả ẩn ý rằng thành tích nông nghiệp của ta chỉ là giả tạo ?” (Trong thực tế, dù được mùa lớn, rơm vẫn nhiều hơn thóc !) Bức tranh vẽ một đàn ngựa của anh Đỗ Chung, bị ông Mai Bình lộn ngược dưới lên để xem và nhận xét là tác giả vẽ toàn là các bộ phận kín của phụ nữ ! Cũng một bức tranh khác của Đỗ Chung, ông Vương Anh bảo: “Cái mặt trời tím mọc trên cánh đồng lúa là con số không, ý tác giả muốn nói “nền nông nghiệp nước ta chỉ là con số không !”. Còn nhiều trường hợp nữa tôi không tiện dẫn hết ra đây.

Cứ cái kiểu suy diễn, phán xét nguy hiểm đó, trong công việc đọc duyệt tác phẩm, các ông Mai Bình, Hà Khang, Vương Anh đã dần dần hệ thống hóa các tác phẩm, quy tụ các hiện tượng để tiến tới khẳng định ở Thanh Hóa có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng. Ông Mai Bình thay mặt Ban thường trực Hội bảo tôi: “Cho dù anh có phải nhận hình thức kỷ luật ra khỏi cơ quan văn phòng Hội thì anh cũng phải khai ra những kẻ cùng hội cùng thuyền để giúp Đảng lãnh đạo phong trào văn nghệ tỉnh nhà được tốt”.

Sáng 27/5/1984, tại phòng ông Trần Kháng (Trưởng ban hành chính trị sự của Hội) ông Hà Khang thay mặt Ban thường trực Hội yêu cầu tôi phải trả lời những câu hỏi:

1.Tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hóa gồm những ai, do ai cầm đầu ?

2.Tổ chức này đã có nhiều cuộc tọa đàm, vậy anh đã dự những cuộc tọa đàm nào, các anh đã bàn bạc hoặc tiến hành những vấn đề, những công việc gì ?

chúng tôi Thường trực Hội căn cứ vào đâu để khẳng định tôi có tham gia tổ chức Văn nghệ sĩ chống Đảng ?

2. Ban Thường trực Hội hiểu thế nào về chữ “tọa đàm” ? Nếu tọa đàm là những cuộc trà lá mấy anh em văn nghệ ngồi tán gẫu về văn chương thì thường xuyên có và chẳng có gì là chống Đảng cả. Còn như về một tổ chức nào đó có hoạt động chống Đảng thì tôi không hề biết. Và, nếu Ban thường trực Hội đã biết chắc có những cuộc tọa đàm như ông (Hà Khang) nói thì xin ông dẫn ra cụ thể.

Ông Hà Khang nói: “Hôm qua tại nhà hát Lam Sơn chắc anh có nghe đồng chí bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh về những cuộc tọa đàm của anh em Văn nghệ Thanh Hóa, đó chính là những cuộc tọa đàm của tổ chức Văn nghệ sĩ chống Đảng !”

Tôi nói: “Tất cả những điều ông Hà Trọng Hòa và ông Hà Xuân Trường nói chuyện với những người làm công tác tư tưởng cấp tỉnh sáng hôm qua, ngày 26/5/1984, tại nhà hát Lam Sơn (thị xã Thanh Hóa) tôi đều chú ý lắng nghe. Tôi nhớ rõ lời bác bí thư tỉnh ủy nói: “Trong thời gian qua có những bài thơ của một số anh chị em-vừa nói xong mấy từ “của một số anh chị em”, bác bí thư liền chữa ngay là “của một số anh em”. Bác bí thư nói tiếp: “Và những cuộc tọa đàm biểu hiện tư tưởng chủ quan, tự phụ, cho là lãnh đạo không hiểu mình, không bằng mình, gây ra dư luận không tốt trong cán bộ và quần chúng…” Tôi không hề thấy bác bí thư nói đến chuyện chống Đảng…”

Ông Hà Khang ngồi im lặng một lát rồi nói: “Chỉ thị của lãnh đạo cấp trên là Ban thường trực Hội phải làm sáng tỏ vấn đề chống Đảng của một số văn nghệ sĩ trong tỉnh. Vậy anh phải viết ngay bản tường trình về tất cả những gì anh biết về tổ chức này, về những cuộc tọa đàm mà anh được dự !

Chấp hành lệnh của lãnh đạo, tôi phải viết bản tường trình cũng chỉ là nhắc lại những điều tôi đã nói ở trên (có đi sâu chi tiết hơn) vì không biết nói gì khác. Tôi đề nghị Ban thường trực Hội công bố bản kiểm điểm của tôi ngày 28/5/1984 vấn đề sẽ được chứng minh cụ thể. Sau đó, tôi được biết, trong khi ông Hà Khang thẩm vấn tôi ở Văn phòng Hội thì ông Mai Bình gọi anh Xuân Quảng (họa sĩ công tác cơ quan văn phòng Hội) tới Sở văn hóa-thông tin (Vì ông Mai Bình là Phó giám đốc Sở kiêm Chủ tịch Hội) để tra hỏi cũng với nội dung vấn đề như ông Hà Khang hỏi tôi. Ông Mai Bình còn bịa ra là Hoàng Tuấn Phổ đã thú nhận và khai báo hết cả rồi, và dọa là nếu Xuân Quảng không thành khẩn sẽ chịu kỷ luật nặng hơn.

Cũng trong những ngày này, ông Mai Bình báo cáo đề nghị sở Công an Thanh Hóa về địa phương tôi lấy hồ sơ lí lịch theo hướng đem vụ việc chống Đảng ở địa phương kết hợp cùng ông Giá Tổng biên tập báo Thanh Hóa tố cáo tôi 3 đời chống Đảng v.v…(Vấn đề này còn liên can tới nhiều đối tượng khác, tuy ở mức độ và hình thức không giống nhau như trường hợp buộc anh Phạm Văn Sĩ cán bộ Biên tập NXB Thanh Hóa phải chuyển công tác đi xa, nếu không thì phải thôi việc, trường hợp cô Út ở phòng lưu trữ UBND tỉnh phải chuyển công tác về thị ủy Thanh Hóa, vì cô Út có chồng là anh thương binh Lê Viết Khảm, khen thơ họa của Cao Đăng, v.v…)

Thanh Hóa trong lịch sử đã xảy ra một số vụ án văn chương, có vụ, án xử tới tử hình. Để phòng ngừa cái tai họa văn chương, tôi nghĩ chúng ta nên nhớ lại lời dạy của Lê-nin. Trong sách “Lê-nin bàn về văn học nghệ thuật” (NXB Sự thật-1960) có in bài báo nổi tiếng: “Tổ chức Đảng và văn học có tính Đảng” Lê-nin viết: “Mỗi người đều có tự do viết tất cả những điều họ muốn viết và nói tất cả những điều họ muốn nói, không một chút hạn chế nào. Nhưng như vậy thì mỗi đoàn thể tự nguyện, tự giác (trong số đó kể cả Đảng) cũng đều được tự do đuổi cổ những phần tử lợi dụng chiêu bài Đảng để cổ vũ những quan điểm trái ngược với Đảng” Lời dạy sáng suốt và công bằng đó của Lê-nin cần được áp dụng với tất cả những kẻ “lợi dụng chiêu bài Đảng” để thực hiện những mưu đồ thâm hiểm, xấu xa, thấp hèn của chúng.

Và, tôi đề nghị Điều lệ của Hội ta nên đề cập cụ thể vấn đề này./.

-Vì không có đủ cơ sở lý luận buộc tội tôi về bài thơ họa, Ban thường trực Hội bịa đặt cho tôi một số khuyết điểm về ý thức tổ chức để thi hành kỷ luật: đuổi ra khỏi cơ quan Nhà nước và khai trừ khỏi Hội (/9/1984). Ngày 8/11/1988 Hội nghị toàn thể hội viên Hội văn nghệ Thanh Hóa đã quyết định phục hồi Hội tịch cho tôi, nhưng còn vấn đề xử lý kỷ luật sai về tổ chức cán bộ đến nay vẫn chưa được giải quyết (sửa sai) do sự cố ý chống lại của Mai Bình và Vương Anh đối với tôi.

-Theo nguồn tin đáng tin cậy, nếu Hà Trong Hòa giữ vững ghế Bí thư Tỉnh ủy thêm 6 tháng nữa, tôi và một số người nữa sẽ bị ghép vào vụ án chính trị Lường Mạnh Hòa (con trai Lường Mạnh Huân đã bị chính quyền cách mạng xử tử hình)

-Bài phát biểu này được Đại hội vỗ tay hưởng ứng nhiệt liệt, nhưng do thời gian hạn chế của Đại hội, vấn đề tôi nêu ra không có điều kiện giải quyết kịp thời…”

*Phần chú thích này không có trong bản trình bày trước Đại hội”.

(Hết trích nội dung điều trần trước Đại hội của Hoàng Tuấn Phổ)

Bây giờ, làng tôi không còn mổ lợn chia thịt ăn mừng Mùng Hai Tháng Chín như ngày trước nữa. Bọn trẻ con cũng chẳng có được cảm giác vui sướng đón Tết Độc Lập bằng một bữa cơm thịt no nê như chúng tôi thuở nào. Bởi điều kiện vật chất bây giờ đã khác trước rất nhiều. Tuy nhiên, viết đến đây tôi lại nhớ ngày xưa mỗi lần đứng xem chia thịt, sốt ruột chờ lấy phần, tôi thường nghĩ về câu chuyện đọc lỏm được trong sách của Cha tôi, và thú vị với ý nghĩ, trong đám đông chỉ mình tôi biết: . Ông khác hẳn với những Bên Tàu có ông Trần Bình chia thịt cho làng rất đều, các bô lão đều khen ngợi. Trần Bình đáp: “Ngày sau Bình này mà được làm Thừa tướng thì cũng khéo như việc chia thịt hôm nay vậy”. Quả nhiên, sau này Trần Bình trở thành Thừa tướng nổi tiếng đời Hán Lưu Bang. Vậy mà mấy người chia thịt ở làng tôi họ không hề biết rằng mình rất giỏi và cái nghề chia thịt của họ đã từng được nhắc đến trong sử sách nước Tàu ! Tuy nhiên, lớn lên tôi mới hiểu, ông Trần Bình vốn là người có trí tuệ siêu phàm, dường như sinh ra để làm Thừa tướng. Bởi vậy có thể nói ông là một Thừa tướng đi chia thịtchia thịt làm Thừa tướng. Kẻ

Bản nháp Công văn đề nghị khôi phục công tác cho HTP do Nhà văn Đặng Ái Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa ký

Trở lại với câu chuyện một Tết Độc Lập buồn của gia đình tôi. Đ/c Hà Trọng Hòa-Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, sau đó đã bị kỷ luật Đảng. Cha tôi-Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ sau khi được phục hồi công tác, ở tại Khu tập thể Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa. Các ông Mai Bình, Vương Anh thỉnh thoảng vẫn lui tới gặp gỡ, trò chuyện. Khi triển khai Dự án khôi phục Lam Kinh, ông Mai Bình không đồng ý với một số phương án, tuy nhiên chưa có dịp trình bày. Trước khi mất ông Mai Bình có giao lại văn bản và nhờ Hoàng Tuấn Phổ sau này có điều kiện thì công bố (hiện HTP còn giữ).

Ba mươi năm trôi qua, nhiều kẻ đã “ra đi”, nhưng cũng không ít người còn “ở lại”. Thuở “Đánh chuột vỡ bình, thơ sứt trán”, Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ mới ở độ tuổi 50, nay đã thành Ông Lão Tám Mươi. Hàng ngày ông vẫn miệt mài dồn tâm huyết cho công trình “Tinh hoa văn hóa xứ Thanh”. Quan điểm của ông là oán thù nên cởi chứ không nên buộc. Tuy nhiên, những câu chuyện cũ như thế này người ta lại không được phép quên. Bởi đó là một phần của lịch sử và cũng là một trong những bài học quý giá của quá khứ. Đây cũng chính là lý do nhớ lại “Ngày này năm xưa”.

Hoàng Tuấn Công/Ngày nghỉ Tết Độc Lập/2014

Những Bài Thơ Chúc Tết, Mừng Năm Mới Hay Nhất / 2023

Tuyển chọn những bài thơ chúc Tết, chúc mừng năm mới hay và ý nghĩa nhất do các bạn thành viên DoPhuQuy’s Blog sáng tác và chia sẽ.Đó là những vần thơ ngắn mừng tuổi nhau thay cho lời chúc thông thường vào mỗi dịp Tết đến.

Những bài Vè chúc Tết

Những bài thơ vui ngày Tết

Những bài thơ hay viết về ngày Tết

Những câu đối hay về ngày Tết, mừng Xuân mới

CHÚC XUÂN

CUNG kính ta cùng đón xuân sang

CHÚC nhau lời chúc phúc an khang

TÂN niên, gia đạo toàn hạnh phúc

XUÂN mới, vạn bình vạn vạn an.

CUNG CHÚC TÂN XUÂN

Xuân sang hoa nở thắm muôn nơi

Mã đáo thành công với mọi người

Cung chúc Thọ – Khang – Tình – Tài – Lộc

An – Thịnh – Tâm – Trung – Trí mười mươi.

CHÚC BẠN

CHÚC bạn xuân này mãi ấm may

MỪNG sao bạc chẵn tết dư xài

NĂM chờ sự nghiệp đều suôn sẻ

MỚi hẹn duyên tình vẫn đắm say

AN lạc bay về mang lộc tốt

KHANG bình lượn tới gửi điều hay

THỊNH tài ồ ạt chui vào túi

VƯỢNG phước niềm vui sẽ có hoài.

MỒNG BA TẾT, CHÚC TỔ TIÊN

Ở nơi chín suối thuận hòa, an khang

Nhà cao cửa rộng thênh thang

Ô tô nghìn chiếc, nhà hàng nghìn căn

Ung dung du lịch non Bồng

Cưỡi mây, lướt gió, hóa Rồng, hóa Tiên!

Ông bà phước, lộc vô biên

Đừng quên con cháu, ngày xuân nhớ về!

CHÚC TẾT

Tác giả: Nguyễn Văn Thành

Chúc cho thế giới anh lành

Chúc ta giữ mãi tuổi xanh đời người

Hoan ca dưới ánh mặt trời tỏa lan.

Chúc người được sống đàng hoàng bên nhau

Chúc xuân sẽ mãi tươi màu

Chứa chan hạnh phúc ngàn sau vẫn còn.

Chúc người muôn vạn lần hơn

Giữ thanh cao giữ tâm hồn sạch trong

Chúc đời trọn vẹn ước mong

Vàng son giữ trọn ánh hồng trong tim.

Chúc nhau trọn nẻo kiếm tìm

Hoàn viên mỹ mãn trái tim con người..!

LỜI CHÚC ĐẦU NĂM

Thêm một mùa xuân đến thật tươi

Thêm hoa hạnh phúc thắm môi cười

Mọi người chúc tụng lời hay nhất

Gia quyến hợp về đón Têt vui

Thêm tuổi, thêm nhiều kinh nghiệm mới

Thêm xuân, thêm nhựa sống yêu đời

Non nước thanh bình trải nắng phơi..!

Bạn đang đọc nội dung bài viết Suy Niệm Tin Mừng Chiều 30 Tết Bài 1 / 2023 trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!