Đề Xuất 1/2023 # Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng # Top 10 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Với hồn thơ hào hoa và lãng mạn, nhà thơ đã khắc họa nên hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến, trong bài thơ cùng tên, không chỉ mang đậm chất hào hoa, lãng mạn mà hơn hết đó là vẻ đẹp bi tráng của những tượng đài bất tử.

Bi tráng chính là nỗi buồn, là hiện thực khốc liệt của chiến tranh, là những hy sinh, mất mát, đau thương. Nhưng bi chứ không lụy, nỗi buồn ấy không làm lụi tàn ý chí và niềm tin mà ngược lại, nỗi buồn ấy đã hóa thành sức mạnh, thành ý chiến đấu kiên cường. Đây cũng chính là giọng điệu chủ đạo mà Quan Dũng sử dụng trong bài thơ Tây Tiến.

Nhớ về Tây Tiến là nhớ về rừng, về núi. Quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc vừa thơ mộng trữ tình, lại vừa hoang sơ hùng vĩ. Đó là những địa danh xa lạ, những cung đường “khúc khuỷu”, quanh co, những vực cao sâu “nghìn thước”, tất cả như muốn thách thức, cản trở bước chân chinh phục của những chàng trai Hà thành:

” Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Không chỉ vậy, núi rừng Tây Bắc ngày ấy là nơi ngự trị của biết bao hiểm nguy rình rập người lính:

” Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Đối diện với những khó khăn, vất vả, người lính chỉ biết trân mình chịu đựng để bước tiếp cuộc hành trình. Cách ngắt nhịp dồn dập, những từ láy toàn phần, những âm điệu trúc trắc như càng khắc sâu hơn những chặng đường nguy hiểm. Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình tượng con người hiện ra với dáng vẻ hiên ngang cùng với ý chí kiên cường mà không trở ngại nào có thể làm cho tàn lụi. Thế nhưng, hình ảnh đầu tiên về người chiến sĩ trong bài thơ này cũng chính là hình ảnh xót xa, đầy cảm động:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Có lẽ những khó khăn và vất vả trên chặng đường đã vắt kiệt sức lực của chàng trai trẻ. Tác giả rất tinh tế khi sử dụng từ láy “dãi dầu” để nói về những khó khăn, chịu đừng mà người lính Tây Tiến phải trải qua, để đến lúc mỏi mệt, họ mỏi gối, chùn chân. “không bước nữa”, khép lại hành trình thực hiện nghĩa vụ lớn lao của cuộc đời. Nói về sự hy sinh, nhưng tác giả không hề dùng bất cứ từ ngữ nào để nói về mất mát, chia lìa, chỉ với cụm từ “bỏ quên đời” để gợi nhớ với một niềm tự hào to lớn. Người lính hy sinh nhưng đầu vẫn đội mũ, vẫn giữ chặt cây súng trong tay. Họ ra đi, nhưng vẫn không quên nhiệm vụ, không quên lý tưởng của mình.

Nhưng sự hy sinh của người chiến sĩ ấy chỉ là một trong những sự hy sinh của những đồng chí, đồng đội nơi chiến tuyến. Đi dọc suốt bài thơ, sự hy sinh và chia lìa dù không trực tiếp nhưng cũng thể hiện ở khắp mọi nơi, đặc biệt là ở khổ thơ thứ ba, với câu thơ:

” Rải rác biên cương mồ viễn xứ”

“Rải rác” là từ láy, để nói lên mức độ bao phủ của một thứ gì đó mà trong câu thơ này đã định danh đó là “mồ viễn xứ”. Trong câu thơ này, “rải rác” không hề chỉ sự thưa thớt, xa vắng mà nó lại gợi lên mật độ nhiều và không thể nào định lượng được những nắm mồ gửi lại giữa chặng đường của kẻ lữ hành dang dở. Những từ ngữ Hán – Việt như “biên cương”, “viễn xứ” làm câu thơ thở nên trang trọng và linh thiêng như chính tâm hồn và ý chí của những chàng trai trẻ bởi tất cả họ cùng cất lên một ý chí chiến đấu kiên cường:

” Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh “

Họ “chẳng tiếc đời xanh” vì một lẽ hiển nhiên mà bất cứ người trai nào trong thời kỳ này đều phải thực hiện: “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Họ đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, của non sông, đi theo lời kêu gọi toàn dân kháng chiến của Bác Hồ và đi theo tiếng gọi của chính trái tim mình:

“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ, như cha, như vợ như chồng

Ôi Tổ quốc nếu cần ta sẽ chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”

Họ sẵn sàng bỏ lại ước mơ, bỏ lại mái trường, bỏ lại những tình cảm thân thương, lên đường bảo vệ quê hương được trọn vẹn:

“Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hương rượu say”

Vì vậy, họ chẳng tiếc đời xanh, chẳng tiếc tuổi trẻ bởi họ đã sống đúng với lý tưởng và hoài bão ước mơ. Đây chính là một biểu hiện hùng hồn cho tinh thần bi tráng của bài thơ. Con người ta vượt lên tất cả những tình cảm tủn mủn, nhỏ nhặt đế sống vì cái lớn lao, sống vì lý tưởng cao đẹp.

Bài thơ đã nhiều lần nói về cái chết, nhưng cái chết nào cũng đẹp, cái chết nào cũng hiên ngang, cái chết nào cũng tạc nên “dáng đứng Việt Nam” bất diệt, dẫu tiễn đưa họ không phải là cờ hoa, biểu ngữ, cũng không phải là những tiếng đại bác đưa tiễn vong linh hay những bài điếu văn ca ngợi chiến công lừng lẫy, họ ra đi rất âm thầm trong vòng tay đồng đội, với chiếc áo nâu sòng của người bạn gửi vội thay cho manh chiếu không thể tìm được giữa rừng, cùng với đó là sự xót xa của thiên nhiên tiễn biệt người bạn đồng hành suốt chặng đường ngược dòng sông Mã:

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành “

Ở đây, chất bi tráng được thể hiện rõ ràng nhất, với sự trang trọng bao hàm nỗi xót xa. Cả thiên nhiên, núi rừng cùng cất lên khúc hát tiễn đưa, như giai điệu trầm hùng của khúc ca “Hồn tử sĩ”. Vẻ đẹp bi tráng hiển hiện trong từng câu thơ, trong từng hình ảnh nhưng chỉ khi dừng lại ở bức chân dung người lính, tinh thần ấy, vẻ đẹp ấy mới được bộc lộ một cách rõ ràng và cụ thể.

Bằng tài năng nghệ thuật của mình, Quang Dũng đã phác họa Tây Tiến với những đường nét, hình khối, màu sắc trong tâm tưởng, đó là những ký ức không bao giờ phai nhạt, đôi khi, những ký ức ấy lại còn được đệm thanh âm, giai điệu để trở nên xót xa như chính tâm hồn của tác giả khi nhớ lại thời kỳ chiến đấu kiêu hùng trên mặt trận phía Tây. Có thể nói, Quang Dũng đã tạc nên một tượng đài bất tử về hình ảnh người lính trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đó là tượng đài tập thể gân guốc, oai phong, nghiêm trang và đẹp một cái kiêu hùng.

Chiến tranh là có mất mát, hy sinh. Đã có biết bao tác phẩm nói lên điều đó. Nhưng nét riêng của Quang Dũng chính là thể hiện sự hy sinh ấy một cách hào hùng. Cả bài thơ nói về cái chết, nói về sự hy sinh, nhưng không hề xuất hiện hai từ ngữ ấy trực tiếp. Đó chính là cái hay, là cái mạnh mẽ và kiên cường. Để rồi một tượng đài liệt sĩ được dựng lên trên thực tại khắc nghiệt bằng cái mạnh mẽ và kiên cường ấy, tạo nên vẻ đẹp bi tráng bất tử trong văn học Việt Nam.

Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Tây Tiến Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng – Bài làm 1

Tây Tiến là một bài thơ tiêu biểu của Quang Dũng, là thành tựu của thơ ca kháng chiến chống Pháp, là một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính. Trần Lê Văn đã từng có những nhân xét như: ” Trước Tây Tiến Quang Dũng đã có những khúc dạo đàn khá hay nhưng thật sự chỉ đến Tây Tiến Quang Dũng mới thực sự trình làng một phong cách thơ, một diện mạo thơ”. Đó là một phong cách hồn hậu, hào hoa. Không những thế qua bài thơ Tây Tiến ta thấy được vẻ đẹp bi tráng của những anh hùng Tây Tiến.

Trước hết là khổ thơ đầu của bài, Quang Dũng thể hiện sự thể hiện nỗi nhớ của mình về đoàn quân Tây Tiến thông qua nỗi nhớ áy ta thấy được những hình ảnh bi tráng thể hiện vẻ đẹp của những anh hùng Tây Tiến:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đem hơi”

Nỗi nhớ ấy bắt đầu bằng tiếng gọi Tây Tiến ơi. Tiếng gọi đó sao mà nghe tha thiết như thế , nó như vọng vào không gian của con sông Mã, quay ngược lại với những kỉ niệm thời xưa. Một thời đạn bom nhưng cũng rất vui tươi hào hùng. Nỗi nhớ ây là nỗi nhớ chơi vơi. Hiệp vẫn “ơi” cho ta thấy một cảm giác vang xa nỗi nhớ ấy như vọng vào mấy năm trước để trở về những kỉ niệm vui tươi ấy. Hai địa danh Sài Khao và Mường Lát hiện lên khắc sâu vào nỗi nhớ của tác giả. Hai địa danh ấy gắn với những cuộc hành quân của đoàn quân tây tiến. Thật khá khen cho cái ” đêm hơi”. Đó là sự di chuyển nhẹ nhàng của những chiến sĩ đoàn quân tây tiến hay chính là những hơi sương trong đêm hành quân ấy thể hiện những khó khăn vất vả của đoàn quân.

Cuộc hành quân ấy còn nhiều gian nan và chính những gian nan ấy đã làm nên vẻ đẹp bi tráng của những anh hùng tây tiến:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Những câu thơ ấy đã mang đến những hình ảnh của cuộc hành quân gian khổ của Tây Tiến. những câu thơ với mật độ thanh trắc dày đặc đã cho thây được sự trúc trắc trong chính đường đi của đoàn quân. Nó như lột tả hết những độ cao sâu thăm thẳm mà những đoàn quân tây tiến kia phải vượt qua. Dẫu có xuống nơi vực sâu thăm thẳm hay đến những núi cao tưởng như ngọn súng chạm đến tầng mây kia thể hiển một vẻ đẹp hiên ngang của người lính tây tiến. Những đọ cao độ sâu ấy được tính bằng ngàn thước. mục đích của nó nhâm nhấn mạnh vào những gian khổ mà đoàn quân phải vượt qua. Đến câu thơ cuối thì một dòng toàn thanh bằng lại được xuất hiện như bù lại cho những câu thơ mang nhiều thanh trắc. Sự bằng ấy mang đến cho chúng ta một cảm giác thật sự yên bình.

Những gian nan khó khăn ấy mở nguồn cho hình ảnh đẹp vi tráng của những người lính ấy:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Hình ảnh người lính gục lên súng mũ dãi dầu không bước nữa là một hình ảnh đẹp. câu nói ấy thể hiện sự nói giảm đi cái chết, cái hi sinh của những người chiến sĩ ấy. Đó là một vẻ đẹp bi tráng, cái hi sinh kia là bi nhưng trong cái bi ấy ta lại thấy một cái tráng lệ vô cùng. Mất đi nhưng người lính ấy chết trong tư thế nhẹ nhõm không đau đớn chỉ là bỏ quên đời thôi. Tác giả lại nhớ đến những kỉ niệm với những buổi chiều và ban đêm với những con thú dữ gầm rú lên. Quang Dũng nhớ những đem mùa nếp xôi ở Mai Châu.

Đến đoạn thơ tiếp theo hình ảnh những người lính Tây tiến hiện lên với những đêm liên hoan văn nghệ trên mảnh đất Lào với những cô gái Viên Chăn xinh đẹp kiều diễm với tình dân quân thân thiết đẹp sao. Và từ những đêm liên hoan ấy những người con của tổ quốc lại ra đi trong buổi chiều với sự quyến luyến của bao người. và từ đó hình ảnh của những chàng trai Tây Tiến cũng hiện lên thật khổ cực mà lại thật oai hùng:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Những cô gái Viên Chăn trong đêm liên hoan ấy e ấp trong những điệu kèn tiếng trống. sau đêm liên hoan ấy những chàng trai tây tiến lại lên đường ra đi để bảo vệ biên giới. Hình ảnh những người chiến sĩ tây tiến hiện lên với những ngoại hình cụ thể:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Đây là những câu thơ tả về những người chiến sĩ tây tiến. Những người lính ấy xuất hiện với hình ảnh một đoàn binh không mọc tóc. Những câu thơ có thể hiểu theo hai cách. Đó là đoàn quân ấy cắt tóc đi để phù hợp với điều kiện chiến đấu gian khổ. Hay cũng có thể hiểu rằng sinh hoạt trong chốn rừng thiêng nước độc rửa chân rụng lông, gội đầu rụng tóc. Hay nó chính là kết quả của những trận sốt rét rừng. Dù hiểu cách thì đoàn quân Tây Tiến vẫn hiện lên thật đẹp. Hình ảnh quân xanh màu lá là những hình ảnh gầy gò ốm nhưng không hề yếu mà vẫn dữ oai hùm. Mắt trừng gợi cho ta liên tưởng đến sự căm thù giặc của những anh hùng tây tiến. Hay đó chính là sự thức trắng không ngủ được vì lo cho biên giời hoặc mở mắt để nhớ những bóng kiều thơm kia. những câu tho này được coi là mộng rớt buồn rơi.

Những đoạn thơ cuối bài là đoạn thơ thể hiện rõ nhất vẻ đẹp bi tráng của những anh hùng Tây Tiến:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. “

Đó sự hi sinh của những người chiến sĩ ấy, họ phần lớn là những trí thức Hà Thánh ngày đêm nghĩ đến que nhà với những bóng hồng trong tim mong một ngày nào đó sẽ được gặp lại mà giờ đây có những người mồ rải rác khắp biên cương. Đó chính là cái bi của vẻ đẹp người lính. Nhưng nó lại rất tráng vì người ta chết đi vì lí tưởng cao cả của mình thì đó chính là cái chết đẹp. Những áo bào thì thay bằng chiếu thể hiện sự giản dị của những người lính. Chiến trường khắc nghiệt làm cho anh phải ra đi chỉ có mảnh chiếu che thân. Và con sông Mã một mình vang lên khúc nhạc như đưa tiễn linh hồn các anh về nơi an nghỉ cuối cùng.

Qua đây ta thấy được những vẻ đẹp bi tráng của những chiến binh tây tiến, cảm nhận được như thế chúng ta càng thêm yêu hơn những con người vì quê hương mà quyết tâm gìn giữ thà hi sinh tất cả cũng không chịu rời bước để rồi trở thành một bức tượng đài bằng thơ vĩnh cửu với thời gian.

Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng – Bài làm 2

Quang Dũng là nhà chiến sĩ là nhà thơ nổi tiếng của dân tộc Việt Nam, những hình ảnh nổi bật trong bài thơ được Quang Dũng miêu tả rất chi tiết và mang đậm giá trị nổi bật trong phép xây dựng nhân vật của nhà thơ, hình ảnh nổi bật bi tráng nổi bật nhất trong bài thơ là bài Tây Tiến.

Bài thơ nổi bật với những hình tượng ngôn ngữ và nhân vật nổi bật trong tác phẩm, giá trị của nó không chỉ đem lại cho con người những hoài niệm nỗi nhớ và còn đậm nét lên những giá trị về hình tượng người lính trong toàn bộ tác phẩm, hình ảnh người lính hiện lên với những nét kiêu hùng và lãng mạn thể hiện những nét bi tráng trong phong cách sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ.

Với những hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt nhưng đoàn quân tây tiến đã làm nổi lên những giá trị to lớn trong toàn bộ tác phẩm, giá trị của nó không chỉ đem lại những nổi nhớ và khắc họa lên toàn bộ hình ảnh của nhân vật về một giá trị và hình tượng người lính hiện lên với những nỗi nhớ thương da diết và vô cùng mạnh mẽ khắc nghiệt. Những hình ảnh nổi bật được hiện lên trong toàn bộ tác phẩm đã khắc họa sâu sắc trong toàn bộ giá trị của tác phẩm, những hình tượng đó đã khắc họa sâu sắc sự kiên cường và ý chí quyết tâm trong việc xây dựng ngôn ngữ điển hình và nhân vật phong phú.

Dù cho thiên nhiên có khăc nghiệt nhưng những người chiến sĩ vẫn luôn luôn kiên cường và tạo nên những phong cách rất điển hình:

Dốc lên khúc khuỷu sốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây sung ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Dù cho thiên nhiên có khắc nghiệt nhưng hình tượng người lính vẫn luôn nổi bật và điển hình trong cách tạo dựng lên giá trị cho toàn bộ tác phẩm, những giá trị đó làm tăng lên phong cách sử dụng ngôn ngữ để miêu tả nhân vật trong tác phẩm. Những giá trị đó đã làm tăng lên những nét điển hình trong nghệ thuật của tác giả với những nét nổi bật đó, tác phẩm hiện lên với những phong cách đặc trưng, người chiến sĩ hiện lên với vẻ oai phong lẫm liệt.

Dù cho không gian thời gian có làm tăng lên mức độ nguy hiểm nhưng điều đó không làm chùi bước kiên trì và sự quyết tâm để làm nên những chiến công lừng lẫy cho đoàn quân Tây Tiến:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân anh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Với những nét kiên cường dù cho thiên nhiên có khắc nghiệt làm cho ý chí và lòng quyết tâm của chiến sĩ không hề bị phôi phai, những đoàn binh phải chịu đựng hàng trăm những gian nan và nguy hiểm đó đã tác động xấu đến thân thể của người lính, nhưng nó không làm phôi phai đi tinh thần của người chiến sĩ Tây Tiến.

Dù cho có bao nhiêu gian nan nguy hiểm nhưng những người chiến sĩ của ta vẫn luôn kiên trì bền bỉ và làm nên những giá trị mạnh mẽ và to lớn cho dân tộc ta, những hình ảnh nổi bật trong toàn bộ tác phẩm, đã làm tăng lên sự sống và ý chí quyết tâm đánh thắng được kẻ thù, bao nhiêu gian nan nguy hiểm nhưng không bao giờ chùi bước, điều đó có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ tác phẩm, nó làm tăng lên giá trị trong việc sử dụng ngôn ngữ và sự sống của mỗi chúng ta khi ngày hôm nay đang được hưởng những thành quả do những người chiến sĩ đã phải bỏ qua xương máu và tuổi thanh xuân của mình để có thể hoàn thành.

Với hàng loạt những nét nổi bật và điển hình trong toàn bộ tác phẩm, người chiến sĩ Tây Tiến được hiện lên trong những hoàn cảnh hết sức đặc biệt đó là trong những bước chân hành quân đang chinh chiến trên những đặc khu nguy hiểm và vô cùng gian nan, những điều đó làm nên những giá trị to lớn trong toàn bộ tác phẩm của người. Những hình ảnh tiêu biểu và điển hình đó đã khắc họa sâu sắc toàn bộ nhân vật trung tâm trong toàn bộ tác phẩm là hình tượng người lính chiến sĩ, luôn phải chịu đựng những đau đớn do chiến tranh gây lên, và những điều đó đã làm nổi bật lên sự anh dũng kiên cường:

Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo

Những hình ảnh người lính đang hiện lên ngày càng sâu sắc và mang những ý nghĩa to lớn trong toàn bộ tác phẩm, giá trị của nó không chỉ để lại một người linh luôn kiên trì và vượt qua mọi bước chân nguy hiểm để có thể chiến thắng được kẻ thù, dù cho không gian chiến đấu có nguy hiểm tới mức độ nào đi nữa thì hình tượng người lính vẫn hiện lên vô cùng đặc sắc và độc đáo, tạo dựng nên hình tượng người lính trong toàn bộ tác phẩm.

Hình ảnh người lính đẹp và đang gian nan vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm để có thể làm nên những chiến công lừng lẫy vượt qua bao gian nan để có thể chiến thắng được quân thù, dù cho nguy hiểm nó luôn dình dập đe dọa sự sống của con người nhưng người chiến sĩ của ta vẫn luôn kiên trì vượt qua dù cho nó có bao gian nan và vất vả. Cuộc sống có muôn vàn những khó khăn và vất vả nhưng những người chiến sĩ vẫn luôn vững bước vào một cuộc đời có ý nghĩa và tươi đẹp hơn, những điều đó không chỉ để lại cho con người những động lực để có thể phấn đấu làm nên mọi điều tốt đẹp.

Và người lính hiện lên trong những giấc mơ và mộng gửi về những người thân yêu trong gia đình, dáng kiều thơm đó là những người chiến sĩ đang mơ về một thời đang cắp sách tới trường, và mắt trừng gửi mộng ra biên giới để nói về ý chí quyết tâm đánh thắng được kẻ thù xâm lược của dân tộc Việt Nam, những điều đó có ý nghĩa mạnh mẽ làm sống lên sức sống của con người:

Doan trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về viên chăm xây hồn thơ

Với những nghệ thuật nổi bật Quang Dũng đã xây dựng lên một hình tượng người lính điển hình, và giá trị đó đã làm tăng lên giá trị về phép sử dụng ngôn ngữ trong phong cách xây dựng nhân vật của tác giả. Với những tình cảm đó tác giả đang dần sống trong những cảm xúc nhớ thương về những điều đã qua, đó là những kỉ niệm hạnh phúc và da diết nhất trong cuộc đời của mỗi con người, cảm xúc đó đã được thể hiện và ngập tràn trong những cảm xúc riêng, nó bao chứa trong đó là tình cảm chân thành và da diết trong cuộc đời của tác giả về chính tâm hồn của mình, với lời thơ đầy cảm xúc tác giả đã thể hiện được mạnh mẽ tâm hồn và trái tim đang nồng nhiệt cảm xúc của chính mình.

Những kỉ niệm đó đã mang đậm những nét đặc sắc và một trái tim đang lên thơ của tác giả, với những nét bi tráng trong việc xây dựng nên hình tượng của nhân vật tác giả, đang được sống trong những khoảnh khắc hoài niệm về quá khứ đã xa, đó là những kí ức ngủ quên, và những kí ức trong ngập tràn cảm xúc của con người, biết được những điều đó, chúng ta sẽ thấy được tài năng của tác giả thật cao siêu và nó mang một ý nghĩa to lớn về tâm hồn cũng như giá trị sống của mỗi con người.

Với tài năng của mình, Quang Dũng đã xây dựng được thành công hình tượng người lính với những tính chất điển hình, và mang đậm giá trị về tài năng và phẩm giá luôn luôn được con người đề cao và cải thiện mỗi ngày.

Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến

Mở bài Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến

Trong cuộc kháng chiến cứu nước (1945-1954) của dân tộc, những người lính có vị trí rất quan trọng. Vì vậy, họ không chỉ là biểu tượng đẹp đẽ cho con người Việt Nam mà trở thành hình tượng nghệ thuật trung tâm, đặc sắc trong nhiều tác phẩm. Một trong những bài thơ độc đáo và được đánh giá là dựng nên một tượng đài mới về người lính cụ Hồ chính là Tây Tiến của Quang Dũng.

Thân bài Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến

Để nói hết lên vẻ đẹp bi tráng của người lính trong chiến tranh, nhà thơ Quang Dũng đã sử dụng bút pháp nghệ thuật lãng mạn. Bút pháp này có khuynh hướng tô đậm những cái đặc biệt, cái khác thường và sử dụng thủ pháp đối lập nhằm tác động mạnh mẽ vào cảm quan, gây ấn tượng mạnh sâu sắc cho người đọc. Vì vậy, đọc bài thơ Tây Tiến ấn tượng mạnh mẽ nhất về người lính Tây Tiến chính là phẩm chất cam trường, quả cảm nhưng cũng rất lãng mạn, nên thơ. Hai phẩm chất này đan cài hòa quyện vào nhau tạo nên một tượng đài về anh lính cụ Hồ của tần lớp tri thức, tiểu tư sản.

Trước hết để nói về vẻ đẹp bi tráng của người lính, Quang Dũng đã dựng nên một khung cảnh thiên nhiên khốc liệt đầy gian nan, thử thách. Đây chính là nơi những người lính Tây Tiến từng đi qua, đã từng sống và chiến đấu. Trong con mắt đầy cảm hứng lãng mạn và giàu trí tưởng tượng của người lính, những cảnh vật ấy lại càng trở lên hung hãn, dữ tợn. Tất cả đều như muốn án ngữ, đe dọa, vồ chùm lấy con người.

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

………………………

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm mường hịch cọp trêu người

Thực ra đứng trước thiên nhiên dữ dội con người không hề sợ hãi mà còn làm tôn lên vẻ kỳ vĩ, khỏe đẹp của con người. Bằng việc sử dụng thiên nhiên làm nền cho sự xuất hiện của người lính Tây Tiến. Bởi lẽ trên cái đỉnh núi cheo leo hiểm trở kia chúng ta vẫn thấy dáng vẻ sừng sững, ngang tàn đầy tính sáng tạo của nhà thơ. Từ độ cao, độ sâu ngàn mét kia tầm mắt người lính vẫn thâu tóm vẻ đẹp của thiên nhiên hùng vĩ, của những bản làng trong cơn mưa rừng: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Tuy nhiên vẻ đẹp bi tráng của người lính thể hiện rõ nhất qua đoạn thơ :

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Một đoàn quân với hình hài thật kì dị không có tóc nước da màu xanh tàu lá. Một hình ảnh trần trụi và khốc liệt về người lính ngày ấy. Họ phải sống chiến đấu nơi nước độc rừng thiêng, sốt rét triền miên, thiếu ăn, thiếu thuốc men phương tiện.

Điều này đã làm tàn phá sức khỏe của họ, mái tóc đã rụng trọc, nước da thì xanh xao nhưng lấy cái bi để toát lên cái tráng mới là dụng ý thật sự của tác giả. Bởi trong dáng vẻ kì dị xanh xao đó họ vẫn toát lên cái bừng bừng khí thế dữ oai hùm của đoàn binh. Cách miêu tả mang tính tương phản giữa ngoại hình và nội tâm đã làm toát lên vẻ đẹp tinh thần của người năm xưa.

Nhưng họ sống anh hùng thì chết cũng thật anh hùng. Trong bài thơ, nhiều lần Quang Dũng đã nói về cái chết, nhưng âm hưởng bài thơ không hề có cảm giác bi lụy mà vẫn mạnh mẽ hào hùng vẫn truyền tay người đọc cái tinh thần quả cảm của lớp người ra trận ngày ấy. Bởi họ- những người lính chỉ gục bên sống mũ, bỏ quên đời sự ra đi của họ thật nhẹ nhàng. Đó là tư thế không chịu lùi bước không chịu khuất phục và cái chết của họ giống như đi vào một giấc ngủ bỏ quên đời rất thanh thản nhẹ nhàng.

Đúng vậy, dấn thân vào nguy hiểm họ biết rõ sự gian khổ và ác liệt. Vì thế những nấm mồ viễn xứ nằm rải rác biên cương có thể ghê sợ và ớn lạnh nhưng với những người lính tây tiến không là gì cả. Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh đây chính là lời thề, quan niệm sống, phương châm sống của những người lính- những người có trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc. Để rồi khi các anh ngã xuống bộ quân phục của các anh hóa thành những chiếc áo bào để đưa các anh về với đất mẹ quê hương. Nói về sự bi thương nhưng bằng hàng loạt các từ hán việt như áo bào, độc hành đã gợi nên nét cổ kính trang trọng nhưng không quá xa cách. Chữ về đã là nhịp cầu nối tiếp để các anh nằm vào lòng mẹ tổ quốc thân yêu. Và dòng sông Mã gắn với vui buồn của các anh đã gầm lên khúc độc hành. Chỉ bằng âm vần Quang Dũng đã truyền được vào câu thơ tất cả nỗi đau đớn, bi tráng của người chiến sĩ.

Kết luận Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến

Có thể nói bằng tâm hồn thơ phong phú, giàu tài năng, sáng tạo Quang Dũng đã rất thành công trong việc khắc họa vẻ đẹp bi tráng của người lính thời kì đầu kháng chiến chống Pháp. Những người lính thủ đô- những con người mà tinh thần quả cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu, chiến thắng tình cảm cách mạng đến nay vẫn là một bài học nhân sinh cần thiết cho chúng ta. Bài thơ Tây Tiến đã khắc họa rõ nét hình tượng người lính như một tượng đài bất tử về người lính vô danh một thời đánh giặc không bao giờ quên.

Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến

[Văn mẫu học sinh] Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến

1.

Mở bài:

_giới thiệu được tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.

_Nêu vấn đề nghị luận: vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến.

2. Thân bài: 2.1. Luận điểm 1: Khái quát về tác giả, tác phẩm.

_nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp.

_đa tài: vẽ tranh, viết nhạc, làm thơ…

_tập thơ tiêu biểu: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng.

_giọng thơ hồn hậu, giản dị, linh hoạt, phóng khoáng.

_ viết vào mùa xuân năm 1948 tại Phù Lưu Chanh.

_cảm hứng và nội dung chủ đạo: nỗi nhớ của tác giả dành cho thiên nhiên, con người Tây Tiến.

_Tên ban đầu của bài thơ là ” Nhớ Tây Tiến”, sau đó đã được Quang Dũng chỉnh sửa lại thành “Tây Tiến”.

_Tây Tiến là tên một đoàn binh được thành lập từ năm 1947, với cách chiến sĩ là học sinh, sinh viên trí thức Hà Nội, có nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới Việt Lào. Nhà thơ Quang Dũng là đại đội trưởng của binh đoàn Tây Tiến.

2.2. Luận điểm 2: Vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến.

Vẻ đẹp bi tráng: vẻ đẹp hào hùng, anh dũng, tràn đầy chí khí, mạnh mẽ và lạc quan của người lính cụ Hồ vượt lên trên mọi chết chóc, hi sinh gian khó.

Chân dung bi tráng của người lính Tây Tiến được tái hiện qua khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, đầy thử thách.

_ thiên nhiên khắc nghiệt với núi cao, vực sâu:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

+ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm: con đường hành quân quanh co, ghập ghềnh, hiểm trở, thăm thằm và gợi độ sâu hun hút của đáy vực.

+ Heo hút cồn mây súng ngửi trời: câu thơ gợi tả độ cao. “heo hút” gợi không gian hoang lạnh đến rợn người.

+ Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống: điệp từ “ngàn thước”- một ước lệ chỉ độ cao. Nhịp thơ 4/3 nêu bật tính chất hiểm trở, dữ dội của thiên nhiên.

+ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi: câu thơ sử dụng toàn bộ thanh bằng tạo cảm giác thư thái, xua tan đi mệt mỏi, căng thẳng trong những câu thơ trước.

_đối mặt với gian nan, hiểm nguy thậm chí là hi sinh.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

+ “dãi dầu, gục”: những động từ mạnh gợi lên gian khổ, hi sinh.

+ “không biết nữa, bỏ quên đời”: cách nói giảm, nói tránh làm giảm bi thương trước cái chết oanh liệt của người chiến binh Tây Tiến.

Người lính Tây Tiến bi tráng qua kỉ niệm về cuộc vượt thác trên dòng sông nước miền Tây. Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người bên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

+ những câu thơ mang đậm phong vị cổ kính.

+ “hồn lau”: nghệ thuật nhân hóa đã làm hình ảnh cây lau có hồn, có hình, có ảnh.

+ điệp từ “có thấy, có nhớ”: gợi nhắc về một miền kỉ niệm sâu sắ.

+ con thuyền vượt thác dưới đôi tay chèo lái khéo léo được gợi ra từ tâm tưởng. Trên dòng “nước lũ”, vẫn miệt mài hăng say lao động.

Bức tượng đài ngôn từ về người chiến binh Tây Tiến.

_Chân dung người lính Tây Tiến được gợi ra từ ngoại hình, tâm hồn và lí tưởng.

+ Ngoại hình: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc. Quân xanh màu lá dữ oai hùm: mái đầu trọc là hậu quả của chiến tranh khắc nghiệt; màu lá xanh màu của lá ngụy trang, màu xanh của áo bộ đội, màu của nước da xanh xao; dữ oai hùm là ẩn dụ của sức mạnh, khí thế của một đoàn quân.[ Hình ảnh của đoàn quân mang vẻ đẹp khác lạ, oai dũng, kiêu hùng.

+ Tâm hồn Mắt trừng gửi mộng qua biên giới. Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. “mắt trừng” là đôi mắt mở to, căng thẳng giận dữ lòng căm thù, “gửi mộng” là phút giây xao xuyến, bịn rịn trong tâm trí.

_Hiện thực cuộc sống chiến đấu nơi chiến trường.

+ Rải rác biên cương mồ viễn xứ: ” rải rác” chỉ số lượng ít ỏi, từ Hán Việt ” biên cương, viễn xứ” chỉ vùng đất xa xôi của Tổ quốc mà ít người qua lại.

+ Áo bào thay chiếu anh về đất /Sông Mã gầm lên khúc độc hành: “anh về đất” sự hi sinh, còn “áo bào” là áo của những chiến tướng thời xưa.

“sông Mã” là biểu tượng của quê hương đất nước trong biện pháp nhân hóa “gầm” vang khúc ca tiễn biệt người lính về với đất mẹ.

Lời thề nguyện mãi gắn bó với mảnh đất miền Tây gian khó. Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

_thái độ lên đường dứt khoát “không hẹn ước, chẳng về xuôi”. Người chiến binh Tây Tiến hiến dâng cả máu xương và linh hồn cho quê hương.

Luận điểm 3: Khái quát nghệ thuật, nội dung.

Vẽ lên bức tượng đài người lính bi tráng là tiếng thơ tài hoa của Quang Dũng trong việc sử dụng thành công biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, liệt kê…[ tái hiện thành công hình ảnh bi tráng của chiến binh Tây Tiến, của lớp lớp thế hệ thanh niên chống Pháp lúc bấy giờ.

3. Kết bài:

Khẳng định vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến: họ là chân dung tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của một thời oanh liệt.

Quang Dũng không phải cái tên xa lạ với bạn đọc yêu thơ. Trên thi đàn văn học kháng chiến chống Pháp, ông như một tiếng thơ độc đáo. Thơ ông là sự kết hợp hài hòa của nhạc, của họa. Có gì lạ để phải ồ lên kinh ngạc đâu bởi Quang Dũng là con người đa tài lắm: vẽ tranh, làm thơ, sáng tác nhạc. Nhưng phải chăng, ông yêu thơ hơn cả? Tiếng thơ ông đằm thắm, nhẹ nhàng, tinh tế và chọn thơ làm con đường gửi gắm, điểm xuyết cho những nốt nhạc, cho những nét vẽ? Tập thơ Mây đầu ô cùng Thơ văn Quang Dũng chính là minh chứng cho tài năng của người thi sĩ tài hoa này.

Tây Tiến là đoàn binh được thành lập vào năm 1947 với nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới Việt Lào. Những chiến binh Tây Tiến đa phần là những học sinh, sinh viên trí thức Hà Nội. Nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ xếp lại bút nghiên, bỏ lại ghế đá, giảng đường và ra đi vì lý tưởng bảo vệ Tổ quốc. Quang Dũng cũng là người thanh niên trí thức đã ra đi với ý chí quyết tâmn và là người đại đội trưởng của binh đoàn Tây Tiến. Vì vậy sau khi rời đơn vị, vào năm 1948, nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng trong lòng nhà thơ và là mạch nguồn để tại Phù Lưu Tranh, Tây Tiến- đứa con tinh thần của nhà thơ ra đời.

Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến được khắc họa qua gian khổ, khó khăn. Trong cái bi, cái chết và khắc nghiệt của cuộc sống kháng chiến, người đọc không cảm nhận được thái độ buồn bã, ảm đạm mà phảng phất âm hưởng tráng lệ, hào hùng. Họ mang khí thế, lòng quyết tâm của tuổi trẻ với tinh thần: “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.

Trước hết, vẻ đẹp bi tráng đã được tái hiện qua khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, đầy thử thách của thiên nhiên Tây Tiến:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút còn mây súng gửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Nhà thơ làm nổi bật địa hình hiểm trở của Tây Tiến với những núi cao và vực sâu.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút còn mây súng ngùi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Diễn tả độ cao muôn trùng của núi cùng với sự chênh vênh, hiểm nguy, nhà thơ đã dùng hai từ láy rất tạo hình đó là “khúc khuỷu” và “thăm thẳm” cùng điệp từ “dốc”. Hình dung trước mắt người đọc là con đường hành quân gian khó và càng thêm khắc nghiệt bởi “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Nhịp thơ 4/3 đã ngắt câu thơ làm hai nhịp tạo cảm giác câu thơ bị bẻ đôi một cách đột ngột. Dốc vút lên thẳng đứng rồi đổ xuống thành vực sâu thẳm. Người chiến binh phải trải qua bao thách thức, trở ngại của thiên nhiên, họ vẫn giữ vững mãi ý chí và niềm tin bước tiếp cùng tinh thần trẻ trung “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Địa hình hiểm trở, không gian “sương lớp” bủa vây, cái hoang lạnh bao phủ cả núi rừng nhưng lại không khiến tinh thần người lính trùng xuống. Họ đang đứng trên ngọn núi cao nhất nên ngỡ súng đã chạm đến đỉnh trời. Thanh súng chiến đấu luôn được giữ chắc bên mình họ để cùng làm nhiệm vụ, trở thành người bảo vệ giúp người lính tiêu diệt kẻ thù. Lúc này đây, khi người lính đứng trên đỉnh cao thì ngọn súng còn lên cao hơn để “ngửi” trời. Bút pháp nhân hóa được sử dụng rất tinh tế bởi đó là cách diễn đạt tự nhiên và đậm chất lính: tinh nghịch và đi dỏm. Người lính mang trong mình khí phách lớn lao vượt qua bao gian nan, nguy hiểm. Họ như mang hào quang của những chiến sĩ thời Trần với hào khí Đông A. Câu thơ là những nét vẽ gân guốc thể hiện ý chí của anh bộ đội Cụ Hồ trong gian khó. Và rồi khí phách của các anh lại được Quang Dũng khắc họa trong một câu thơ dịu nhẹ hơn với toàn thanh bằng “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ tạo cảm giác bâng khuâng. Người chiến binh sau chặng đường hành quân gian khó đã nghỉ chân nơi lưng chừng núi, nơi chân đèo. Họ hướng tầm mắt ra xa để cảm nhận vẻ đẹp của núi rừng trong làn mưa đang giăng mắc. Hình ảnh “nhà ai” gợi lại bao thương nhớ trong lòng người đọc. “nhà ai” phải chăng là nhà của những người dân núi, phải chăng là mái nhà cũ xưa của họ. Nét vẽ của nhà thơ thật tinh tế và mềm mại. Khí phách của người lính giờ đây không phải sự uy nghi sừng sững mà là ý chí, là trái tim là tinh thần hướng đến mái ấm. “nhà ai” cũng là nguồn sức mạnh cổ vũ tinh thần họ bước tiếp chiến đấu vì Tổ quốc.

Quang Dũng đã ghi lại rất hiện thực những gian nan, hiểm nguy người lính Tây Tiến ngày ngày đối mặt thậm chí là hi sinh.

Anh bạn đãi giàu không bước nữa Gục lên xuống mũ bỏ quên đời.

Những hiểm nguy, vất vả, nhọc nhằn đã trực tiếp thể hiện qua từ “dãi dầu, gục”. Cùng với đối rét, ốm đau, nhiều người lính đã ngã xuống trên con đường hành quân khi chưa kịp tới chiến trường. Nhưng Quang Dũng đã diễn tả cái bị ấy bằng cảm hứng lãng mạn qua cụm từ “không biết nữa, bỏ quên đời” khiến sự ra đi của các anh sẽ trở nên thanh thản, nhẹ nhàng. Dường như họ chỉ đang nghỉ chân, ngủ quên một cách vô tư sau khi hành quân mệt mỏi. Sự nhẹ hóa cái chết của những chiến binh Tây Tiến càng tô đậm tinh thần hào hùng, bất khuất của đoàn binh. Trong mọi hoàn cảnh, người lính vẫn luôn trong đội hình chiến đấu. Không khi nào họ quên đi nhiệm vụ trên vai. Cảnh sắc thiên nhiên Tây Bắc tiếp tục được mở ra cả về không gian, thời gian. Tất cả đều hoang vu, bí hiểm như một thử thách:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Âm thanh “thác gầm, cọp trêu người” được diễn tả bằng nghệ thuật nhân hóa và thanh trắc nặng, gắt đã tô đậm âm hưởng dữ dằn và ghê rợn của núi rừng hoang vu luôn lặp đi lặp lại mỗi “chiều chiều” và “đêm đêm”. Những âm thanh đó đe dọa tính mạng, tinh thần người lính Tây Tiến trong mọi không gian, thời gian. Con đường hành quân gian khó mà còn chứa đựng hiểm nguy rình rập. Hành quân trong nơi rừng thiêng nước độc giúp chúng ta càng hiểu hơn về những gian lao, thử thách người lính Tây Tiến phải đối mặt cùng khí phách hiên ngang, tinh thần vượt lên gian khó của họ.

Bi tráng không chỉ được khắc họa qua con đường hành quân gian khó. Nó còn được nhớ qua kỷ niệm về cuộc vượt thác trên dòng sông nước miền Tây:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đung đưa.

Trong khung cảnh chia ly đượm buồn của buổi chiều sương huyền ao hay cũng là khói sương của hoài niệm gợi lên tâm trạng bâng khuâng của người đi- các chiến binh Tây Tiến. Hình ảnh hồn lau qua cảm nhận của tâm hồn nhạy cảm đã trở thành sinh thể có hồn. Phải chăng đó là linh hồn của những người lính đã ngã xuống và ẩn khuất nơi ngàn lau để có thể tiếp tục đồng hành cùng đồng chí đồng đội. Nhưng có lẽ hình ảnh bi tráng nhất chính là con thuyền vượt thác dưới đôi tay chèo khéo léo. Hình ảnh người vượt thác không được miêu tả cụ thể mà chỉ được gợi qua hai nét vẽ đó là “trôi dòng nước lũ”- tư thế hào hùng, hiên ngang, sự chủ động và nét vẽ mềm mại “hoa đong đưa”- sự uyển chuyển, khéo léo, tài hoa của con người chống chọi và làm chủ thiên nhiên. Khẳng định vẻ đẹp của con người với tinh thần ý chí và dạy ta cách sống kiên trì để vượt qua tất cả khó khăn thách thức.

Người lính Tây Tiến cùng vẻ đẹp bi tráng được xây dựng rất chân thực qua bức tượng đài ngôn từ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Xuất thân là những chàng trai Hà thành thanh lịch nhưng người lính khi ra đi đã mang nhiệm vụ trong mình sẽ không ngại mưa bom bão đạn của kẻ thù. Hhiện lên với vẻ đẹp độc đáo và đặc biệt:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Bút pháp lãng mạn và hiện thực đã được nhà thơ sử dụng để làm nổi bật ngoại hình dị thường, lạ lẫm của người lính. “Không mọc tóc, quân xanh màu lá” đó là hệ quả của cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, khó khăn. Người lính bị thương, sốt rét rừng hành hạ làm tóc rụng, da xanh xao. Nhưng cũng có người lính tự cạo trọc đầu để thuận tiện hơn trong sinh hoạt và chiến đấu. Hiện thực khắc nghiệt được Quang Dũng đặc tả rõ nét và chúng ta cũng từng bắt gặp hình ảnh người chiến sĩ kham khổ vì căn bệnh sốt rét rừng:

Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ.

Với cảm hứng lãng mạn, bằng biện pháp đảo ngữ và phủ định từ “không” dứt khoát. Từ bị động, người lính chủ động đón nhận gian khổ: không cần có tóc. Cả một đoàn binh không tóc, lạ lẫm mà ngạo nghễ, ngang tàn. “Quân xanh màu lá” là màu xanh của rừng đại ngàn, của cành lá ngụy trang, là màu áo của anh bộ đội. Cùng với so sánh, ẩn dụ “dữ oai hùm”, người đọc cảm nhận được tư thế thế oai phong lẫm liệt của người lính như những mãnh hổ làm chủ chốn rừng thiêng. Họ hiện lên ốm mà không yếu bởi tinh thần, khí phách của họ làm kẻ thù khiếp sợ. Ẩn chứa bên trong đoàn quân xanh màu lá là một dũng khí bừng bừng, một phong cách mạnh mẽ, một tinh thần thép bất khuất, hiên ngang.

Nhưng bên trong nét ngoại hình dị thường, mạnh mẽ dữ dội ấy là cả một thế giới tâm hồn đa cảm, đa tình và giàu mộng mơ:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Tâm hồn người lính hướng đến giấc mộng lập chiến công. Bi tráng của họ là vẻ đẹp tâm hồn. “Mắt trừng gửi mộng” để mài sắc tinh thần cảnh giác, nêu cao quyết tâm chiến đấu. Các anh “gửi mộng” là gửi giấc mộng lập công, hòa bình và tự do. Giấc mộng đó hoà nhập cùng tình yêu lứa đôi để làm nên giấc mơ lãng mạn “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Các anh mơ về Hà nội- quê hương xứ sở. Ra đi từ thủ đô, mang trong mình nét hào hoa, thanh lịch:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

“Dáng kiều thơm” là người thiếu nữ Hà Thành duyên dáng, yêu kiều. Là một nét mộng mơ trong tâm hồn người lính. Họ ra đi với nỗi nhớ về cảnh cũ, người xưa, những kỉ niệm in dấu để tiếp sức cho họ trên chặng hành trình gian lao phía trước. Nếu người lính nông dân trong thơ Chính Hữu nhớ về “Quê hương anh nước mặn đồng chua” thì người lính Hà Thành- người học sinh, sinh viên thắp sáng tâm hồn mình bằng những mộng, những mơ rất lãng mạn.

Hình ảnh bi tráng của người lính còn được gợi tả qua tư thế lên đường vì lí tưởng, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Nhà thơ không hề né tránh bi thương mất mát. Bi thương được gợi lên từ hình ảnh những nấm mồ hoang nơi rừng sâu biên giới. Và một lần nữa, cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ cái bi thương qua cách diễn đạt rất linh hoạt của nhà thơ. Một loạt từ Hán Việt mang màu sắc cổ kính, sang trọng: biên cương, mồ viễn xứ làm cái bi giảm nhẹ và trở nên hào hùng. Những nấm mồ hoang nơi rừng sâu trở thành mộ chí tôn nghiêm của người chiến sĩ. Bi thương bị ắt hẳn đi bởi tư thế lên đường:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Hai chữ “chẳng tiếc” đặt giữa câu là cách nói ngang tàn, đầy khí phách. Một sự tự nguyện hiến dâng và tâm trạng ra đi rất thanh thản. Đang trong ” đời xanh”- tuổi trẻ với bao hi vọng và hoài bão nhưng họ sẵn sàng dâng hiến cho Tổ quốc. Bởi vậy, cái chết không làm các anh bận lòng, nhụt chí. Tinh thần của anh bộ đội cụ Hồ là lòng quyết tâm, là khí phách ngang tàn.

Vẻ đẹp hào hùng của anh vệ quốc quân còn được minh chứng qua sự hi sinh cao đẹp:

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Hai câu thơ đã trực tiếp các họa những thiếu thốn, khó khăn, gian khổ. Quang Dũng không né tránh cái bi mà dường như mỗi khi đau thương khắc nghiệt thì hồn thơ Quang Dũng lại được nâng lên bởi đôi cánh của lý tưởng. Các anh ngã xuống không “áo bào” sang trọng,cũng chẳng có manh chiếu nghiệm thân. “áo bào” là cách nhìn lãng mạn hóa về bộ quân phục của anh vệ quốc quân, bạc vì mưa nắng, rách vì bom đạn cùng tiễn đưa “anh về đất”. Cách nói giảm để vơi bớt bi thương đồng thời vĩnh viễn hóa sự hi sinh cao đẹp của người lính. Với họ, chết chỉ là cuộc hành trình về với đất mẹ thân yêu sau khi hoàn thành nhiệm vụ với tổ quốc. Linh hồn các anh hòa mãi cùng núi sông:

Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.

Người lính ra đi trong âm thầm: không có tiếng khóc của người thân, không có quân nhạc cử hành. Nhưng đã có tiếng gầm vang của dòng sông Mã thay lời tất cả. Dòng sông là thiên nhiên, cũng là biểu trưng cho quê hương, đất nước và những tình cảm gắn bó thân thuộc. Người lính ra đi dường như đất trời, quê hương đang nghiêng mình tiễn biệt các anh về nơi yên nghỉ trong âm hưởng hào hùng của dòng sông Mã. Khúc ca bi tráng đó đã át đi mọi đau thương của hiện thực và những hi sinh của các anh thật lẫm liệt hào hùng.

Bức tượng đài người lính tiếp tục được xây dựng bằng những lý tưởng cùng thề nguyện mãi gắn bó với:

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Thái độ của người lính lên đường rất dứt khoát “không hẹn ước, một chia phôi”. Đó là khí phách cùng tinh thần quả cảm của người lính. Họ tự nguyện từ biệt người thân, gia đình để dấn thân trên con đường núi rừng thăm thẳm của miền Tây hùng vĩ hiểm trở với lý tưởng:

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

Đó là tinh thần chung của dân, của thời đại. Bởi người lính hướng đến mùa xuân ấy là mùa xuân của đất nước, của cách mạng, mùa xuân thành lập binh đoàn Tây Tiến, mùa xuân của đời người. Người lính gắn bó cùng Tây Tiến vầ linh hồn họ hòa vào núi sông, đất trời miền Tây: Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Đó là tình cảm gắn bó giữa người chiến sĩ với đoàn binh Tây Tiến, với những kỉ niệm bên đồng đội, đồng chí và dù nay có xa cách thì tâm hồn họ vẫn vẹn nguyên với một thời Tây Tiến, một vùng Tây Tiến. Bài thơ mở đầu với nỗi nhớ “chơi vơi” và kết thúc bằng nghĩa tình sâu nặng.

Tây Tiến và đặc biệt là vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến là nét vẽ ấn tượng trong toàn bài thơ. Ngòi bút tài hoa, linh hoạt của Quang Dũng đã viết nên những vần thơ nhịp nhàng, vận dụng khéo léo những từ láy, đan xen câu thơ bằng trắc, những từ Hán Việt giàu sắc thái biểu cảm cùng những hình ảnh ẩn dụ đặc sắc. Bức chân dung bi tráng về anh vệ quốc quân được nhà thơ dựng lên với tất cả tin yêu và tự hào. Sự bi tráng của người lính cũng là của một lớp thanh niên ngày ấy mang trong mình một bầu máu nóng, một tinh thần thép “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Trên bàn cờ trận mạc, họ là những chủ thể đầy ý thức, sống trọn vẹn từng phút giây. Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính cũng là nét hào hùng bi tráng của cả một thời đại.

Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến đã đi vào thơ ca như một lời reo vui đầy tự hào và trân trọng. Anh vệ quốc quân với tinh thần, với khí phách hiên ngang, bất khuất sẽ sống mãi cùng không gian, thời gian. Tinh thần, khí phách người lính đã làm đẹp cho bức chân dung người anh hùng thời kháng chiến. Tất cả được Quang Dũng tái hiện và khẳng định trong Tây Tiến- bức tượng đài người lính vô danh.

Vẻ Đẹp Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Vẻ đẹp hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

Gợi ý làm bài 1. Khái quát

Đôi nét về tác giả, tác phẩm.

Giới thiệu vẻ đẹp của người lính Tây Tiến trong bài thơ.

2. Chi tiết a. Một biểu tượng thương nhớ

Người lính hiện về trong hồi ức như một biểu tượng xa vời trong không gian và thời gian (“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi”… “Tây Tiến người đi không hẹn ước” – “Đường lên thăm thẳm một chia phôi” – “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”) nhưng vẫn là những hoài niệm không dứt, một nỗi thương nhớ mênh mang (“nhớ về”, “nhớ chơi vơi”).

b. Vẻ đẹp trong đời sống tâm hồn

Người lính được miêu tả rất thực trong những sinh hoạt cụ thể, với những bước đi nặng nhọc trên đường hành quân cùng với những đói rét về bệnh tật, vẻ tiều tụy trong hình hài song rất phong phú trong đời sống tâm hồn, với những khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ (“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”…).

Họ nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng, với những cảnh sắc độc đáo rất tinh tế (“hồn lau nẻo bến bờ”, “dáng người trên độc mộc”, “dòng nước lũ”, “hoa đong đưa”).

Tâm hồn người lính cháy bỏng những khát vọng chiến thắng, đồng thời cũng ôm ấp những giấc mơ đẹp về tình yêu tuổi trẻ (“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” – “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”). Trong cái nhìn của người lính trẻ, vẻ đẹp của người con gái núi rừng có nét hoang sơ, kiều diễm đến sững sờ (“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”).

c. Sự hi sinh đầy bi tráng

Người lính hiện lên chân thực, thơ mộng, lãng mạn, đa tình, đa cảm đồng thời cũng rất hào hùng. Với nhiều từ ngữ mang sắc thái cổ điển, trang trọng (“Áo bào thay chiếu anh về đất” – “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”), tác giả tạo được không khí thiêng liêng, làm cho cái chết bi tráng của người lính vang động cả thiên nhiên. Âm hưởng bốn câu thơ cuối bài ngân dài không dứt, hòa cùng với bước đường của người chiến sĩ tình nguyện lên đường vì đất nước :

Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về sầm nứa chẳng về xuôi.

Mùa xuân Tây Tiến ngày ấy đã mang tuổi xuân của người lính trong cuồn cuộn lãng du, nhưng cái hồn bi tráng, sự hi sinh cao cả ấy dù chia phôi thể xác nhưng tinh thần là bất tử. Đó là tinh thần của một thế hệ kiêu hùng – nồng nàn tình yêu nước. Vẻ đẹp ấy, mãi mãi là khúc vọng thanh âm vang trong tâm hồn người Việt.

Nhận xét

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!