Đề Xuất 12/2022 # Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Khi Con Tu Hú” / 2023 # Top 19 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 12/2022 # Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Khi Con Tu Hú” / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Khi Con Tu Hú” / 2023 mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đề bài: Em hãy phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Khi con tu hú” và chỉ ra những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của khổ thơ.

I. Dàn ý bài viết

1. Mở bài

Giới thiệu về nhà thơ Tố Hữu và bài thơ “Khi con tu hú”: Trong thời gian bị giam cầm tại nhà tù Thừa Phủ ở Huế, người chiến sĩ cộng sản Tố Hữu đã sáng tác ra bài thơ “Khi con tu hú” để bày tỏ nỗi lòng và khát khao được tự do của mình.

2. Thân bài

-Giới thiệu về khổ thơ đầu bài thơ:

+ Là một người chiến sĩ trẻ, mang trong mình lòng yêu cuộc sống, khát vọng tung hoành ngang dọc và đặc biệt là có tình yêu mãnh liệt với thiên nhiên,

+ Tố Hữu đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa hè trong sáu câu thơ đầu của bài thơ “Khi con tu hú”

-Phân tích dấu hiệu của mùa hè đang đến: Bắt nguồn từ tiếng chim tu hú, trong nhà tù tối tăm, chật hẹp, bỗng nghe được tiếng chim vọng từ không gian rộng lớn bên ngoài khiến cho tác giả như bừng tỉnh, nhận ra bên ngoài kia là mùa hè đang đến

-Phân tích những đặc trưng của mùa hè: Tiếng ve là âm thanh thân thuộc gắn liền với mùa hè mà thiếu nó thì không còn phải mùa hè nữa, tiếng ve râm ran trong vòm lá gợi về kí ức sân phơi đầy ngô thóc vàng ươm dưới cái nắng đào.

-Phân tích cảm nhận của nhà thơ: Đó là một hình ảnh thôn quê với cuộc sống thường nhật rất đỗi gần gũi mà nay tác giả chỉ có thể cảm nhận qua hồi tưởng kí ức của mình. Tất cả hòa quyện vào bầu trời trong xanh cao vút với tiếng sáo diều vi vu

– Phân tích nỗi lòng của nhà thơ: Hình ảnh con diều chính là biểu tượng của sự tự do, tung hoành ngang dọc giữa đất trời, và đó cũng chính là tiếng lòng khát khao tự do cháy bỏng của tác giả.

3. Kết bài

Nêu ý nghĩa của khổ thơ đầu bài thơ “Khi con tu hú”: Khổ đầu của bài thơ “Khi con tu hú” quả là một bức tranh thiên nhiên mùa hè tuyệt đẹp, đồng thời nó cũng chứa đựng những tâm sự và nỗi lòng sâu lắng của nhà thơ.

II. Bài tham khảo

Trong thời gian bị giam cầm tại nhà tù Thừa Phủ ở Huế, người chiến sĩ cộng sản Tố Hữu đã sáng tác ra bài thơ “Khi con tu hú” để bày tỏ nỗi lòng và khát khao được tự do của mình. Dù trong cảnh lao tù nhưng từng câu chữ của bài thơ vẫn chứa đựng ngọn lửa hừng hực của lòng yêu nước, yêu cách mạng và khát vọng tuổi trẻ của người tù cộng sản Tố Hữu.

Là một người chiến sĩ trẻ, mang trong mình lòng yêu cuộc sống, khát vọng tung hoành ngang dọc và đặc biệt là có tình yêu mãnh liệt với thiên nhiên, Tố Hữu đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa hè trong sáu câu thơ đầu của bài thơ “Khi con tu hú”:

“Khi con tu hú gọi bầy…

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”

Bắt nguồn từ tiếng chim tu hú, trong nhà tù tối tăm, chật hẹp, bỗng nghe được tiếng chim vọng từ không gian rộng lớn bên ngoài khiến cho tác giả như bừng tỉnh, nhận ra bên ngoài kia là mùa hè đang đến:

“Khi con tu hú gọi bầy

Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần”

Tiếng tu hú gọi bầy báo hiệu đất trời chuyển sang mùa hè, tác giả liền liên tưởng đến mùa của những cánh đồng lúa vụ chiêm đang chín vàng, mùa của hoa trái chín ngọt và đượm hương thơm. Thiên nhiên, đất trời và cảnh vật mùa hè được bắt nguồn từ đó, từ tiếng chim tu hú, rồi càng rõ nét hơn khi tác giả nhớ về tiếng ve:

“Vườn râm dậy tiếng ve ngân…

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào”

Tiếng ve là âm thanh thân thuộc gắn liền với mùa hè mà thiếu nó thì không còn phải mùa hè nữa, tiếng ve râm ran trong vòm lá gợi về kí ức sân phơi đầy ngô thóc vàng ươm dưới cái nắng đào. Đó là một hình ảnh thôn quê với cuộc sống thường nhật rất đỗi gần gũi mà nay tác giả chỉ có thể cảm nhận qua hồi tưởng kí ức của mình. Tất cả hòa quyện vào bầu trời trong xanh cao vút với tiếng sáo diều vi vu:

“Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo nhộn lào từng không”

Tuổi thơ của những đứa trẻ nông thôn chẳng ai là không gắn bó với con diều, tiếng sáo, từng chiều hè chạy thả diều trên những cánh đồng, nhìn những con diều tung bay trong gió, nhộn lào. Hình ảnh con diều chính là biểu tượng của sự tự do, tung hoành ngang dọc giữa đất trời, và đó cũng chính là tiếng lòng khát khao tự do cháy bỏng của tác giả.

Bằng tất cả niềm tin yêu vào cuộc sống và khát vọng tuổi trẻ của mình, người tù cộng sản Tố Hữu đã không ràng buộc mình vào chốn tù ngục mà thả tâm hồn ra ngoài với mùa hè sống động và tràn đầy sắc hương. Nhà thơ chắc hẳn phải là người yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời và yêu lí tưởng cách mạng mới có thể đạt đến những cảm nhận tinh tế và sâu sắc như vậy. Khổ đầu của bài thơ “Khi con tu hú” quả là một bức tranh thiên nhiên mùa hè tuyệt đẹp, đồng thời nó cũng chứa đựng những tâm sự và nỗi lòng sâu lắng của nhà thơ.

cảm nhận về khổ thơ 1 bài thơ khi con tu hú

Phân Tích 4 Khổ Thơ Đầu Bài Sóng / 2023

Chuyên mục văn 12 xin gởi đến học sinh bài phân tích 4 khổ thơ đầu bài Sóng của thi sĩ Xuân Quỳnh, đây là phần mở đầu của bài thơ Sóng nổi tiếng được nhiều thế hệ yêu thích.

– Nêu nội dung 4 khổ thơ đầu: là những cảm nhận tinh tế của một trái tim yêu.

a.Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ.

– Phong cách: Thơ XQ là tiếng lòng tâm hồn người phụ nữ giàu lòng trắc ẩn vừa hồn nhiên tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm

– Bài thơ Sóng là kết quả của chuyến đi thực tế tới vùng biển Diêm Điền (Thái Bình) 1967 và được đưa vào tập thơ “Hoa dọc chiến hào”

b.Phân tích:

– Khổ 1:

+ Sóng khát khao thoát khỏi giới hạn chật hẹp (sông) để tìm ra bể như người phụ nữ khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu.

– Khổ 2:

+ Từ ngàn, triệu năm qua, con sóng vẫn thế như từ ngàn, triệu năm qua tình yêu vẫn là một khát vọng cháy bỏng trong trái tim con người, nhất là tuổi trẻ.

+ Đó cũng là khát vọng cháy bỏng trong trái tim không bao giờ thôi khát khao yêu đương của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

– Khổ 3,4:

+ Không thể truy nguyên nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu của con người. Đó mãi mãi là bí ẩn diệu kì là sức hấp dẫn mời gọi của tình yêu. Không thể cắt nghĩa được tình yêu và cũng chẳng nên cắt nghĩa tình yêu bởi rất có thể khi ta biết yêu vì lẽ gì thì cũng là lúc tình yêu ra đi.

+ Người phụ nữ, nhân vật em trong bài thơ cũng không thể cắt nghĩa được tình yêu. Một sự bất lực đáng yêu của một trái tim yêu không chỉ đòi hỏi cảm xúc mà còn đòi hỏi nhận thức mãnh liệt.

– Liên hệ

Phân tích 4 khổ thơ đầu bài Sóng

Trong các nhà thơ nữ, Xuân Quỳnh được xem là nữ hoàng của tình yêu. Xuân Quỳnh viết nhiều đề tài về cuộc sống đời thường nhưng tình yêu có lẽ là đề tài thành công, gây được tiếng vang lớn nhất trong sự nghiệp văn học của bà. Trong tiếng thơ của Xuân Quỳnh luôn thổn thức nỗi lòng yêu thương trân thành, mãnh liệt nhưng chứa chan âu lo, dự cảm chẳng lành. Đến với Sóng, hồn thơ ấy lại được thể hiện đậm nét hơn qua bốn khổ thơ đầu của bài thơ. Bốn khổ thơ chứa chan khát vọng tha thiết, nhiệt thành và cả những chông chênh của người phụ nữ trong tình yêu.

Tròng bài thơ nổi bật lên là hai hình tượng sóng và em. Song hành với sóng là em. Em là cái tôi người phụ nữ trong tình yêu. Và để đối chiếu với em, soi chiếu rõ nét cho em, nhà thơ đã mượn hình ảnh của sóng. Dù là em hay là sóng quy tụ lại cũng chính là biểu trưng cho cái tôi của chính tác giả, cho tình yêu nồng nàn, mãnh liệt đắm say của bà.

Biểu hiện đầu tiên đó chính là những khát khao về tình yêu và hạnh phúc đời thường của người phụ nữ.

” Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

4 tình từ đặc tả: ” dữ dội; dịu êm; ồn ào; lặng lẽ” đã cho ta thấy trạng thái phong phú, thất thường của những cơn sóng trên mặt biển khơi xa: khi thì dữ dội khi thì lặng lẽ. Và tâm trạng người phụ nữ trong tình yêu có lẽ cũng vậy khi thì nồng nhiệt, say đắm khi lại xa xôi, nhạt nhòa. Tuy nhiên đằng sau cái thất thường ấy lại muốn nói lên điều gì? Há chăng phải muốn chỉ ra rằng tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu là tâm hồn mỏng manh, nhạy cảm., và rất dễ tổn thương hay sao. Nhưng dù bình yên dù dữ dội thì vãn là sóng và dù mãnh liệt hay lạnh nhạt thì đó vẫn là tình yêu. Tuy xa mà gần, tuy nhìn sóng xa mà lại nói lên nỗi lòng, tâm tư đau đáu.

Có lúc dữ dội có lúc ồn ào nhưng kết lại vẫn là “lặng lẽ” và “dịu êm”. Đằng sau những biểu hiện thất thường trog tình yêu, sau tất cả về sâu thẳm người phụ nữ cũng chỉ muốn kiếm tìm cho bản thân một bến bờ tình yêu hạnh phúc, an yên. Đó có lẽ là ý nghĩa sáng nhất mà Xuân Quỳnh muốn nhắn gửi qua đôi dòng thơ mở đầu.

Và rôi người phụ nữ đã mạnh dạn hơn, chủ động hơn:

” Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

Hai câu thơ xuất hiện hai không gian tương phản: sông- biểu trưng cho không gian nhỏ bé, chật hẹp. Bể gợi một không gian lớn hơn, sâu hơn. Ở trong lòng sông chật hẹp, tù túng, sóng không thể hiểu nổi mình, không thể thỏa những ước mong của mình nên sóng đã chủ động tìm ra tận bể để tự khám phá, để khát khao. Sóng muốn được sống thỏa là mình, được đắm say với những ước mớ tình yêu vĩ đại của bản thân. Cũng giống như tâm tình người phụ nữ khát khao cháy bỏng vượt qua giới hạn để kiếm tìm sự tri âm tri kỉ, được sống là chính mình, được vươn ra cái đích trong cuộc sống nhân duyên. Người phụ nữ luôn hiền hòa nhưng trong tình yêu họ lại quyết liệt và chủ động vô cùng.

Trong đoạn thơ ta đã thấy được vẻ đẹp của người phụ nữ trong tình yêu: một tâm hồn mong manh và một khát khao mãnh liệt nhất, tự do và phóng khoáng nhất được đắm chìm, đam mê trong tình yêu sẻ chia; đích thực.

Nỗi khát vọng tình yêu luôn rạo rực trong trái tim mỗi con người

” Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày nay vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ”

Con sóng đặt giữa hai trạng từ chỉ thời gian: ” ngày xưa- ngày nay” , triệu triệu năm trước và hàng ngàn năm sau những con sóng vẫn cứ ngày đêm dạt dào trên mặt biển. Sóng là em, soi chiếu cho em và cũng chính vì thế những con sóng cũng chính là những con sóng lòng, con sóng tinh yêu lúc nào cũng dạt dào, cuộn trào trong trái tim nhiệt thành của người phụ nữ. Ngày xwua thế và ngày sau vẫn thế. Tình yêu là vĩnh hằng và vô tận.

Ý niệm vĩnh hằng không chỉ hiện qua thời gian mà còn hiện qua không gian. Biển tựa như lồng ngực lớn lao đất trời. Nhịp đật của sóng giống như hơi thở cồn cào của biển. Còn biển còn sóng và còn con người thì sẽ mãi còn yêu thương bất diệt. Chữ “trẻ” được khéo léo đặt cuối dòng thơ như muốn nhấn mạnh tình yêu là sức sống, là nhịp đập của tuổi trẻ, tình yêu mang đến sự tươi tắn, viết lên thanh xuân có ý nghĩa cho cuộc đời mỗi người phụ nữ. Xét đi xét lại thì xét cho cùng không chỉ riêng nhà thơ mà bất cứ ai cũng đều khát khao cháy bỏng một tình yêu vĩnh hằng, trường tồn với không gian, thời gian.

Cái đam mê khao khát trong tình yêu đã được thể hiện một cách thật đẹp, thật tài tình và trân thành.

Người phụ nữ trân trọng tình yêu và vì thế họ luôn muốn được tìm tòi những bí mật trong tình yêu:

” Trước muôn trùng sóng biển

Em nghĩ về anh em Em nghĩ về biển lớn Tự khi nào sóng lên?”

Hàng loạt các câu thơ được bắt đầu bằng cấu trúc: ” Em nghĩ” gợi đến biết bao những trăn trở, nghĩ suy trong trái tim người phụ nữ. Trăn trở được kiếm tìm, được giải đáp bao âu lo suy tư trắc trở. Không còn ẩn mình trong hình tượng sóng nữa, hình ảnh em ở đây đã được nổi lên, đặt trước cái mênh mông đát trời. Đối diện với không gian rộng lớn, bao la, nhà thơ bất giác đối sánh chiếu với cái mệnh mông, vô hạn của tình yêu. Nhưng đâu chỉ mênh mông đâu chỉ vô tận đại dương đầy bão tố kia chứa đựng biết bao bí ẩn, khiến cho trong lòng người phụ nữ lúc này dâng lên bao trăn trở, băn khoăn, mong muốn kiếm tìm lời giải đáp. Có lẽ rằng chỉ khi yêu con người ta mới khao khát đến thế, khao khát được khám phá, được giải đáp và được thấu hiểu đến tận cùng cội nguồn của nó. Hình ảnh người phụ nữ ở đây hiện lên thật đẹp, nét đẹp đặc biệt, thật thân thiện và đáng trân trọng.

Nối tiếp những suy nghĩ đó là câu đáp:

” Sóng bắt đầu từ gió”

Câu trả lời chóng vánh. Nhưng những trăn trở nào đâu có dừng lại ở đó. Cũng giống như những cơn sóng miên man, dập dìu nỗi băn khoăn của người phụ nữ cũng vì thế mà nối tiếp đến vô tận:

” Gió bắt đầu từ đâu”

Sóng từ gió còn gió lại tự đâu? Sự vật nối tiếp như dồn dập để rồi đáp lại bằng sự bối rồi nghẹn ngào:

” Em cũng không biết nữa”

Hình ảnh em lại xuất hiện thế nhưng lại xuất hiện với cái lắc đầu ngượng ngùng bất lực, cái lắc đầu nụng nịu nhưng đầy bối rối và hạnh phúc. Tuy thế lại vô cùng đặc biệt bởi cái lắc đầu được đặt chơi vơi giữa hai câu hỏi:

” khi nào ta yêu nhau”

Không biết chơi vơi giữa gió và tình yêu. Không biết gió có từ đâu và càng không không thể cắt nghĩa được hạnh phúc, không biết được khi nào ta yêu nhau? Vì sao ta yêu nhau. Đó cũng chính là những bí ẩn ngàn đời của tình yêu và chính những bí ẩn này đã làm nên những quyến rũ rất riêng của tình yêu. Cũng giống như ông hoàng Xuân Diệu từng nói: ” Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”. Tình yêu là thế, dù rằng có không thể hiểu nhưng vân bất chấp thả mình, đắm say trong nó. Tình yêu khiến cho trực cảm luôn đi trước lí trí. Đây cũng chính là lúc con người sống thật nhất với cảm xúc của mình. Tình yêu vượt qua mọi lý trí, mọi logic mọi quy luật trần thế.

Trôi chảy theo mạch xúc cảm, bốn khổ thơ đầu đã vẽ nên nét đẹp rất Á Đông của người phụ nữ trong tình yêu. Đó là khát khao được dâng hiến, đắm chìm trong tình yêu dạt dào, nồng nàn và vĩnh cửu. Bài thơ còn toát lên nét đẹp hiện đại, rất riêng tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh thời kì đầu. Sau này dù cho nhiều đắng cay nhưng khát khao đó vẫn cháy bỏng trong trái tim nhiệt thành của nhà thơ.

Đón xem: Phân tích 2 khổ đầu bài Sóng

Hi vọng hướng dẫn phân tích 4 khổ thơ đầu bài Sóng sẽ là nguồn tham khảo quan trọng cho các bạn khi viết văn hoặc kiểm tra.

Phân Tích Hai Khổ Đầu Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh / 2023

Phân tích hai khổ đầu bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ trẻ xuất sắc trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ và là một trong số ít những nhà thơ nữ viết rất nhiều và rất thành công về đề tài tình yêu. Một trong những thành công xuất sắc về đề tài này của nữ sĩ là bài thơ “Sóng”, hai khổ thơ đầu bài thơ nữ thi sĩ viết:

Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, vần thơ của bà vừa chân thành đằm thắm, vừa nồng nàn mãnh liệt và hơn hết luôn bật lên khát vọng da diết về hạnh phúc bình dị đời thường. Bài thơ “Sóng” ra đời năm 1967 trong chuyến đi thực tế của nhà thơ về vùng biển Diêm Điền tỉnh Thái Bình và lúc này thì bản thân nhà thơ cũng vừa trải qua một sự đổ vỡ trong tình yêu. Bài thơ được in trong tập “Hoa dọc chiến hào” năm 1968. Tình yêu là điều bí ẩn nên ngàn đời vẫn cuốn hút con người, tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh chính là những bông hoa dọc chiến hào làm dịu đi sự khốc liệt của chiến tranh.

Trong bài thơ “Sóng”, nhà thơ sử dụng thể thơ năm chữ, đây là thể thơ có nhịp điệu nhanh, mạnh, dồn dập. Thể thơ này thường dùng để diễn tả những dòng cảm xúc ào ạt, hối hả, mãnh liệt. Bài thơ sử dụng cách hiệp vần giãn cách, hiệp vần chân ở những tiếng cuối của các câu chẵn. Hơn nữa bài thơ có sự luân phiên về thanh điệu ở các tiếng cuối của các câu thơ. Như vậy những thủ pháp nghệ thuật sáng tạo đã tạo nên âm hưởng nhịp nhàng, uyển chuyển cho cả bài thơ. Âm hưởng của bài thơ là âm hưởng dạt dào của những con sóng mà mỗi câu thơ là một con sóng, chúng gối lên nhau chạy đều, chạy đều đến cuối bài thơ. Những con sóng là sự trào dâng mãnh liệt của dòng cảm xúc ào ạt trong lòng nữ sĩ. Có lẽ vì thế mà ấn tượng về con sóng trong bài thơ không chỉ là của sóng biển mà còn là của sóng tình. Đây cũng chính là hai hình tượng nghệ thuật mà tác giả đã tập trung xây dựng trong bài thơ. Sóng biển và sóng tình có lúc tồn tại song song để soi chiếu, tôn vinh vẻ đẹp cho nhau, có lúc lại hòa làm một, trong sóng biển có sóng tình, trong sóng tình ta lại thấy nhịp dào dạt của sóng biển. Suy cho cùng sóng biển và sóng tình là hai hình tượng nghệ thuật để biểu đạt cho cái tôi trữ tình của nhà thơ.

Qua hai khổ thơ đầu nữ sĩ đã cho chúng ta cảm nhận được đặc điểm của những con sóng biển và những con sóng tình yêu, những con sóng luôn chứa đựng những trạng thái đối lập và luôn có những khát khao vươn tới những sự vĩ đại, bao la. Mở đầu, nhà thơ viết:

Trong hai câu thơ mở đầu tác giả đã sử dụng tới hai cặp tính từ trái nghĩa để miêu tả đặc điểm của sóng biển: “dữ dội – dịu êm”, “ồn ào – lặng lẽ”. Thông thường đứng giữa những cặp tính từ trái nghĩa là quan hệ từ biểu đạt sự tương phản “tuy – nhưng”, thế nhưng ở đây nhà thơ nữ Xuân Quỳnh lại sử dụng quan hệ từ “và” vốn biểu đạt quan hệ cộng hưởng, cộng thêm, nối tiếp. Như vậy những đặc điểm tưởng như đối lập lại thống nhất với nhau và luôn tồn tại trong một chỉnh thể là sóng. Trong cái dữ dội có cái dịu êm, trong sự ồn ào lại chứa đựng sự lặng lẽ.Những trạng thái đối lập của sóng cũng chính là những trạng thái đối lập trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu. Trong tình yêu, tâm hồn người phụ nữ không hề bình lặng mà đầy biến động: có khi sôi nổi cuồng nhiệt, cũng có khi e lệ, kín đáo, có lúc đằm thắm, lúc hờn ghen… Tác giả tiếp tục sử dụng biện pháp nhân hóa trong hai câu thơ tiếp theo, con sóng được nhân hóa qua động từ “tìm” trong hành trình từ sông ra tới biển:

“Sông không hiểu nổi mình“Ôi con sóng ngày xưavà ngày sau vẫn thế” “Nỗi khát vọng tình yêuBồi hồi trong ngực trẻ” Sóng tìm ra tận bể”

Tác giả đã khéo léo sử dụng động từ “tìm” trong việc nhân hóa con sóng đã cho ta thấy được sự chủ động của con sóng, con sóng chủ động chối bỏ những phạm vi chật hẹp “sông” để vươn tới những phạm vi rộng lớn bao la “bể”. Như vậy trong bốn câu thơ đầu nhà thơ đã giúp ta nhìn lại hai đặc điểm tự nhiên, vốn có của những con sóng và chính tác giả cũng đã phải sử dụng tới hai câu thơ để khẳng định sự hiển nhiên, vốn có này:

Nữ sĩ đã khẳng định đặc điểm ngàn đời vốn có của sóng, từ quá khứ “ngày xưa” cho đến tương lai “ngày sau” con sóng vẫn luôn chứa đựng những trạng thái đối lập, vẫn luôn vận động theo quy luật trăm sông đều đổ về với biển. Trạng từ khẳng định “vẫn thế” một lần nữa biểu đạt một chân lí không bao giờ đổi thay.

Thơ ca, nghệ thuật là những sự sáng tạo mang đến cho người đọc những cảm xúc mới, đem đến cho tâm hồn con người những sự trải nghiệm phong phú. Ta tự hỏi vì sao trong sáu câu thơ đầu tác giả chỉ cho chúng ta hai đặc điểm tự nhiên, vốn có của con sóng? Để giải đáp cho điều này nữ sĩ viết tiếp hai câu thơ:

Đến đây ta đã cảm nhận được sự xuất hiện của một con sóng nữa đó là con sóng của tâm hồn, là con sóng của tình yêu, mà lại là tình yêu của tuổi trẻ đang bồi hồi, đang thổn thức trong trái tim, trong lồng ngực. Khát vọng tình yêu cháy bỏng mãnh liệt đang trào dâng trong lòng nữ sĩ. Như vậy đứng trước biển, trước những con sóng ào ạt ạt vỗ bờ dòng cảm xúc trong lòng nữ sĩ cũng trào dâng. Những con sóng biển ở sáu câu thơ đầu đã gọi những con sóng tình trong lòng nhà thơ. Sóng biển đã gọi sóng tình hay sóng biển chính là yếu tố khơi nguồn cảm xúc trong lòng thi sĩ.

Vì sao sóng biển lại gọi được sóng tình, lại có sức khơi gợi cảm xúc mãnh liệt như vậy? Có lẽ giữa sóng biển và sóng tình có sự tương đồng, nếu sóng biển biển chứa đựng những trạng thái đối lập thì tâm trạng người con gái đang yêu cũng có những lúc giận dỗi, hờn ghen, có những lúc yêu thương dịu dàng đằm thắm:

Con gái khi yêu luôn là như thế, luôn mâu thuẫn, đối lập trong lời nói và hành động. Nếu yêu một người con gái mà không biết nhìn thẳng vào mắt người đó thì chắc chắn một điều rằng anh chàng sẽ khó lòng hiểu và yêu thương cô gái trọn vẹn.Hành trình của sóng chính là hành trình của tình yêu. Nếu con sóng luôn luôn chủ động chối bỏ những chật chội hẹp hòi để vươn tới những điều rộng lớn thì người con gái đang yêu cũng luôn luôn có khát khao như thế.Họ dũng cảm từ bỏ những ích kỉ, nhỏ nhen để vươn tới tình yêu bao dung. Việt Nam là một nước có lịch sử ơn một nghìn năm phong kiến và chế độ phong kiến đã đè nặng tư tưởng phụ nữ Việt. Thời kì những năm 1967 ảnh hưởng của tư tưởng hệ phong kiến chắc chắn còn, mà thậm chí còn rơi rớt đến một số thế hệ trẻ hiện nay thế nhưng ở Xuân Quỳnh ta bắt gặp một con người hiện đại, thông minh và sắc sảo,luôn khát khao hướng tới một tình yêu vĩ đại.

Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Viếng Lăng Bác / 2023

“Viếng lăng bác” của Viễn Phương là một bài văn xuất sắc được sáng tác vào năm 1976, bài thơ mang đậm chất trữ tình ghi lại tình cảm thành kính,sâu lắng của nhà thơ khi hòa vào dòng người đang vào viếng lăng bác.Qua đó bài thơ được xem là tiếng nói nỗi niềm tâm sự của nhân dân giành cho Bác. Tình cảm ấy chất chứa dạt dào cho chúng ta thấy ở hai khổ thơ đầu tiên.

Khổ thơ đầu là những cảm xúc của nhà thơ khi đã đến lăng Bác, đứng trước không gian, cảnh vật bên ngoài lăng. Câu thơ đầu Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác như một thông báo giản dị mà chứa đựng bao tình cảm thân thương.

” Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”

Cách đi vào bài của tác giả thật gần gũi và thân thương bởi nhà thơ đã hết sức khéo léo giới thiệu được vị trí của quãng đường từ Miền Nam Xa xôi để viếng lăng Bác. Tiếng “con” mở đầu cho bài thơ được cất lên với giọng tha thiết trìu mến, thân thuộc. Đó là cách xưng hô của người dân Nam Bộ, đã bộc lộ hết sự thương nhớ ngậm ngùi của nhà thơ nói chung và toàn thể đồng bào Miền Nam nói riêng.

Trong cái mênh mang của sương mù Hà Nội, qua con mắt của nhà thơ thì ta chợt thấy một hàng tre xanh bát ngát. Khi đến với Bác,đến với hàng tre của thủ đô ta như nhớ về quê nhà, nhớ về làng mạc với những nhà mái lá che ngang,rồi nhớ về tiếng ru à ơi của bà,của mẹ. Hình ảnh nhân hóa được sử dụng trong đoạn thơ này đó chính là “Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”,không những đơn thuần là hình ảnh cây tre mà tác giả còn muốn nói rằng đó là biểu tượng bất diệt,kiên cường của con người Việt Nam chúng ta, màu xanh của cây tre là màu xanh của sức sống,của hi vọng và hòa bình. Những dòng thơ độc đáo giàu ý nghĩa tượng trưng mộc mạc chân thành.

Hàng tre xanh trồng xung quanh lăng của Bác Hồ kính yêu như muốn thay cả dân tộc canh giấc ngủ ngàn thu cho Người, thổi những làn gió mát vào trong lăng để Bác được ngủ ngon. Từ “ôi” đươc đặt đứng ở vị trí đầu câu, biểu hiện sự xúc động xen lẫn với niềm tự hào khôn xiết của tác giả. Đó chính là niềm tự hào của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, tự hào về người Cha đã làm nên lịch sử hào hùng của cả dân tộc.

ở khổ thơ thứ hai làm chúng ta lắng đọng với những vần thơ mộc mạc chứa chan tình yêu thương.

” Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy chín mùa xuân”

Bài thơ được xem là cuộc hành hương sau bao năm chờ đợi để được trở về bên người cha già kính yêu của dân tộc. Nếu như ở khổ thơ đầu miêu tả hình ảnh hàng tre xanh như canh giấc ngủ trong lăng Bác thì ở khổ thơ thứ hai tác giả lại bộc lộ những suy nghĩ trực tiếp về Bác với những lời thơ mộc mạc chân tình.

Mở đầu cho đoạn thơ là những hình ảnh đẹp vừa mang tính cụ thể lại mang một ý nghĩa tượng trưng sâu sắc.

” Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Chúng ta phải nhận ra được rằng nhà thơ phải kính yêu lắm, phải quý mến Bác lắm mới viết được những hình ảnh ẩn dụ tài tình như thế.Ở trong hai câu thơ này,có hai mặt trời được tác giả nhắc tới, mặt trời thứ nhất tượng trưng cho mặt trời của vũ trụ thiên nhiên còn mặt trời thứ hai là mặt trời của nhân dân “mặt trời trong lăng” luôn chiếu sáng vĩnh hằng, luôn luôn đỏ mãi. Bác chính là vầng sáng hồng tỏa sáng giúp soi duồng dẫn lối cho chúng ta đi,thoát khỏ kiếp nô lệ, là sức mạnh giúp cho cả dân tộc có thể chèo lái con thuyền cập tới bến bờ vinh quang, đi đến thắng lợi cuối cùng.Cho dù bac đã ra đi nhưng đối với mọi người dân Việt Nam thì người vẫn luôn luôn sống bất tử, soi đường dẫn lối cho đồng bào đứng lên.

Ở đoạn thơ tiếp theo khi dòng người bùi ngùi bước bào lăng, tác giả xúc động mà viết:

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

Hình ảnh dòng người khi đi vào trong lăng Bác được tác giả ví như những tràng hoa dâng người, bảy mươi chín tràng hoa được tác giả ví như bảy mươi chín mùa xuân của người, những năm người đang sống là những năm cống hiến hết mình cho quê hương đất nước. Và Bác chính là mùa xuân, mùa xuân ấy đã làm cho cuộc đời của những người con của Người nở hoa. Điệp ngữ “ngày ngày ” đứng ở đầu câu như một quy luật tự nhiên, ngày ngày dòng người vào viếng lăng Bác không bao giờ hết, đó là quy luật của tạo hóa. Tràng hoa ở đây không chỉ là hoa thơm của thiên nhiên đất trời dâng cho Bác mà còn là những tràng hoa của niềm thương nhớ, biết ơn và ngưỡng mô. Chính niềm thương nhớ ấy đã kết một tràng hoa đầy đủ hương và sắc để dâng lên Người.

Như chúng ta vừa nhắc ở trên về hình ảnh bảy mươi chín mùa xuân, đó là hình ảnh ẩn dụ, cho thấy cuộc đời của Bác đẹp như mùa xuân vậy, đó là bảy mươi chín năm sống và cống hiến cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng của đất nước. Tràng hoa dâng lên như được thấy bác mãi luôn sống trong lòng mọi người dân Việt Nam.

Tóm lại, chỉ với hai khổ thơ trên đã thể hiện được những suy nghĩ của nhà thơ về vị cha già của dân tộc. Tác giả đã cho chúng ta hình dung ra một cách rõ nét về hình ảnh của Người đồng thời bộc lộ niềm thương nhớ và sự thành kính sâu sắc của cả dân tộc đối với Bác.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Khi Con Tu Hú” / 2023 trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!