Đề Xuất 1/2023 # Phân Tích Bài Thơ Rằm Tháng Giêng (Nguyên Tiêu) Của Hồ Chí Minh # Top 4 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Phân Tích Bài Thơ Rằm Tháng Giêng (Nguyên Tiêu) Của Hồ Chí Minh # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Tích Bài Thơ Rằm Tháng Giêng (Nguyên Tiêu) Của Hồ Chí Minh mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phân tích bài thơ Rằm Tháng Giêng (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh

Thiên nhiên trong bài thơ Rằm Tháng Giêng (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh chứa đựng một tinh thần lạc quan, một niềm vui lớn. Niềm vui của người chiến sĩ cách mạng đang lèo lái con thuyền kháng chiến đi đến thắng lợi.

Cảnh thiên nhiên trong bài thơ rất hữu tình, có trời, có nước, có thuyền, có trăng… thật hài hòa biết bao với tâm hồn người thi sĩ đang hòa quyện với thiên thiên.

Bài 1. Bài văn của em Trần Thu Hà đã phân tích bài thơ Rằm Tháng Giêng (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh:

Có lẽ trăng là đối tượng muôn đời của thi sĩ. Ánh sáng lung linh, huyền diệu thanh thoát và dịu hiền của trăng rất dễ gợi cảm hứng cho thi nhân. Trăng đã từng bàng bạc tỏa sáng những trang thơ trong đôi mắt “biếc rờn” dạt dào say đắm của thi sĩ. Là một nhà thơ yêu thiến nhiên tha thiết, Bác cũng không nằm ngoài qui luật cảm hứng chung ấy của nhân loại. Bác yêu trăng, nâng niu thứ ánh sáng thanh khiết của trăng nên mỗi khi thưởng trăng, Bác thường gửi gắm vào người, bạn tri âm ấy những cảm xúc dạt dào và say đắm của tâm hồn. Hoài Thanh đã từng nhận xét: “Thiên nhiên trong thơ Bác thường chan chứa một niềm vui lớn”. Bài thơ viết về trăng nổi tiếng của Bác – bài “Nguyên tiêu” cũng “chan chứa niềm vui lớn” mà Bác trân trọng gửi gắm với tất cả thương yêu.

Ở con người Bác – một con người giản dị, nhưng vẫn luôn luôn tóa sáng một nhân cách lớn lao, vĩ đại. Bác sống vì lý tưởng cao cả, buồn với nỗi đau lớn, vui với niềm vui lớn nên Bác mang cả “niềm vui lớn” ấy vào trong thơ. Chính vì thế thiên nhiên – “người tình muôn đời của thi sĩ” trong thơ Bác thường được Bác yêu thương gửi gắm nỗi niềm. Và nhất là nói với Bác, trăng vẫn là một người bạn tri âm chia sẻ vui buồn, trăng vốn chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp thơ ca Hồ Chí Minh. Trăng cũng thường mang trong mình những nỗi niềm tha thiết, mãnh liệt mà sâu lắng của Người. Bài thơ “Nguyên tiêu” tuyệt đẹp cũng nằm trong nguồn mạch ấy.

Bài thơ chữ Hán nhỏ xinh ấy đã ra đời trong 9 năm kháng chiến Chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc (cụ thể là bài thơ được sáng tác vào mùa xuân năm 1948). Sau chiến thắng Việt Bắc, thu đông 1947, quân dân ta liên tiếp thu được những chiến thắng rực rỡ. Niềm vui thắng trận đã mang đến một niềm phấn khởi, một niềm tin mãnh liệt cho những con người kháng chiến. Trong không khí sôi động phấn chấn ấy, hồn thơ của Bác đã cất cánh, “Nguyên tiêu” đã ra đời như một đóa hoa xuân ngào ngạt và rực rỡ sắc hương. Vì thế, bức tranh thiên nhiên trong bài thơ mang vẻ đẹp tươi tắn, thể hiện sâu sắc niềm vui dào dạt của tâm hồn Bác trong đêm nguyên tiêu lịch sử.

Mở đầu bài thơ là một lời thông báo, một lời nhận xét mang tính hiện thực cao độ:

“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên” (Rằm xuân lồng lộng trăng soi)

Rằm tháng giêng, trăng đang vào độ tràn đầy, viên mãn nhất. Trăng ở trên đỉnh bầu trời tỏa xuống thế gian một thứ ánh sáng mênh mang, huyền diệu. Có người đã so sánh vầng trăng trong “Rằm tháng giêng” với vầng trăng trong “Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế:

“Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Giang phong ngư hỏa đối sầu miên”

Một tiếng quạ kêu vang lên thê thiết giữa đêm khuya, một vầng trăng tàn, trăng úa đã gợi dậy cả một nổi buồn mênh mang, sầu não. Cũng là vầng trăng thiên nhiên ấy nhưng vầng trăng trong “Nguyên tiêu” lại là vầng trăng rực rỡ sắc xuân, tràn đầy “sung mãn”.

“Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”

Không gian bức tranh mở ra mênh mông bát ngát – một không gian ba chiều tràn đầy sức sống mùa xuân. Câu thơ chính đã đánh rơi mất một chữ xuân trong nguyên tác “Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên”: sông mùa xuân, nước mùa xuân, tiếp với bầu trời mùa xuân. Ba chữ “xuân” tiếp ứng trong câu thơ như tạc như in cái xuân sắc của đất trời vào hồn người đọc. “Xuân giang”, “xuân thủy” hòa với “xuân thiên” tạo nên một mùa xuân bất tận, sức sống bừng lên toàn vũ trụ mênh mông. Giữa sông nước và bầu trời không còn giới hạn mà như hòa quyện vào nhau, chan chứa ánh sáng lấp lánh, vừa tươi đẹp vừa hư ảo như ở chốn bồng lai tiên cảnh. Độ dài rộng của sông nước, độ cao bát ngát của trời xuân như mở rộng ra mãi trong lòng người.

Động từ “tiếp” dựng dậy độ cao của bức tranh khoáng đạt, càng tạo ấn tượng về không gian vũ trụ bao la, hùng vĩ. Điệp từ “xuân” như những nốt nhấn, trong trẻo khiến sức sống bùng lên tỏa lan đất trời. Đêm trăng huyền diệu tràn ngập sức xuân tươi mới ấy tưởng như ở chốn bồng lai, nhưng thật ra đó là vẻ đẹp trần thế ngay giữa cuộc đời, nơi sông nước Việt Bắc – căn cứ địa cuộc kháng chiến chông Pháp thần thánh của dân tộc ta. Tưởng như thi nhân đang mở rộng cõi lòng để thu lấy sắc xuân của tạo vật, của đất trời trong cái nhìn hân hoan, giao cảm lạc quan với thiên nhiên. Đằng sau bức tranh xuân lộng lẫy ánh sáng, lộng lẫy vẻ đẹp sắc màu của cảnh vật hữu tình chan chứa một điệu xanh bát ngát: xanh lấp lánh “xuân giang”, xanh ngọc bích “xuân thủy”, xanh thiên thanh của “xuân thiên” (Tạ Đức Hiền), là một tâm hồn trong trẻo, cao đẹp và tràn ngập “một niềm vui lớn”. “Xuân” là mùa xuân, là tuổi trẻ, là vẻ dẹp tươi xinh nhưng “xuân” còn là vẻ đẹp, là sức sống mãnh liệt của đất nước ta: trong chiến tranh gian khổ vẫn bừng lên một sức sống mạnh mẽ tiềm tàng, trẻ trung không thể dập tắt được. Hai câu thơ đầu không chỉ mở ra một bức tranh xuân viên mãn với ánh trăng căng trào sức sống mà còn thể hiện tinh tế một niềm cảm xúc tự hào, một niềm vui sướng mênh mông của “một hồn thơ đang rung động giữa một đêm xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử, đất nước đang anh dũng kháng chiến” (Tạ Đức Hiền). Vì thế, niềm vui cao cả lớn lao ấy của Bác như truyền vào cảnh khiến cảnh vật tươi mới, dạt dào sự sống hơn bao giờ hết.

Thơ Bác luôn vận động linh hoạt, con người luôn chủ động làm tâm điểm của bức tranh thiên nhiên. Hai câu thơ cuối đã hướng tới con người – chủ thể trữ tình với một niềm vui bát ngát:

“Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”.

“Thế sự thăng trầm quân mặc vấn Yên ba thâm xử hữu ngư châu” (Việc thế thăng trầm anh chớ hỏi Mênh mông khói sóng chiếc thuyền câu) (Cao Bá Quát)

hay ở câu thơ nổi tiếng của Thôi Hiệu:

“Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)

“Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền ”

Nửa đêm, khi việc nước đã bàn xong, phương lược kháng chiến đã định, tâm hồn con người đã vơi đi lo âu thế sự thì thiên nhiên đã trở về tràn ngập tâm hồn thi nhân với vẻ đẹp đắm say hơn bao giờ hết. Trăng lùa vào thuyền, vào hồn nhà thơ vấn vít. Trăng dâng đầy lai láng con thuyền khiến con thuyền để “bàn quân sự” vụt biến thành con thuyền thơ đầy ảo mộng. Một hình ảnh thơ tuyệt đẹp đã bay đến hồn thi nhân. Khi công việc đã hoàn thành, tâm hồn Bác mở rộng đón thứ ánh sáng cao khiết của ánh trăng, no nê, thưởng ngoạn chất xuân sung mãn. Vì thế, thiên nhiên trong bài thơ như hân hoan, trong niềm sảng khoái trong niềm vui thanh thản của người lãnh tụ đã tìm được phương lược kháng chiến để cứu nước. Câu thơ phảng phất hương vị Đường thi như trong câu thơ của Trương Kế:

“Cổ Tô thành ngoại Hàn sơn tự Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền” (Phong kiều dạ bạc)

Nếu câu thơ của Trương Kế ghi lại thời điểm đêm khuya tĩnh vắng, tâm trạng cô quạnh đơn chiếc của người lữ thứ thì trong “Nguyên tiêu”, cũng là nửa đêm nhưng cảnh không tĩnh vắng mà ấm nóng hoạt động của con người, mà sáng bừng ánh sắc của trăng rằm rực rỡ. Trong thơ Bác, trăng là thiên nhiên tươi đẹp, thanh xuân; trăng là người bạn tri âm tri kỉ và trăng cũng là biểu tượng cao đẹp, sáng láng của tự do. Ta đã từng bắt gặp tâm hồn người tù Hồ Chí Minh phá tan song sắt nhà lao Tưởng Giới Thạch để bay lên giữa bát ngát ánh trăng;

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

thì giờ đây, giữa Việt Bắc “thủ đô gió ngàn”, tâm hồn yêu thiên nhiên, khao khát tự do ấy càng bừng lên mãnh liệt. Trăng chính là hình ảnh tự do. Không còn tầm tôi một, cánh cửa nhà tù, chỉ có con người và ánh trăng làm trung tâm bức tranh phong cảnh. Niềm vui chan chưa trong hình ảnh thiên nhiên tự do, khoáng đạt gieo vào hồn người một cảm xúc trong trẻo đầy chất thơ.

Thơ Bác thường vận động hướng tới ánh sáng như niềm tin mãnh liệt của Bác vào tương lai huy hoàng tươi sáng của ngày mai. Bài thơ kết thúc trong dòng suối trăng lấp lánh rực rỡ, kết trong hình ảnh một con thuyền trăng chan hòa. “Ý tại ngôn ngoại”, lời thơ đóng lại nhưng ý thơ mở ra mênh mang, niềm vui như tỏa lan vương vấn mãi trong hồn người đọc. Niềm vui có được sau khi việc quân việc nước đã bàn xong, niềm vui có được khi thi nhân say đắm ngắm trăng vàng và tin vào tương lai tươi sáng. Niềm vui ấy củng cố cho con người niềm tin vào sự thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến vĩ đại. Câu thơ tràn đầy niềm lạc quan cách mạng của nhà thơ – vị lãnh tụ tài ba. Và vì thế con thuyền bát ngát trăng cũng như bát ngát niềm vui cao đẹp tin tưởng vào bình minh sáng rực của dân tộc. Chất lãng mạn cách mạng vút lên từ hiện thực kháng chiến, lâng lâng một niềm vui sảng khoái. Người chiến sĩ vụt biến thành thi sĩ, dể rồi say sưa trước xuân viên mãn, nhưng vẫn hết lòng với cuộc kháng chiến giành độc lập tự do, giữ mãi đêm trăng rằm mộng mị trên quê hương yên bình. Con thuyền quân sự – con thuyền trăng – con thuyền kháng chiến lướt trên dòng sông trong nguồn sáng rực rỡ là dự báo cuộc kháng chiến nhất định sẽ thắng lợi, con thuyền cách mạng sẽ cập bến vinh quang.

“Nguyên tiêu” là một bài thơ trăng đẹp. Bài thơ man mác phong vị Đường thi nhưng cảnh không buồn rầu như trong thơ cổ mà phơi phới một niềm vui lớn của một tâm hồn cao cả. Sức xưa như tràn ra trong hình ảnh thơ, ánh trăng như lai láng lan cả vào hồn bạn đọc đã thế hiện một tình yêu thiên nhiên tha thiết của một tâm hồn, dù trong kháng chiến gian khổ vẫn lạc quan tin tưởng vào ngày mai. Cảnh vật trong bài thơ thanh nhẹ nhưng lấp lánh niềm vui lớn. Dù thiên nhiên có phảng phất phong vị cổ điển vẫn phơi phới một niềm vui hiện đại, vẫn trĩu nặng chất đời. Trăng trong thơ Bác và trăng của hàng nghìn năm trước vẫn là vầng trăng ấy. Nhưng trăng xưa là trăng buồn, trăng úa, thì trăng trong “Rằm tháng giêng” lại là vầng trăng vui dạt dào sức sống. Vậy thì sự buồn vui đâu phải tự vầng trăng mà nỗi niềm ấy xuất phát tự lòng người. Trăng vui trăng đẹp, trăng trong trăng sáng thanh cao ấy là vì lòng người cũng vui, cũng đẹp, cũng trong sáng như trăng. Qua trăng trong bài thơ Bác, trăng trong “Nguyên tiêu” ta hiểu được vẻ đẹp tâm hồn trong trẻo cao đẹp của Bác chính là vì vậy.

“Thơ là tiếng nói của trái tim đến mỗi trái tim”. Niềm vui lớn trong thơ Bác đã tìm được sự đồng diệu trong lòng bao thế hệ. Qua thiên nhiên trong thơ Bác nói chung và thiên nhiên trong “Nguyên tiêu” nói riêng ta hiểu được nhân cách cao cả của người. Cuộc đời cứ trôi đi, nhưng tác phẩm nghệ thuật đích thực, những tâm hồn cao đẹp càng ngời sáng lấp lánh với muôn đời như “cây đời mãi mãi xanh tươi”. “Nguyên tiêu” với bức tranh thiên nhiên “chan chứa niềm vui lớn” sẽ mãi là một bông hoa xuân thắm sắc nhịp nhàng sự sống, nắng ấm tình đời như mới hôm qua.

Bài 2. Bài văn của em Trịnh Dương Long đã phân tích bài thơ Rằm Tháng Giêng (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh:

Nguyên tiêu là bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh được viết trong thời gian kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc. Sau chiến thắng Việt Bắc, Thu Đông 1947 sang Xuân Hè 1948 quân ta lại thắng lớn trên đường số 4. Niềm vui thắng lợi tràn ngập tiền tuyến, hậu phương. Trong không khí sôi động và phấn chấn ấy bài thơ Nguyền tiêu của Bác Hồ xuất hiện trên báo Cứu quốc như một đoá hoa xuân ngọt ngào rực rỡ sắc hương.

Kim dạ nguyền tiêu nguyệt chính viên

Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên

Yên ba thâm xứ đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

Mở đầu bài thơ là cảnh tuyệt vời trong đêm nguyên tiêu. Trên bầu trời vầng trăng tròn vành vạnh:

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

(Rằm xuân lồng lộng trăng soi)

Trăng rằm tháng giêng mang vẻ đẹp tươi xinh khác thường vì có hơi thở của mùa xuân. Đêm rằm, trăng sáng ánh trăng lồng lộng dát vàng trên nền trời, phủ khắp chốn trần gian, ánh trăng tràn mọi nẻo… Ánh trăng làm cho cảnh vật mang vẻ đẹp hữu tình lung linh sinh sắc. Đất nước, quê hương bao la một màu xanh bát ngát, màu xanh lấp lánh của xuân giang, dòng sông như được tiếp thêm sức sống mới dưới khí trời mát dịu. Dòng sông trở nên đẹp hơn, hữu tình hơn, dòng sông xanh xuân thủy và tiếp nối với màu xanh của xuân thiên.

Mùa xuân là mùa của chồi non, sự sống. Xuân phơi phới có ở khắp mọi nơi, xuân của dòng sông, dòng nước, không gian cao rộng của bầu trời. Khí xuân tràn ngập sự sống, ba từ xuân làm nổi bật cái thần của cảnh vật, sông nước và bầu trời:

Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên

(Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân)

Xuân trong câu thơ chữ Hán của Bác là mùa xuân, là tuổi trẻ và vẻ đẹp xinh tươi. Nó còn gợi tả màu xanh của sông nước, đất trời vào xuân. Khi vào xuân, con người tạo vật như bừng tỉnh, rạo rực trong cuộc sống mới. Nhà thơ Thanh Hải đâ từng cảm nhận mùa xuân cua thiên nhiên và đất trời qua những tín hiệu đặc sắc:

Một bông hoa tím biếc Ơi! Con chim chiền chiện

Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng…

(Mùa xuân nho nhỏ)

Xuân đến, tiếng chim hót vang lừng, giọt mùa xuân long lanh do đất trời ban tặng làm cho sự sống rạo rực hơn và bất tận.

Trong câu thơ của Bác xuân còn gợi tả màu xanh của sông nước, trời đất vào xuân, sức sống mãnh liệt, trẻ trung căng tràn nhựa sống. Niềm vui sướng tự hào phơi phới của Bác đang ngây ngất say sưa giữa một đêm xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử – đất nước đang anh dũng kháng chiến.

Với Bác, yêu trăng, yêu xuân chính là yêu cuộc đời. Trái tim mênh mông của người chan hoà với thiên nhiên, sông núi, hoa lá cỏ cây thật hữu tình. Có trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa, trăng vào cửa sổ đòi thơ trong niềm vui thắng trận. Và xem sách chim rừng vào cửa đậu – phê văn hoa núi ghé nghiêng soi. Thiên nhiên trong thơ Bác thật phong phú và chan chứa chất thơ.

Đến hai câu thơ cuối, ta thấy cảm nhận về dòng sông, về khói sóng, và con thuyền được nâng lên một mức:

Yên ba thâm xứ đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

Nhớ ánh trăng ngày nào khi Bác còn bị giam dưới ngục lạnh nơi đất khách quê người (1942-1943) thì đêm nay – đêm rằm tháng giêng (1948) lại bắt gặp ánh trăng nơi chiến khu Việt Bắc. Con thuyền xuôi mái giữa dòng sông trăng, tựa mạn thuyền người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh đang đàm quân sự. Ánh trăng đêm này là ánh trăng ước hẹn, báo trước những mùa trăng trong năm được nhân dân đón đợi với bao tình cảm nồng hậu. Trăng đêm nay không phải là ánh trăng bình thường trước sân nhà, đầu ngõ. Bác thưởng trăng trên khói sóng, người đang thưởng trăng nguyên tiêu không chỉ mang cốt cách như các bậc tao nhân mặc khách ngày xưa mà còn là con người hành động, người chiến sĩ cộng sản đánh giặc. Vị lãnh tụ đang bàn bạc việc quân trên con thuyền nhẹ lướt giữa sông nước trời xuân đây là trường hợp thưởng trăng rất đặc biệt, yên ba là khói sóng, thi liệu cổ của Đường thi. Vậy là câu thơ có nét cổ điển và có nét hiện đại, chất hiện đại đó chính chất thép, chất chiến đấu của người chiến sĩ cộng sản: Nay ở trong thơ nên có thép – Nhà thơ củng phải biết xung phong.

Sau quãng thời gian bàn bạc việc quân, đêm đã về khuya, nửa đêm (dạ bán). Con thuyền kháng chiến trở thành con thuyền trăng trên vời sông nước mênh mông:

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

(Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền)

Hình ảnh nguyệt mãn thuyền gợi cho chúng ta nhớ đến những vần thơ cổ thi hoa lệ:

Thuyền mấy lá đông, tây lặng ngắt

Một vầng trăng trong vắt lòng sông…

Nước biếc non xanh thuyền gối bãi

Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu

(Nguyễn Trãi)

Trở lại bài thơ Nguyên tiêu ta thấy con thuyền đang trôi nhẹ ẩn hiện sau màn sương khói. Trên chiếc thuyền hình ảnh thi sĩ – chiến sĩ hiện lên thật đẹp đẽ với bàn bạc việc quân trong đêm trăng, tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, quyết chiến đấu giành lại độc lập tự do cho dân tộc.

Nguyên tiêu là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, mang phong vị Đường thi. Bài thơ có nét thơ cổ thể: con thuyền, trăng, sóng, xuân, nước xuân, trời xuân, khói sóng… điệu thơ thanh nhẹ. Trong khung cảnh ấy chất chiến sĩ là trung tâm. Bài thơ như một đoá hoa xuân, tinh hoa kết tụ tâm hồn trí tuệ, đạo đức Hồ Chí Minh.

Văn là người, thơ là tấm lòng. Bài thơ này thể hiện tình yêu thiên nhiên đất nước, đồng thời bộc lộ tình yêu nước sâu sắc. Côt cách thi sĩ hoà quyện chất chiến sĩ chất chứa đầy ắp trên chiếc thuyền kháng chiến đang tiến nhanh về bến bờ độc lập tự do.

Cảm Nhận Về Bài Thơ “Rằm Tháng Giêng” Của Hồ Chí Minh

Đề bài: Rằm tháng riêng là bài thơ rất hay và độc đáo của Bác. Em hãy nêu cảm nhận về bài thơ “Rằm tháng Giêng” của Hồ Chí Minh.

Hướng dẫn

Mở bài Giới thiệu bài thơ Rằm tháng riêng của Hồ Chí Minh

Bài thơ “ Rằm tháng Giêng” được sáng tác vào tết nguyên tiêu năm Mậu Tý (1948). Bài thơ không chỉ là một ánh văn hay dưới góc độ văn học, mà còn là một dấu mốc lịch sử quan trọng của nước nhà. Sau chiến thắng Việt Bắc, suốt từ những năm đông 1947 sang hè 1948 quân dân ta liên tục dành chiến thắng trước quân xâm lược. Trong hoàn cảnh đó bài thơ được đăng trên báo “ cứu quốc” như một ngọn lừa tiếp thêm sức manh cho toàn dân tộc, đồng thời giúp chúng ta hiểu được tấm long yêu nước thương dân của Bác.

Thân bài Cảm nhận về bài thơ “Rằm tháng Giêng” của Hồ Chí Minh.

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Đối với Người, một ngọn cỏ dòng sông, ánh trăng giản dị của nước Việt đều là nguồn cảm hứng bất tận. Vì thế, trong đêm xuân đẹp tuyệt trần Người đánh gác công việc lại một bên để thả hồn vào thiên nhiên.

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Rằm tháng giêng là một trong những ngày trăng đẹp nhất trong năm. Vì nó chưa hơi thở ngọt ngào của mùa xuân.Hơi thở của sự sống đang đâm trồi nảy lộc, ánh trăng xuân thì “ lồng lộng” mang đến cho cảnh vật vẻ đẹp hữu tình, lung linh mờ ảo. Phải những ai có tâm hồn thật tinh tế mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp đó.

Để làm rõ thêm cảnh vật đất trời xuân Người viết.

Sông xuân, nước lẫn màu trời thêm xuân

Với nghệ thuật tả từ gần đến xa giúp chúng ta hình dùng được không khí xuân đang tưới đẫm lên vạn vật tạo nên một không gian tươi mới say đắm lòng người. Chỉ trong hai câu Bác đã dùng đến 3 từ xuân liên tiếp, mỗi tử để miêu tả một hình ảnh: Trăng- Sông- Bầu trời. Để liên kết giữa các cảnh vật bác dùng dùng từ “lồng lộng” và “lẫn” để vẽ nên một bức tranh xuân hài hoà và trải rộng khắp mênh mông.

Bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mở ra trước mắt khiến ta hình dung đến một nhà thi sĩ vô lo chỉ ngắm nhìn đến vẻ đẹp. Nhưng không, “ nỗi nước nhà” trong lòng Bác chưa bao giờ nguôi.

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Bác ngắm trăng trong giữa dòng sông không phải như các thi sĩ xưa mà để sự truy lung của quân địch, Bác cùng các chiến sỹ phải bàn việc quân giữa dòng.

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Đêm trăng rằm vắng lặng, êm dịu như bức tranh thuỷ mặc, ánh trăng toả sáng khắp cả không gian. Hình ảnh chiếc thuyền chở đầy ánh trăng đã mở ra trước mắt người đọc một vẻ đẹp đầy lẵng mạn. Nhưng ẩn sau trong câu thơ chính chiếc thuyền là ẩn dụ sâu sắc về thắng lợi của cách mạng. Trong câu Bác sử dụng từ “ ngân” cao vút đầy thi vị cho thấy sự lạc quan và niềm tin vào chiến thắng đang tới gần.

Kết luận bài viết Cảm nhận về bài thơ “Rằm tháng Giêng” của Hồ Chí Minh.

Bài thơ “ Rằm tháng giêng” là một trong những áng văn thơ độc đáo của Bác. Từ cảnh vật thiên nhiên đều toát lên vẻ đẹp nội tâm, ý chí mãnh liệt của người chiến sỹ cách mạng.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM

Bài thơ Rằm tháng giêng

Phân tích bài thơ Rằm tháng giêng

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng

Cảm nhận về bài thơ Rằm tháng giêng

Phan tich bai tho Ram thang gieng

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “Rằm Tháng Giêng” Của Hồ Chí Minh

Cảm nhận của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” của Hồ Chí Minh

Ánh trăng là một thi đề chưa bao giờ khuất sáng trên trang thơ của các thi nhân đông tây kim cô. Là một người yêu thiên nhiên, Hồ Chí Minh không bao giờ để trăng vắng bóng trên trang thơ của mình. Hơn thế, Bác còn có một bài thơ thật hay về ánh trăng đêm rằm tròn đầy viên mã: bài thơ “Nguyên tiêu”.

“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên Yên ba, thâm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”.

Bài thơ được dịch là:

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”.

Hai câu thơ đầu vẽ nên cảnh đẹp tuyệt vời của đêm nguyên tiêu, vầng trăng mùa xuân vừa đúng độ tròn, xinh tươi, soi sáng khắp không gian. Bầu trời cao rộng, trong trẻo, thoáng đãng. Đất trời quê hương bao la, vô tận hòa vào hơi thở mãnh liệt của mùa xuân. Bầu trời và vầng trăng tưởng như không có giới hạn, dòng sông mùa xuân, màu nước mùa xuân nốì liền với bầu trời xuân: “Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên”. Câu thơ dịch đáng tiếc đã không chuyển tải được cái ý tưởng diệu kì đó của nguyên tác. Ba từ “xuân” liên tiếp nổì nhau vút lên trong một câu thơ mang âm điệu bay bổng, gợi cảm giác trong trẻo, rộng lớn, thảnh thơi, thanh bình, thú vị làm sao! Câu thơ cứ mở ra, mở ra như đến vô cùng, sông xuân – nước xuân – trời xuân, một mùa xuân, khí xuân lồng lộng, bát ngát. Chất liệu câu thơ là chất liệu cổ thi “nguyệt” nhưng tạo nên câu thơ lại là sự sáng tạo đặc biệt tài hoa của người nghệ sĩ. Điều đó đã làm nổi bật cái thần của bức tranh “nguyên tiêu”: tươi sáng, rực rỡ, tràn đầy sức sống của vạn vật, con người.

Trong hai câu thơ cuối bài, người đọc còn ngỡ ngàng hơn nữa trước sự hòa quyện tuyệt vời giữa sự cổ điển và hiện đại trong thơ Bác. Hai chữ “yên ba” – khói sóng gợi đến câu thơ Đường nổi tiếng “Yên ba tam nguyệt há Dương Châu”. Và bốn chữ “Dạ bán quy lai” gợi đến câu thơ của Trương Kế: “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”. Hồ Chí Minh đã cố tình mượn câu chữ của cổ nhân để đưa vào đó những nội dung rất mới. Cũng là khói sóng trên sông nhưng người xưa vui với khói sóng tháng ba mờ ảo tĩnh lặng trên đất Dương Châu thì Người say với khói sống giữa dòng sông để “đàm quân sự” bàn việc nước. Người xưa bồi hồi với tiếng chuông chùa nửa đêm thì Người ngây ngất với hình ảnh “nguyệt mãn thuyền” – “trăng ngân đầy thuyền”. Hình ảnh con thuyền cách mạng đã trở thành con thuyền chở trăng, vầng trăng của sự viên mãn, vầng trăng của thành công và thắng lợi. Hình ảnh thơ tươi sáng, chứa đựng cái nhìn lạc quan của Hồ Chí Minh về cuộc cách mạng của toàn dân tộc. Hình ảnh cuối bài thơ mở ra cho ta một cánh cửa kỳ diệu khám phá con người Bác: nơi sâu thẳm mịt mù khối sóng rất đỗi thiêng liêng, bí mật mà đẹp như trong huyền thoại, nơi bàn chuyện hệ trọng sống còn của đất nước, vậy mà Người vẫn đắm say tận hưởng một vầng trăng đẹp, một vầng trăng viên mãn. Ớ đó, cái thực và cái ảo đan xen, hài hòa. Khói sóng hư ảo, vầng trăng lung linh đan xen với cái gấp gáp, hệ trọng của việc quân thần tốc. Đó chính là vẻ đẹp của con người Hồ Chí Minh: vừa mang phong cách, cốt each thi sĩ vừa mang phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ thê hiện tinh thần thời đại, khỏe khoắn, trẻ trung.

Bằng tâm hồn người nghệ sĩ luôn gắn bo với thiên nhiên, yêu đắm say thiên nhiên, bằng tấm lòng luôn đau đáu lo về việc nước kết hợp với tài năng bậc thầy của một ngòi bút tả cảnh, cảm nhận tinh tế, độc đáo và sự sáng tạo trong việc sử dụng chất liệu cổ thi, âm điệu cổ điển nhưng rất mới lạ, giàu sức sông, Hồ Chí Minh đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên đầy ấn tượng “Nguyên tiê” – “Rằm tháng Giêng” để lại dấu ấn lâu bền trong lòng người đọc xưa và nay.

chúng tôi

Thơ Rằm Tháng Giêng Hay, Chùm Thơ Đêm Trăng Nguyên Tiêu Mới Nhất

(iini.net) Sau chùm thơ tháng giêng thật hay với nhiều cảm xúc, chúng tôi xin mời các bạn cùng đến với những bài thơ viết về ngày rằm tháng giêng (Tết Nguyên Tiêu) mới nhất.

Thơ Rằm Tháng Giêng – Tết Nguyên Tiêu 01

NGUYÊN TIÊU TÔI LẠI NHỚ KIỀU

Thơ: Song Trà

Đây ánh nguyên tiêu, ánh nguyên tiêu Chở ta về với tháng năm Kiều Lặng nghe trong ấy mùi dâu bể Có cụ Tiên Điền khóc trớ trêu

Một mảnh tình riêng thân phận Kiều Mà sao hậu thế lại buồn hiu Ai người đã khóc xuân năm ấy Vọng đến bây giờ tiếng cuốc kêu

Chớ bảo Kiều xưa nước mắt dư Bên mồ cỏ úa thiếu tay người Bây giờ lệ ấy còn tuôn chảy Đã chảy ngàn đời giống Tố Như.

Thơ Rằm Tháng Giêng – Tết Nguyên Tiêu 02

NGUYÊN TIÊU NHỚ BÁC

Thơ: Xuân Ánh

Rằm xuân Trăng tựa gương soi Hỏi Trăng vắng Bác Trăng đòi ai thơ ? Trăng xưa chiếu rực ngọn cờ Nay ngời ánh bạc thỏa mơ Tiên Rồng

Một đời Bác mở vừng đông Để giang san ấm nắng hồng ban mai Bốn mùa tươi lộc thơm đài Mênh mông tình Bác thái lai đất trời

Nhìn Trăng con gọi: Bác ơi! Người xa công đức muôn đời mãi ngân.

Thơ Rằm Tháng Giêng – Tết Nguyên Tiêu 03

ĐÊM NGUYÊN TIÊU

Thơ: Nguyễn Nhật

Đêm rằm tựa cửa ngắm mây trôi Lẫn khuất vầng Trăng cạnh đỉnh đồi Những ngọn đèn lồng leo lét lửa Riêng mình gác nhỏ tạc thù bôi Còn đâu Quảng Điện tao phùng nữa Có thể Thiên Nga vĩnh biệt rồi Để tết Nguyên Tiêu ngồi lặng lẽ Ai người thấu hiểu được tình tôi !

Thơ Rằm Tháng Giêng – Tết Nguyên Tiêu 04

ĐÊM RẰM THÁNG GIÊNG

Thơ: Phan Hạnh

Tháng giêng trăng sáng đẹp tươi Cùng nhau chắp bút trao lời tri giao Thỏa lòng mơ ước khát khao Hằng Nga dạo bước đi vào cõi thơ

Tâm tình dệt mộng ươm mơ Chờ ngày kéo kén quay tơ giúp đời Tim son xao xuyến bồi hồi Ánh vàng trải thảm tuyệt vời biết bao

Lòng người dậy sóng xôn xao Mùa xuân hoa nở én chao liệng về Nhìn nàng ngồi xõa tóc thề Chờ chàng năm tháng bến quê mỏi mòn

Lòng ta xao xuyến bồn chồn Trăng soi ngả bóng hoàng hôn kiếm tìm Cho dù đáy nước mò kim Giọng ngâm tha thiết nổi chìm có nhau.

Thơ Rằm Tháng Giêng – Tết Nguyên Tiêu 05

RẰM THÁNG GIÊNG

Thơ: Long Vương

Tháng giêng lễ Phật ngày rằm Thọ trai thanh tịnh lỗi lầm xin qua Phước điền công đức lợi tha Gieo duyên Bồ tát lòng ta thanh nhàn.

Ta bà phiền trượt nhẹ nhàng Thân tâm an lạc đời càng yên vui Đời trần xuôi ngược ngược xuôi Thong dong dạo bước về nơi thanh lành.

Thơ Rằm Tháng Giêng – Tết Nguyên Tiêu 06RẰM THÁNG GIÊNG Thơ: Dũng Đoàn

Rằm tháng giêng em lên Chùa lễ Phật Vượt chặn đường dài đi thật là xa Dòng người đông đúc rộn ràng tất bật Khệ nệ mang hoa quả, bánh với trà

Tết Nguyên Tiêu đêm trăng rằm sáng tỏ Gái trai làng hối hả trở về đây Khói hương đọng trên cành cây hoa-cỏ Làng xóm yên vui, đời sống đủ đầy

Chấp hai tay trước Phật đài khấn lạy Tỏ lòng thành xin phù hộ chứng minh Ông Bà ,Mẹ Cha hai bên Nội -Ngoại Thắt chặt thương yêu đầm thắm nghĩa tình

Đêm nay em thành tâm ,lòng cầu nguyện Duyên tình đôi lứa mãi chẳng rời xa Gia đình đôi bên ,sang nhà bàn chuyện Hai đứa bên nhau hạnh phúc đậm đà.

Thơ Rằm Tháng Giêng – Tết Nguyên Tiêu 07ĐÊM NGUYÊN TIÊU Thơ: Toàn Tâm Hoà

Ta ngồi góc nhỏ liêu xiêu Để mà cảm nhận Nguyên Tiêu một mình Câu thơ lắng đọng tâm tình Trải lòng ta với muôn nghìn buồn vui

Đêm nay Trăng đã đến rồi Dường như Trăng cũng muốn ngồi cùng ta Nhấm ly rượu ấm khề khà Tự dưng cao hứng ngâm nga tự tình

Đất trời chìm giữa lặng thinh Hòa trong giai điệu trắc bình phiêu du Một cơn gió nhẹ như ru Cũng làm cảm xúc dường như thêm đầy

Ánh Trăng đã khuất vào mây Nguyên Tiêu ta cũng đủ say với mình Có thơ, có rượu, Trăng tình Theo chi những cuộc viễn trình… phù hư.

Thơ Rằm Tháng Giêng – Tết Nguyên Tiêu 07PHIÊU DIÊU TẾT NGUYÊN TIÊU Thơ: Trần Hữu Đạt

Xuân duyên dáng nuột nà lơi lả Nắng cuống cuồng nghiêng ngả đắm say Mơ màng lãng đãng mây bay Si tình gió mộng suốt ngày ngẩn ngơ

Nguyên tiêu tết thẫn thờ ao ước Trọn ngày xuân mình được sánh vai Cùng nhau dạo chốn thiên thai Ngắm hoa thưởng nguyệt miệt mài thương yêu

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Tích Bài Thơ Rằm Tháng Giêng (Nguyên Tiêu) Của Hồ Chí Minh trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!