Đề Xuất 1/2023 # Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Tràng Giang # Top 5 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Tràng Giang # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Tràng Giang mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nói về Thơ mới, ta không thể nào không nhớ tới lời nhận xét của nhà phê bình Hoài Thanh: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng, ta tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.” Đúng vậy, Huy Cận (một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất trong phong trào Thơ Mới) trước Cách Mạng Tháng 8 rất buồn, ông luôn có xu hướng “vui chung vũ trụ để nguôi sầu trần gian”. Bài thơ “Tràng Giang” – linh hồn của tập thơ “Lửa Thiêng” chính là những gì kết tinh nhất của hồn thơ Huy Cận. Khổ thơ 1 và 2 của bài thơ miêu tả bức tranh con sông buồn ảo não, qua đó bộc lộ tâm trạng của chính tác giả.

Mở đầu bài thơ, tác giả viết: 

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song”

Từ “sóng” được nhà thơ nhân hóa, ẩn dụ để thể hiện tâm trạng của chính ông. Không phải những đợt sóng mạnh vỗ bờ ào ạt, mà chỉ là những “gợn” sóng nhỏ nhẹ nhàng. Từng làn sóng nhẹ xô vào bờ cát thật là buồn biết bao! Đối lập với dòng nước lớn, đối lập với không gian bao la là hình ảnh một con thuyền nhỏ bé. Thế nhưng, trên con thuyền ấy lại không hề có sự xuất hiện của con người. Con thuyền đang “buông xuôi mái chèo”. Trong thi ca xưa, con người luôn cô đơn và nhỏ bé trước thiên nhiên rợn ngợp hùng vĩ, nhưng dưới ngòi bút của Huy Cận, bức tranh thiên nhiên mà ông vẽ ra thậm chí còn cô liêu, tĩnh mịch hơn khi không có cả sự xuất hiện của con người. Hình ảnh buông xuôi mái chèo, phải chăng cũng diễn tả nỗi bất lực, buông xuôi của nhà thơ trước không gian, trước thời cuộc!? Hai từ láy “điệp điệp” và “song song” được tác giả khéo léo đặt ở cuối câu thơ nhằm tạo ra những dư ba, dư âm vang vọng. Tuy câu chữ đã dừng lại, nhưng ý thơ, tứ thơ sẽ còn vang vọng mãi.

Đọc hai câu thơ cuối của khổ thơ thứ nhất, ta có thể thấy được sự đan xen giữa lối thơ cổ điển và phong cách thơ hiện đại:

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Thuyền và nước là những hình ảnh thơ, những thi liệu vô cùng quen thuộc trong thơ ca cổ. Tưởng chừng như, chúng sẽ luôn gắn bó, luôn đi liền với nhau; nhưng ở những câu từ của Huy Cận, ta lại thấy sự chia lìa, xa cách. Một bên thì “về”, một bên thì “lại” chứ chẳng thể chung đường với nhau. Nhưng dù cho có đi ngả nào, có trôi dạt về đâu thì chúng cũng vẫn sẽ mang nỗi buồn sầu đơn côi ấy. Tâm trạng của nhà thơ đã giăng mắc và bao trùm, phủ kín lên khắp mọi cảnh vật. Trong những ngã rẽ sầu ảo, cô đơn, hình ảnh “cành củi khô” chợt xuất hiện và lọt vào trong thi từ của Huy Cận. Đây là một nét hết sức mới mẻ, bởi “củi” không hề mang chất thơ, cũng chưa từng có ai sử dụng nó để đưa vào thơ ca cả. Hình ảnh “cành củi” chính là ẩn dụ cho thân phận, cho những kiếp người nhỏ bé, khô héo, trôi dạt vô định, không bao giờ tìm thấy bến đỗ hay điểm dừng. Qua đây, ta phần nào thấy được tâm tư, tình cảm của tác giả dành cho con người, cho những kiếp đời khốn khổ.

Nếu như ở khổ thơ thứ nhất, tác giả đang miêu tả Tràng Giang ở tầm gần, vậy thì tới khổ thơ thứ hai, Huy Cận di chuyển tầm nhìn ra xa hơn – thêm cảnh, nhưng cũng thêm buồn:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”

Ở đây, nhà thơ nói tới một cồn cát, nhưng chỉ là một cồn cát “nhỏ”; nhà thơ nói tới một ngọn gió, nhưng cũng chỉ là một ngọn gió “đìu hiu”. Tuyệt nhiên, trong thế giới của “Tràng giang”, chỉ có những hình ảnh nhỏ bé, cô đơn và lạnh lẽo. Hệ thống từ láy được tác giả sử dụng xuyên suốt từ đầu bài thơ, nhưng nó không làm cho câu thơ trở nên vui tươi hơn, mà chỉ càng gợi buồn, gợi sự nhỏ nhoi, côi cút.

Người ta thường nói, muốn tìm hiểu về cuộc sống ở nơi nào đó, hãy đi đến con sông và phiên chợ. Nhưng dòng sông ở đây đã là dòng tràng giang “buồn điệp điệp”, còn phiên chợ thì sao…:

“Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

Câu thơ có thể được hiểu theo hai nghĩa: một là ở đâu đó, từ phía xa có tiếng chợ chiều vọng lại; hai là không hề có một âm thanh nào của sự sống từ phiên chợ ấy cả. Hiểu theo cách nào thì cũng đều đúng. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật lấy động khắc tĩnh để miêu tả một không gian vô cùng hoang vắng, tĩnh mịch và ảm đạm. Không hề có dấu hiệu nào của sự sống từ nơi đây, chỉ có một mình Huy Cận đang đứng ngẩn ngơ buồn giữa sông nước, giữa đất trời.

Hai câu thơ tiếp theo, những hình ảnh thơ sóng đôi với nhau, mở ra một không gian bao la, đa chiều kích:

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Nắng chiếu xuống làm cho dòng sông vốn đã dài lại càng dài ra. Trời lên cao làm cho bầu trời vốn đã rộng lại càng trở nên rộng hơn. Không gian đang dần dần giãn nở, ý thơ cũng vì thế mà trở nên to lớn hơn. Thông thường, người ta hay nói rằng “cao chót vót”, nhưng thay vào đó, tác giả của chúng ta lại sử dụng từ “sâu chót vót”. Ông muốn xoáy sâu vào độ lớn của vũ trụ, không gian mở ra bốn chiều: cao chót vót, sâu thăm thẳm rộng mênh mông và dài dằng dặc. Cũng nhờ có nghệ thuật tạo hình của điện ảnh độc đáo ấy, Huy Cận được mệnh danh là một nhà thơ mang nỗi sầu của vũ trụ. Không gian càng bao la, càng rộng lớn bao nhiêu, thì lòng người lại càng trống trải, thiếu vắng bấy nhiêu. Hình ảnh “bến cô liêu” gợi tả một nơi vốn dĩ phải đông đúc kẻ qua người lại, nay lại không có cả một cái bóng hay một tiếng thì thầm. Thật là đáng buồn làm sao!

Tóm lại, hai khổ thơ đầu của bài thơ “Tràng giang” là hình ảnh thiên nhiên buồn cùng với lòng tác giả.Hồn thơ Huy Cận trước Cách Mạng Tháng 8 luôn mang nỗi sầu vô cùng ảo não và luôn luôn bị ám ảnh bởi không gian rộng lớn, rợn ngợp. Tràng giang mà tác giả viết về, không chỉ đơn thuần là dòng sông, mà nó là dòng chảy não nề của tâm trạng con người trước thời cuộc, là dòng chảy của những kiếp người lênh đênh, là dòng chảy của lịch sử thăng trầm… Ngòi bút của Huy Cận tuy buồn nhưng lại rất lôi cuốn người đọc, người nghe, để lại cho độc giả những dư vị sâu sắc, khó phai nhòa.

Viết bởi Bùi Ngọc

Phân Tích Hai Khổ Thơ Cuối Bài Tràng Giang Của Huy Cận

Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng Giang của Huy Cận – Bài làm 1

Trong số các nhà thơ mới trước Cách mạng, Huy Cận là một nhà thơ có chất thơ ảo não nhất. Thơ ông luôn chất chứa một nỗi sầu nhân thế. “Tràng Giang” là một bài thơ gắn liền với tên tuổi của Huy Cận với những nỗi niềm yêu nước thiết tha. Đặc biệt, nỗi niềm thương nhớ ấy càng được thể hiện rõ nét ở hai khổ thơ cuối trong bài:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Lòng quê rờn rợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Từng đám bèo cứ lặng lẽ nối tiếp nhau trôi theo dòng nước mà không biết trôi về đâu, tựa như dòng đời bơ vơ, vô định, cảm thấy mình bất lực và nhỏ bé. Ở đây có sự đối lập giữa những thứ đang có và những thứ không có. Chỉ có dòng nước mênh mông với những cánh bèo nối tiếp nhau trôi trong vô định, không có lấy một cây cầu dù chênh vênh, không có lấy một con đò dù nhỏ bé. Hai bên bờ sông mà như hai thế giới, không có một chút liên hệ nào, dù gần mà cũng thành xa xôi không thể với tới. Hai bên bờ chạy song song, cùng “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, ko chút thân mật, không chút giao hòa nào cả. Khung cảnh thiên nhiên ấy, cũng như tâm trạng của nhà thơ vậy. Giữa trời đất bao la nhưng không tìm được những tâm hồn đồng điệu với mình, không ai có thể hiểu mình. Nỗi cô đơn cứ thế chồng chất chất chồng, làm cho con người ta càng cảm thấy nhỏ bé giữa thiên nhiên, càng khao khát hơn sự đồng cảm, yêu thương.

Không nhìn dòng nước buồn hiu hắt nữa, nhà thơ dắt chúng ta nhìn đến cao hơn:

” Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.”

Trong thơ của Huy Cận cũng có cánh chim và đám mây như trong một số bài thơ cổ nói về buổi chiều, tuy nhiên, hai hình ảnh này không có tác dụng hô ứng cho nhau như trong thơ cổ, mà chúng còn có ý nghĩa trái ngược nhau. Trong buổi chiều muộn, nhưng từng lớp, từng lớp mây trên cao kia vẫn chất chồng nên nhau, tạo thành những núi bạc, nổi bật trên nền trời xanh trong. Đây là một cảnh vật hùng vĩ biết bao! Đó không phải đám mây cô đơn lững lờ trơi giữa tầng không khi chiều về như trong thơ của Hồ Chí Minh. Mây ở đây chất chồng, ánh lên trong nắng chiều, làm cho cả bầu trời trở nên đẹp đẽ và rực rỡ. Giữa khung cảnh ấy, một cánh chim nhỏ nhoi xuất hiện. Cánh chim bay giữa những lớp mây cao đẹp đẽ, hùng vĩ như càng làm nổi bật lên cái nhỏ bé của nó. Nó đơn côi giữa trời đất bao la, tựa như tâm hồn nhà thơ bơ vơ giữa đất trời này. Đặt cánh chim và những núi mây bạc ở thế đối lập, đã tô đậm thêm nỗi buồn trong lòng nhà thơ. Nỗi buồn như thấm đượm, lan tỏa trong khắp cả không gian:

“Lòng quê rờn rợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Tầm mắt trở lại trên dòng nước. Từng đợt sóng nước dập dềnh, nhẹ nhàng uốn lượn nhưng cũng tồn tại rất lâu, lan tỏa rất xa. Đó là hình ảnh miêu tả, nhưng cũng chính là tâm trạng của tác giả – một cảm giác cô đơn, buồn bã trải dài vô tận. Cả một không gian mênh mông vắng lặng, khiến cho nỗi buồn nhớ quê hương của nhà thơ càng trở nên rõ ràng. Buổi chiều là thời gian con người đoàn tụ với quê hương, cũng là khoảng thời gian buồn nhất trong ngày của những người con phải xa người thân, xa gia đình. Và quả thật, nỗi buồn ấy được nhà thơ khẳng định ở câu cuối: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Người xưa nhìn khói sóng trên dòng sông khi chiều tà mà cảm thấy nhớ nhà. Còn Huy Cận không cần thấy khói hoàng hôn nhưng trong lòng vẫn dâng lên một nỗi nhớ quê hương da diết. Đó như một thứ tình cảm thường trực vẫn luôn chất chứa trong lòng người con xa quê, mà không cần một tác động nào từ bên ngoài, vẫn thấy nhớ quê, thương quê.

Bài thơ là bức tranh quê hương đẹp đẽ, nên thơ với những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam như bờ sông, cánh bèo, củi khô, áng mây. Đó là tình yêu quê hương đất nước sâu nặng, đã thấm vào từng con chữ. Đồng thời trong đó cũng thể hiện khát khao tìm được sự đồng điệu trong thế giới bao la của một tâm hồn thi sĩ luôn băn khoăn một “nỗi sầu nhân thế”.

Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng Giang của Huy Cận – Bài làm 2

Có nhà phê bình nào đó đã tinh tế nhận xét rằng: Thơ Huy Cận không phải rượu rót vào chén (tức là không say nồng) mà là men đang lên; không phải hoa trên cành (tức không khoe sắc rực rỡ) mà là nhựa đang chuyển. Đúng thế! Cái hồn thơ bề ngoài tưởng lặng lẽ mà rất cao, rất rộng trong thơ ông không dễ gì nắm bắt.

Đọc “Tràng giang” – bài thơ trang trọng, cổ kính, đậm đà cốt cách Đường thi mà giản dị mới lạ, độc đáo in rõ dấu ấn của thơ lãng mạn đương thời – mới thấy nhận định trên là đúng.

Là Tràng Giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nước,

Là tâm trạng, khổ nào cũng lặng lẽ u buồn.

Hai khổ cuối của bài thơ đã góp phần tạo nên điều ấy:

…Bèo dạt về đâu hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ; bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời non nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Âm hưởng trầm trầm, chất ngất u buồn của những câu thơ đầu tiên lan rộng đến hai khổ cuối. Từ một cành củi khô ở trước đến hình ảnh “bèo dạt” vô định vô phương ở sau đều gợi lên sự chia li “tan” mà không “hợp”.

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Trước cảnh “mênh mông” sông dài trởi rộng, cánh bèo xanh nổi như nét điểm xuyết gợi lên cả kiếp người: bé nhỏ và vô định. Hình ảnh không phải mới, vốn dĩ đã xuất hiện khá nhiều trong ca dao và thơ cổ nhưng đặt trong dòng “Tràng giang” vẫn đủ sức khiến người thưởng thức cảm nhận rõ rệt thêm cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian, cái vô cùng của thiên nhiên tạo hóa.

Cảnh bao la nhưng vắng bặt bóng dáng con người. Điệp từ “không” như điểm nhấn cho sự vắng ở đây. Song nhưng không có “đò”, không hề có cảnh “cô chu trấn nhật các sa miên” hãy “bến My Lăng nàm không thuyền đợi khách”. Cả dáng cầu nghiêng nghiêng, “cầu bao nhiêu nhịp thương mình bấy nhiêu” cũng không hề xuất hiện, tất cả đều “lặng lẽ”, chỉ có thiên nhiên “bờ xanh” nối tiếp thiên nhiên (bãi vàng).

Gam màu lạnh. Cảnh quạnh quẽ càng thêm quạnh quẽ, u buồn càng chất ngất u buồn hơn. Cánh bèo trôi hay chính con người đang lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian?

Huy Cận là một nhà thơ mới, ảnh hưởng khá nhiều dòng thơ lãng mạn Pháp. Thế nhưng, ông còn là người thuộc nhiều, ảnh hưởng nhiều phong cách trang trọng, cố kính của thơ Đường. Cốt cách ấy được thể hiện rõ nét trong khổ thơ cuối:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Bậc thánh thi Đỗ Phủ đời Đường thường có câu:

Giang giang ba lãng kiêm thiên dũng

Tái thượng phong vân tiếp địa âm.

và đã được Nguyễn Công Trứ dịch một cách tài hoa rằng:

Lưng trời sóng lượn lòng sông thẳm

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Ý thơ của Đỗ Phủ đã được tái hiện độc đáo qua ngòi bút của Huy Cận:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc.

Từ láy “lớp lớp” khiên mây dày đặc thêm, nhiều tầng nhiều lớp thêm, nên khiến núi ánh lên sắc bạc huyền hoặc như trong mộng. Tứ thơ cao nhã lắm thay!

Trong cái tĩnh gần như tuyệt đối của trang thơ, cánh chim có lẽ là chút hồn động nhất.

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Đã là “cánh nhỏ” mà lại chao nghiêng nên nét thanh mảnh của cánh chim càng nâng thêm một bậc. Sắc hoàng hôn bát ngát trên trang thơ, cánh chim bé bỏng nghiêng chao gợi lên niềm xúc cảm? Sẽ chẳng bao giờ ta quên được ý thơ…

Giữa không gian cô tịch, ngẩng nhìn lên cao rồi lại cúi trông mặt nước:

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Tư thế ấy có khiến ta liên tưởng đến Lý Bạch:”Cửa đầu vọng minh nguyệt – Đê đầu tư cố hương”?

Âm hưởng hai câu thơ Đường thi tuyệt tác của Thôi Hiệu phảng phất ở đây:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Thế nhưng Thôi Hiệu phải có “khói sóng” mới “buồn lòng ai”. Còn nhà thơ của chúng ta “không khói hoàng hôn” mà “lòng quê” vẫn “dợn dợn vời con nước”! Từ láy “dợn dợn” và từ “vời” khiến nỗi buồn triền miên, xa xôi, dàn trải mãi đến vô tận, đến khôn cùng!

Nhận xét về Huy Cận, nhà phê bình Hoài Thanh từng viết: “Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng ông luôn lắng nghe mình sống để ghi lấ cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong.” Đọc những vần thơ của Thi nhân, chỉ mong cảm nhận và hiểu thêm một chút vè con người thơ ấy. “Tràng giang” sẽ còn mãi trôi, lấp lánh trên thi đàn Việt Nam, mãi trôi để nhớ để thương trong lòng người đọc…

Từ khóa tìm kiếm nhiều:

phân tích 2 khổ cuối bài trang giang

cảm nhận 2 khổ thơ cuối bài tràng giang

phân tích 2 khổ thơ cuối bài tràng giang

Phân tich 2 khô thơ cuôi cua bai trang giang

phan tich hai kho tho cuoi bai trang giang

Phân Tích Hai Khổ Đầu Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh

Phân tích hai khổ đầu bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ trẻ xuất sắc trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ và là một trong số ít những nhà thơ nữ viết rất nhiều và rất thành công về đề tài tình yêu. Một trong những thành công xuất sắc về đề tài này của nữ sĩ là bài thơ “Sóng”, hai khổ thơ đầu bài thơ nữ thi sĩ viết:

Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, vần thơ của bà vừa chân thành đằm thắm, vừa nồng nàn mãnh liệt và hơn hết luôn bật lên khát vọng da diết về hạnh phúc bình dị đời thường. Bài thơ “Sóng” ra đời năm 1967 trong chuyến đi thực tế của nhà thơ về vùng biển Diêm Điền tỉnh Thái Bình và lúc này thì bản thân nhà thơ cũng vừa trải qua một sự đổ vỡ trong tình yêu. Bài thơ được in trong tập “Hoa dọc chiến hào” năm 1968. Tình yêu là điều bí ẩn nên ngàn đời vẫn cuốn hút con người, tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh chính là những bông hoa dọc chiến hào làm dịu đi sự khốc liệt của chiến tranh.

Trong bài thơ “Sóng”, nhà thơ sử dụng thể thơ năm chữ, đây là thể thơ có nhịp điệu nhanh, mạnh, dồn dập. Thể thơ này thường dùng để diễn tả những dòng cảm xúc ào ạt, hối hả, mãnh liệt. Bài thơ sử dụng cách hiệp vần giãn cách, hiệp vần chân ở những tiếng cuối của các câu chẵn. Hơn nữa bài thơ có sự luân phiên về thanh điệu ở các tiếng cuối của các câu thơ. Như vậy những thủ pháp nghệ thuật sáng tạo đã tạo nên âm hưởng nhịp nhàng, uyển chuyển cho cả bài thơ. Âm hưởng của bài thơ là âm hưởng dạt dào của những con sóng mà mỗi câu thơ là một con sóng, chúng gối lên nhau chạy đều, chạy đều đến cuối bài thơ. Những con sóng là sự trào dâng mãnh liệt của dòng cảm xúc ào ạt trong lòng nữ sĩ. Có lẽ vì thế mà ấn tượng về con sóng trong bài thơ không chỉ là của sóng biển mà còn là của sóng tình. Đây cũng chính là hai hình tượng nghệ thuật mà tác giả đã tập trung xây dựng trong bài thơ. Sóng biển và sóng tình có lúc tồn tại song song để soi chiếu, tôn vinh vẻ đẹp cho nhau, có lúc lại hòa làm một, trong sóng biển có sóng tình, trong sóng tình ta lại thấy nhịp dào dạt của sóng biển. Suy cho cùng sóng biển và sóng tình là hai hình tượng nghệ thuật để biểu đạt cho cái tôi trữ tình của nhà thơ.

Qua hai khổ thơ đầu nữ sĩ đã cho chúng ta cảm nhận được đặc điểm của những con sóng biển và những con sóng tình yêu, những con sóng luôn chứa đựng những trạng thái đối lập và luôn có những khát khao vươn tới những sự vĩ đại, bao la. Mở đầu, nhà thơ viết:

Trong hai câu thơ mở đầu tác giả đã sử dụng tới hai cặp tính từ trái nghĩa để miêu tả đặc điểm của sóng biển: “dữ dội – dịu êm”, “ồn ào – lặng lẽ”. Thông thường đứng giữa những cặp tính từ trái nghĩa là quan hệ từ biểu đạt sự tương phản “tuy – nhưng”, thế nhưng ở đây nhà thơ nữ Xuân Quỳnh lại sử dụng quan hệ từ “và” vốn biểu đạt quan hệ cộng hưởng, cộng thêm, nối tiếp. Như vậy những đặc điểm tưởng như đối lập lại thống nhất với nhau và luôn tồn tại trong một chỉnh thể là sóng. Trong cái dữ dội có cái dịu êm, trong sự ồn ào lại chứa đựng sự lặng lẽ.Những trạng thái đối lập của sóng cũng chính là những trạng thái đối lập trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu. Trong tình yêu, tâm hồn người phụ nữ không hề bình lặng mà đầy biến động: có khi sôi nổi cuồng nhiệt, cũng có khi e lệ, kín đáo, có lúc đằm thắm, lúc hờn ghen… Tác giả tiếp tục sử dụng biện pháp nhân hóa trong hai câu thơ tiếp theo, con sóng được nhân hóa qua động từ “tìm” trong hành trình từ sông ra tới biển:

“Sông không hiểu nổi mình“Ôi con sóng ngày xưavà ngày sau vẫn thế” “Nỗi khát vọng tình yêuBồi hồi trong ngực trẻ” Sóng tìm ra tận bể”

Tác giả đã khéo léo sử dụng động từ “tìm” trong việc nhân hóa con sóng đã cho ta thấy được sự chủ động của con sóng, con sóng chủ động chối bỏ những phạm vi chật hẹp “sông” để vươn tới những phạm vi rộng lớn bao la “bể”. Như vậy trong bốn câu thơ đầu nhà thơ đã giúp ta nhìn lại hai đặc điểm tự nhiên, vốn có của những con sóng và chính tác giả cũng đã phải sử dụng tới hai câu thơ để khẳng định sự hiển nhiên, vốn có này:

Nữ sĩ đã khẳng định đặc điểm ngàn đời vốn có của sóng, từ quá khứ “ngày xưa” cho đến tương lai “ngày sau” con sóng vẫn luôn chứa đựng những trạng thái đối lập, vẫn luôn vận động theo quy luật trăm sông đều đổ về với biển. Trạng từ khẳng định “vẫn thế” một lần nữa biểu đạt một chân lí không bao giờ đổi thay.

Thơ ca, nghệ thuật là những sự sáng tạo mang đến cho người đọc những cảm xúc mới, đem đến cho tâm hồn con người những sự trải nghiệm phong phú. Ta tự hỏi vì sao trong sáu câu thơ đầu tác giả chỉ cho chúng ta hai đặc điểm tự nhiên, vốn có của con sóng? Để giải đáp cho điều này nữ sĩ viết tiếp hai câu thơ:

Đến đây ta đã cảm nhận được sự xuất hiện của một con sóng nữa đó là con sóng của tâm hồn, là con sóng của tình yêu, mà lại là tình yêu của tuổi trẻ đang bồi hồi, đang thổn thức trong trái tim, trong lồng ngực. Khát vọng tình yêu cháy bỏng mãnh liệt đang trào dâng trong lòng nữ sĩ. Như vậy đứng trước biển, trước những con sóng ào ạt ạt vỗ bờ dòng cảm xúc trong lòng nữ sĩ cũng trào dâng. Những con sóng biển ở sáu câu thơ đầu đã gọi những con sóng tình trong lòng nhà thơ. Sóng biển đã gọi sóng tình hay sóng biển chính là yếu tố khơi nguồn cảm xúc trong lòng thi sĩ.

Vì sao sóng biển lại gọi được sóng tình, lại có sức khơi gợi cảm xúc mãnh liệt như vậy? Có lẽ giữa sóng biển và sóng tình có sự tương đồng, nếu sóng biển biển chứa đựng những trạng thái đối lập thì tâm trạng người con gái đang yêu cũng có những lúc giận dỗi, hờn ghen, có những lúc yêu thương dịu dàng đằm thắm:

Con gái khi yêu luôn là như thế, luôn mâu thuẫn, đối lập trong lời nói và hành động. Nếu yêu một người con gái mà không biết nhìn thẳng vào mắt người đó thì chắc chắn một điều rằng anh chàng sẽ khó lòng hiểu và yêu thương cô gái trọn vẹn.Hành trình của sóng chính là hành trình của tình yêu. Nếu con sóng luôn luôn chủ động chối bỏ những chật chội hẹp hòi để vươn tới những điều rộng lớn thì người con gái đang yêu cũng luôn luôn có khát khao như thế.Họ dũng cảm từ bỏ những ích kỉ, nhỏ nhen để vươn tới tình yêu bao dung. Việt Nam là một nước có lịch sử ơn một nghìn năm phong kiến và chế độ phong kiến đã đè nặng tư tưởng phụ nữ Việt. Thời kì những năm 1967 ảnh hưởng của tư tưởng hệ phong kiến chắc chắn còn, mà thậm chí còn rơi rớt đến một số thế hệ trẻ hiện nay thế nhưng ở Xuân Quỳnh ta bắt gặp một con người hiện đại, thông minh và sắc sảo,luôn khát khao hướng tới một tình yêu vĩ đại.

Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh

Phân tích 2 khổ thơ đầu bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Đã có biết bao nhiêu thi nhân lựa chọn hình ảnh sóng làm hình tượng chính trong những tác phẩm của mình, bởi một lẽ đây là hình tượng chuyển động, mãnh liệt và kì vĩ. Thế nhưng, con sóng ấy khi đi vào thơ Xuân Quỳnh lại trở nên mềm mại, dịu dàng, đầy nữ tính. Hai khổ đầu bài thơ Sóng biểu hiện rõ trạng thái ấy:

Nếu Xuân Diệu lựa chọn hình ảnh sóng để biểu hiện cho tình yêu của anh dành cho em, một tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, muốn ôm trọn em vào lòng, muốn hôn lấy em,… thì Xuân Quỳnh, lại lựa chọn hình tượng này, viết về sóng để gửi gắm tình yêu của trái tim người phụ nữ. Với những khao khát trong tình yêu, với những cũng bậc ảm xúc nhiều khi biến động, hai hình tượng “sóng và em” khi song hành, khi tách biệt, khi hòa nhập để em soi mình vào trong sóng nhìn ra những tình cảm của riêng mình. Xuân Quỳnh đã bắt đầu thi phẩm này một cách vô cùng tinh tế:

Nguyễn Đình Thi từng nói rằng khi người ta yêu, thường hay đứng trước biển. Bởi chỉ có biển mới sánh sánh được với cái mênh mông tình yêu trong họ. Xuân Quỳnh cũng thế, cô đang yêu, đăng đắm say trong cảm giác vừa trong trẻo vừa rối bời trong trái tim mình. Thế nên, cô về với biển, ngắm nhìn con sóng bạc đầu bồi hồi suy tưởng.

Khi đứng trước đại dương bao la, trước muôn trùng con sóng vỗ bạc đầu, người nghệ sĩ lại có trong mình nhiều rung cảm đến vậy, để cho tới tận bây giờ, biển vẫn hát khúc ca của đại dương. Đọc giả của những năm tháng thời kì ấy, vẫn ru hoài giấc mơ qua những thi phẩm khởi nguồn từ con sóng như thế.

Trong khổ thơ đầu tiên, nghệ thuật đối đã được sử dụng một cách rất tinh tế. Các cặp từ đối lập : “dữ dội – dịu êm”, “ồn ào – lặng lẽ” là biểu hiện rõ ràng nhất cho những trạng thái đối cực của con sóng ngoài đại dương. Khi đại dương hiền hòa, những con sóng thật nhẹ nhàng, êm dịu. Khi giông bão đi ngang, biển động sóng mạnh mang theo bao cuồng nộ. Những trạng thái đối cực của sóng cũng chính là những trạng thái đối cực của tình yêu, có những khi rất bình yên, nhưng cũng có những ngày bão tố.

Ta cũng có thể hiểu hau câu thơ này theo một trường nghĩa khác. Với trạng thái đối cực của trái tim người phụ nữ khi yêu, một người phụ nữ khao khát tình yêu. Khi vui, khi buồn, khi giận hờn, khi trách móc, khi hạnh phúc, khi tổn thương,… những cung bậc cảm xúc của tình yêu quả thật rất diệu kỳ bởi một lẽ:

Chuyển đến hai câu thơ tiếp theo, ta nhìn thấy sự mới lạ trong tứ thơ của Xuân Quỳnh:

Những hình ảnh xuất hiện liên tiếp, hình ảnh của dòng sông, của con sóng và của “bể”, ở đây có thể hiểu là biển, là đại dương. Trăm suối đổ về một sông, trăm sông đổ về biển lớn, sóng không chấp nhận giới hạn nhỏ bé tầm thường, sóng chuyển mình ra biển lớn, tìm về đại dương, tìm đến nơi thuộc về. Ở hai câu thơ này, mạch sóng như bứt phá ra khỏi một không gian chật hẹp để tìm đến những điều lớn lao.

Cũng giống như trái tim tình yêu của những người phụ nữ, vượt qua những giới hạn nhỏ bé tầm thường, để tìm đến với tình yêu đích thực của cuộc đời mình. Có thể thấy rằng, đây cũng chính là một trong những nét hiện đại trong thơ Xuân Quỳnh, cũng là góc nhìn, một quan niệm mới mẻ về người phụ nữ hiện đại, dám đấu tranh vì tình yêu, vượt qua những thứ lễ giáo phong kiến để đến với hạnh phúc đích thực của cuộc đời mình. Ở khổ thơ đầu của mình, Xuân Quỳnh đã rất tinh tế khi gửi gắm tới bạn đọc một thông điệp mới mẻ trong thời đại lúc bấy giờ: “Người phụ nữ chủ động tìm đến với tình yêu để được sống với chính mình”.

Xuân Quỳnh viết “Sóng”, cô đang hát những khúc hát về tình yêu để đến bây giờ, biết bao nhiêu thập kỷ trôi quan rồi, những độc giả vẫn dành biết bao nhiêu tình yêu của mình cho một mảnh “tình thơ” đã cũ. Và tình yêu trong “Sóng” – mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, của lứa đôi:

Thán từ “ôi” được sử dụng, bộc lộ mạnh mẽ những trạng thái cảm xúc đang trào lên trong lòng. Cặp từ đối “ngày xưa” – “ngày sau” khiến cho người đọc có biết bao nhiêu liên tưởng khi đọc đoạn thơ này. Trải qua hàng ngàn hàng vạn năm, từ khi đại dương xuất hiện, những con sóng cũng ra đời.

Hai khổ thơ khép lại nhưng sóng mãi còn lan toả. Dẫu cho thời gian mãi là một dòng tuyến tính không bao giờ quay trở lại thì sóng vẫn cứ mãi hát khúc ca của đại dương bất diệt, vẫn cứ là mình, vẫn “dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ”. Cũng giống như tình yêu, những khát khao về tình yêu luôn luôn là những hoài bão đang đập nhanh trong trái tim của những người trẻ. Câu chuyện tình yêu là câu chuyện của tôi, của bạn, của chúng ta, của quá khứ, hiện tại và muôn đời sau sẽ còn nhắc mãi, nhắc hoài. Còn đại dương là còn sóng, còn những trái tim đang đập trong lồng ngực là còn tình yêu.

Phân tích bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh được xem là một trong số những thi sĩ viết thơ tình hay nhất trong nền thơ Việt Nam sau 1975. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh vừa nồng nhiệt, táo bạo, vừa thiết tha, say đắm, dịu dàng, hồn nhiên giàu trực cảm mà lắng sâu những trải nghiệm suy tư. Là một người phụ nữ đa cảm, nên thơ Xuân Quỳnh thương hướng đến hạnh phúc đời thường. Bài thơ Sóng sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế của vùng biển Diêm Điền (Thái Bình). Đây là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Tác phẩm là tiếng lòng thiết tha của người phụ nữ trước cuộc đời được sống, được yêu đúng nghĩa, chân thành và thủy chung.

Trước hết, đọc thơ Xuân Quỳnh ta sẽ thấy đó là một tâm hồn rất thành thật, giàu đức hi sinh và lòng vị tha. Ở Xuân Quỳnh, khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt luôn gắn liền với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ, cùng với những dự cảm về bất trắc. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường. Ở sắc thái, cung bậc nào thơ Xuân Quỳnh cũng nồng nàn sôi nổi, chân thành say đắm.

Thành công đầu tiên của bài thơ là tác giả đã lựa chọn một thể thơ có thể tạo ra âm điệu dìu dặt không ngừng thôi thúc vào lòng người đọc. Đó là âm điệu của những con sóng trên biển cả. Và sâu xa hơn chính là âm điệu của những con sóng lòng với nhiều cung bậc, sắc thái, cảm xúc trong trái tim nữ thi sĩ. Âm điệu của một nỗi lòng đang tràn ngập, khát khao, đang rạo rực tình yêu. Trái tim ấy đang rung lên đồng điệu, hoà nhịp với sóng biển. Nỗi khao khát ấy mãnh liệt đến mức không còn thấy đâu là nhịp điệu của sóng biển, đâu là nhịp điệu tâm hồn thi sĩ. Âm điệu đó được tạo nên bởi hai yếu tố chính: thể thơ năm chữ và phương thức tổ chức ngôn từ, hình ảnh. Thể thơ năm chữ cùng với sự linh hoạt, phóng túng khi ngắt nhịp, phối âm đã gợi lên thật ấn tượng nhịp sóng biển (và cả sóng lòng nữa) khi dịu êm, khoan thai, khi dồn dập, dữ dội.

Xuân Quỳnh đã mượn nhịp Sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu, không chịu yên định mà đầy biến động, khao khát. Mỗi trạng thái tâm hồn cụ thể của người phụ nữ đang yêu đều có thể tìm thấy sự tương đồng của nó với một khía cạnh, một đặc tính nào đó của sóng

Hình tượng bao trùm toàn bộ bài thơ là hình ảnh ẩn dụ: Sóng để nói đến tình yêu:

Hình ảnh sóng trong trạng thái đối lập. Có lúc nó thật dữ dội, khi lại rất dịu êm. Có lúc nó trở nên ồn ào, khi lại vô cùng lặng lẽ, đằm sâu.

Sóng được miêu tả cụ thể, sinh động, với nhiều trạng thái mâu thuẫn, trái ngược nhau. Đây cũng chính là cơn sóng lòng với nhiều cung bậc, sắc thái, cảm xúc trong tâm hồn người con gái đang yêu:

Với nghệ thuật nhân hoá, con sóng vượt qua không gian chợt tìm đến cái bao la của biển cả. Trái tim người con gái đang yêu cũng vậy, nó không chịu chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp, luôn vươn tới cái lớn lao để đồng cảm, đồng điệu với khát vọng khám phá mình. Nó khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu vĩnh hằng. Đó là một lối liên tưởng rất thực và cũng rất thơ.

Biện pháp đối lập giữa ngày xưa và ngày sau, phép liên kết thế đại từ “thế” khẳng định sự vĩnh hằng của những con sóng từ ngàn, triệu năm qua. Đó cũng là sự vĩnh hằng của tình yêu, của một khát vọng cháy bỏng trong trái tim con người

Khát vọng mãnh liệt về tình yêu luôn luôn thường trực, bồi hồi trong trái tim tuổi trẻ, nhất là tình yêu lứa đôi. Người con gái khao khát yêu đương nhưng không còn nhẫn nhục, cam chịu nữa. Nếu Sông không hiểu nổi mình thì Sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó để tìm ra tận bể để đến với cái cao rộng, bao dung với khát vọng và kiếm tìm.

Đối diện với một hình tượng quá lớn về kích cỡ và phức tạp về quy luật vận động, nhà thơ bắt đầu đi tìm kiếm nguồn cội khởi nguyên của nó. Thế nhưng, càng tìm kiếm càng thấy khó hiểu hơn

Có người nói khi trái tim có một tình yêu lớn, người ta thường tìm đến với cảnh vật rộng lớn. Có lẽ, chỉ có biển cả mới chứa hết được tình yêu đắm say của nữ sĩ dành cho cuộc đời và con người. Trái tim nhỏ bé ấy lúc nào cũng rạo rực, nồng say. Tác giả llí giải quy luật xuất phát của sóng là từ gió, còn gió từ đâu? Câu trả lời nằm trong vô vọng, ngoài sự hiểu biết:

Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu? Em cũng không biết nữa hi nào ta yêu nhau

Những câu hỏi không có lời giải đáp cũng như một tình yêu đích thực, không thể giải thích được, không thể truy nguyên được nguồn gốc. Điều đó chứng tỏ sự bí ẩn, diệu kì, sức hấp dẫn, mời gọi của tình yêu muôn thuở. Càng bí ẩn càng khơi gợi khát khao kiếm tìm, khám phá, càng háo hức yêu và yêu cuồng nhiệt hơn.

Thế nhưng, tác giả không thể chấp nhận điều mơ hồ ấy và vẫn đi tìm sự lí giải của riêng mình. Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ khi xa cách: hạt nhân của tình yêu là nỗi nhớ:

Con sóng dù ở trạng thái nào (dưới lòng sâu hay trên mặt nước), dù ở thời gian nào (ngày hay đêm) đều nhớ bờ da diết. Tình yêu cũng thế, dẫu ngày hay đêm, dẫu gần hay xa đều gây ra cảm giác nhớ nhung, bồi hồi, vẫn hướng về nhau. Điệp từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần, nhân hóa “sóng nhớ bờ…không ngủ được” diễn tả một nỗi nhớ thật mãnh liệt, da diết, thường trực cả khi thức, khi ngủ, bao trùm lên cả không gian và thời gian của nhân vật trữ tình:

Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh – một phương

Phép đối xuôi và ngược, Bắc và Nam diễn tả nỗi vất vả, gian truân trong tình yêu. Điệp từ “dẫu ” khẳng định tấm lòng thủy chung, son sắt. Sóng chỉ có một đích đến là bờ, em chỉ có điểm đến duy nhất là phương anh dù cuộc đời nhiều trái ngang.

Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở

Đến đây, mạch thơ trở nên mạnh mẽ, nhịp thơ chậm rãi hơn. Đó như một lời khẳng định chắc chắn tấm lòng son sắt thuỷ chung, trong sáng quyết vượt qua mọi cản ngăn trong tình yêu. Đó là suy nghĩ của một tâm hồn cao thượng.

Tình yêu là một hiện tượng tâm lí khác thường, đầy bí ẩn không thể truy nguyên được khởi nguồn của nó, về thời điểm bắt đầu của một tình yêu. Đó là điều mà trước đó nhà thơ Xuân Diệu băn khoăn: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” thì nay Xuân Quỳnh lại bộc bạch một cách hồn nhiên, thật dễ thương. Tình yêu cũng như sóng biển, như gió trời: cũng tự nhiên, hồn nhiên, khó hiểu, nhiều bất ngờ thì làm sao có thể giải thích được nguồn gốc của nó. Đây là một cách cắt nghĩa rất Xuân Quỳnh. Một cách cắt nghĩa nữ tính và trực cảm.

Qua hình tượng sóng và em, Xuân Quỳnh đã nói lên thật chân thành, táo bạo. Cô không hề giấu giếm khát vọng tình yêu sôi nổi, mãnh liệt, thiết tha, nồng nàn của mình, một người phụ nữ. Biều hiếm thấy trong văn học Việt Nam trước đó.

Nhà thơ Lưu Trùng Dương trong bài Nói với người yêu từng bộc bạch:

Và cũng có người:

Họ yêu nhau nhưng hỏi :Tình yêu bắt đầu từ đâu? Và tình yêu là gì? Thì có biết bao cách trả lời

Sau bao nhiêu lí giải, cuối cùng, nhà thơ trở về với sự chiêm nghiệm cuộc đời và khát vọng được sống hết mình trong tình yêu:

Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa

Nhịp thơ lắng xuống, hình ảnh thơ mở ra (đi qua, biển dẫu rộng, bay về xa) như mang đến những dự cảm, sự khắc khoải lo âu, nhận thức và thấm thía sự hữu hạn của kiếp người, giữa cái vô cùng, vô tận của thời gian:

Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ.

“Tan ra’ không phải để mất đi mà hoà giữa cái chung và cái riêng. Các từ chỉ số lượng lớn phơi bày một nỗi khát vọng hòa nhịp tình yêu của mình với tình yêu nhân loại, khát vọng về sức sống của tình yêu với muôn thuở. Đó là một tình yêu say đắm chân thành và khát vọng trường tồn. Cách duy nhất để tình yêu trường tồn với thời gian, để trái tim yêu được đập mãi đó là “tan ra thành trăm con sóng nhỏ” . Xuân Quỳnh khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hoá thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở. Hay nói như Shiller: “Tình yêu chân chính không bị mài mòn bởi thời gian, cũng không thể đổi thay bởi hoàn cảnh”

Một nỗi nhớ cồn cào, da diết, không thể nào yên, không thể nào nguôi. Nó cuồn cuộn,dào dạt như những đợt sóng biển triền miên, vô hồi, vô hạn. Nhịp thơ trong suốt bài thơ này là nhịp sóng, nhưng rõ nhất, và dào dạt, náo nức và mãnh liệt nhất là ở đoạn thơ này.

Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng năm 1967, khi mà nhà thơ đã từng nếm trải sự đổ vỡ trong tình yêu. Song người phụ nữ hồn nhiên, tha thiết yêu đời này vẫn còn ấp ủ biết bao hi vọng, vẫn phơi phới một niềm tin vào hạnh phúc trong tương lai. Tương lai như đang còn ở phía trước đối với Xuân Quỳnh. Tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao, có sức mạnh làm trong sạch tâm hồn của con người.

Thành công của bài thơ là tạo ra âm điệu phù hợp giưa hai hình tượng sóng và tình yêu trong em. Thể thơ năm chữ có khả năng gợi âm điệu dạt dào, vừa là cái nhịp nhàng của sóng biển, vừa là cái khắc khoải của sóng lòng với nhiều cung bậc cảm xúc. Kết hợp với phương thức tổ chức ngôn từ, hình ảnh sáng tạo hòa trộn thanh âm, nhịp điệu của sóng với những trăn trở, khát khao, nhớ thương, hờn giận đan xen nối tiếp trong cõi lòng của người con gái khi yêu cũng tạo nên một yếu tố nhạc tính của thơ.

Cách sử dụng hình tượng ẩn dụ sóng đa nghĩa là một sáng tạo độc đáo của Xuân Quỳnh,khiến lời thơ vừa thực, vừa lãng mạn. Sóng như có hồn, có tính cách, tâm trạng, gợi đến sự phong phú trong tâm hồn ng con gái khi yêu – vừa say đắm vừa tỉnh táo, vừa nồng nhiệt vừa âm thầm, lúc sôi mãnh liệt, lúc lại kín đáo, sâu sắc.

“Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Điều đó thật đúng với bài thơ Sóng. Thơ Xuân Quỳnh rất ít triết lí mà thường nghiêng về duy cảm. Nó được viết bằng cảm xúc chân thật của một người phụ nữ, người vợ với bao lo toan chuyện cơm áo gạo tiền thời chiến tranh.

Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn,đầy khát vọng và sắc son chung thủy, vượt lên mọi giới hạn của đời thường. Tuy có chút triết lí nhưng đó là triết lí của trái tim người phụ nữ luôn muốn đi đến tận cùng của tình yêu để tìm kiếm giá trị chân, thiện, mĩ trong cuộc đời hữu hạn này:

Sẽ không thể có được một tình yêu đích thực nếu trái tim không có những tình cảm chân thực. Sóng là một cuộc tìm kiếm không có điểm dừng, không có hồi kết. Nó mãi mãi lan tỏa trong trái tim của muôn thế hệ cho đến khi nào trái tim nhân loại ngừng đập, tình yêu trên mặt đất không còn nữa. Với bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh đã góp một tiến nói trong trẻo, đắm say về tình yêu như một định nghĩa về sự vận động phức tạp và vĩnh hằng trong cảm xúc của con người.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Tràng Giang trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!