Đề Xuất 1/2023 # Phân Tích Bài “Phú Sông Bạch Đằng” Của Trương Hán Siêu # Top 7 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Phân Tích Bài “Phú Sông Bạch Đằng” Của Trương Hán Siêu # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Tích Bài “Phú Sông Bạch Đằng” Của Trương Hán Siêu mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đề bài: Phân tích bài “Phú Sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu.

Trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam, nhiều địa danh của đất nước đã trở thành những đề tài hấp dẫn, vì ghi dấu những chiến công vĩ đại như Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa, Sông Lô… Nhưng gợi nhiều cảm hứng nhất có phải kể đến sông Bạch Đằng lịch sử – nơi đã từng diễn ra những trận đánh quyết liệt chống quân xâm lược phương Bắc. Tại đây, Ngô Quyền thắng quân Nam Hán; Lê Hoàn quét sạch quan Tống; Trần Hưng Đạo nhấn chìm đại quân Nguyên Mông. Bởi thế, chỉ nói riêng trong lịch sử văn học thời trung đại đã nhiều cây bút tên tuổi như Trần Minh Tông, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân… đều viết về nó. Nhưng thành công hơn cả là Trương Hán Siêu với bài Bài phú sông Bạch Đằng. Tác phẩm này từ lâu đã được đánh giá là bài phú nổi tiếng nhất ở đời Trần và cùng là một trong số ít bài phú xuất sắc nhất của văn học trung đại.

Đây là một bài phú có thể (hoặc còn gọi là phú lưu thuỷ), không tuân theo niêm luật chặt chẽ của Đường phú (hay còn gọi là phú đường luật), vần luật của bài phú này tương phóng khoáng, giàu nhạc điệu và dễ truyền tụng.

Bài phú sông Bạch Đằng có thể chia làm 3 đoạn: 1. Niềm vui thích du ngoạn nhất là du ngoạn trên sông Bạch Đằng; 2. Thuật lại chiến công trên sông Bạch Đằng của cha ông ta xưa; 3. Bài học rút ra trên con sông này.

Trong một bài phú, thông thường tác giả hay hư cấu thêm một số nhân vật để đối đáp, tranh luận với mình. Điều đó góp phần cho bài phú sinh động háp dẫn hơn, nhờ sự đan xen của những câu đối thoại, những câu bàn bạc: Khi thì bổ sung, khi thì bác bỏ ý kiến ban đầu. Ở Bài phú sông Bạch Đằng có những nhân vật như: khách, ta, bô lão. Thực chất, đấy chính là sự phân thân của chính tác giả, trong một thủ pháp nghệ thuật của bài phú.

Trong văn chương trung đại, thiên nhiên được miêu tả khá nhiều. Các nhà văn, nhà thơ tìm đến thiên nhiên trong những tâm trạng khác nhau. Cao Bá Quát đến với thiên nhiên để bộc lộ tâm trạng chua xót bất đắc chí. Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đối với thiên nhiên để bày tỏ đạo lí thanh cao trước thói đời bon chen danh lợi… Ở Bài phú sông Bạch Đằng, Trương Hán Siêu đã tìm đến thiên nhiên trong một tâm trạng khác. Mở đầu bài phú, nhà thơ đưa người đọc vào một thế giới hùng vĩ, bao la của những Cửu Giang, Ngũ Hổ, Tam Ngô, Bách Việt là những nơi khách đã từng đi qua khách, tỏ ra là một con người có tâm hồn phống khoáng, tư do:

Giương buồm trong gió chơi vơi,

Lướt bể chơi trăng mải miết.

Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,

Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt:

Khách cũng là một con người đi nhiều, biết rộng:

Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ củng nhiều,

Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.

Đi nhiều, biết nhiều, nhưng trong thú tiêu hao, khách chỉ học có Tử Trường, tức là Tư Mã Thiên, nhà sử học nổi tiếng Trung Quốc, từng chu du khắp đất trung hoa rộng lớn trước khi viết bộ sử kí bất hủ.

Phải chăng khách nói đến Tử Trường để bày tỏ tâm hồn đồng điệu của mình với người xưa. Đi xa, đâu phải chỉ để tiêu dao, ngắm hoa vọng nguyệt, mà quan trọng hơn là tìm đến nơi cha ông ta đã lập chiến công to lớn đã làm vẻ vang cho lịch sử để chiêm ngưỡng, ngợi ca và suy ngẫm.

Điều này, chứng tỏ vị thế vị khách thật cao đẹp, chí khí thật hào hùng. Người đọc có thể nhận thấy vẻ đẹp ấy trong chính lời kể đầy tự hào của khách. Khách nhắc tới nhiều địa danh quen thuộc trong sách vở tàu, chúng cách xa nhau hàng ngàn dặm, làm sao có thể đi được trong một sớm, một chiều (sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương – Chiều lần thăm Vũ Huyệt – Cửu Giang, Ngũ Hồ – Tam Ngô, Bách Việt). Đấy chỉ là cách phô diễn ý tưởng có tính chất ước lệ mà thôi. Điều quan trọng là nó đã đưa đến cho người đọc ấn tượng khá rõ về những khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, góp phần thể hiện niềm ham thích tự do, phóng khoáng của nhân vật khách. Cảm hứng về cuộc viễn du mở đầu bài phú, thực ra chỉ là sự chuẩn bị một không khí thích hợp trước khi đi vào thế giới hùng vĩ của sông Bạch Đằng lịch sử.

Ấn tượng đầu tiên mà Trương Hán Siêu đưa đến cho người đọc là sự bề thế rộng lớn và sức sống bền bỉ muôn đời của Bạch Đằng giang. Con sông này thật hùng vĩ, bởi rộng bát ngát và dài muôn dặm. Như vậy nó không những là đại giang và còn là trường giang (Bát ngát sóng kình muôn dặm), với bao lớp sóng lớn trùng điệp. Điều đáng lưu ý là ngoài vẻ thiêng liêng hùng vĩ, dong Bạch Đằng còn có nét thật dịu dàng, duyên dáng và thơ mộng: những con thuyền nối đuôi nhau trôi dập dềnh trên sông ; đã cuối thu rồi nên nước xanh, trời xanh; hai bên bờ lau lách xào xạc, đìu hiu…

Trước cảnh sông nước hùng vĩ và thơ mộng ấy, tác giả cảm thấy vui buồn lẫn lộn. Đây là chiến trường ác liệt xưa kia, ta thắng lớn, nhưng kể sao cho hết những hi sinh mất mát với bao giáo gãy, xương khô. Trời nước, lau lách như gợi lại chuyện cũ, khiến người hôm nay không tránh khỏi động lòng tiếc nuối, xót thương cho bao anh hùng đã khuất. Ở đoạn thơ này, ta thấy một nỗi buồn cao đẹp qua những câu thơ có âm ‘hưởng trầm lắng, với điệu cảm khái:

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu

Sau này, Nguyễn Trãi khi thăm cảnh Bạch Đằng cũng có nỗi buồn tương tự.

Trong bài Cửa biển Bạch Đằng, nhà thơ cũng thấy dáng núi dường như vẫn còn in dấu vết thất bại của kẻ thù, cũng bâng khuâng nhìn dồng nước trôi mà hoài cổ:

Ngạc chặt kình băm non lởm chởm;

Giáo chìm gươm gãy bãi tầng tầng

… Dòng sông tìm bóng dạ bâng khuâng.

Tuy vậy, cảm hứng chính của Bài phú sông Bạch Đằng là sự ngợi ca chiến công oanh liệt của dân tộc ta trên dòng sông lịch sử này. Từ những câu thơ trữ tình ở đoạn trên, đến đoạn hai, tác giả chuyển sang những câu thơ tự sự mượn lời các bô lão – những người đã từng chứng kiến và tham gia trận Bạch Đằng kể lại. Nếu như phần đầu là lời của khách thì đoạn hai là lời của các bô lão. Sự xuất hiện của họ làm cho việc miêu tả chiến trận thêm sinh động, đồng thời việc chuyển ý được tự nhiên. (Mặc dù, ai cũng cũng biết dẫu lời của khách hay lời của các bô lão cũng là lời của tác giả). Các bô lão tiếp chuyện khách với từ đại diện cho nhân dân địa phương. Họ tôn kính khách và tự hào kể lại trận chiến năm xưa. Mở đầu, các bô lão giới thiệu cho khách biết: Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã và củng là bãi đất xưa Ngô chúa phá Hoang Thao. Bằng hai câu dài (mỗi câu 12 âm tiết), tác giả tạo được không khí trang nghiêm, đĩnh đạc làm nền cho việc miêu tả chiến trận ở phần tiếp theo.

Trận thuỷ chiến được khắc họa thật cô đọng, với những câu thật cô đọng, với những câu ngắn từ 4 đến 6 âm tiết: .

… Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ

Bằng cách ngắt nhịp nhàng, bằng lối đối ngẫu chặt chẽ, bằng một loạt hình động không khí trận mạc quyết liệt trên sông. Người đọc có thể hình dung khá rõ sự đông đảo của lực lượng tham chiến, lẫn khí thế quyết chiến của hai bên và sự khốc liệt, dữ dội của một cuộc chiến mà cả hai đều ngang tài, ngang sức (Trận đánh thư hùng chưa phân – chiến luỹ Bắc Nam chống đối), có thể làm đổi thay cả vũ trụ (khiến cho mặt trăng, mặt trời phải mờ đi, trời đất phải đổi).

Sau khi miêu tả thế trận giao tranh ác liệt, các bô lão nhận xét về đặc điểm của mỗi bên tham chiến. Kẻ địch thì có lực lượng hùng mạnh, lại thêm mưu kế gian xảo (Tất Liệt thế cường – Lưu Cung chước đối). Và nhất là chúng có thừa sự kiêu ngạo của kẻ đã từng tung vó ngựa thôn tính nhiều quốc gia từ Á sang Âu: Những tưởng tung roi một lần là có thể: Quét sạch Nam Bang bốn cõi. Còn ta, trước hết, đây là cuộc chiến đấu chính nghĩa, vì chính nghĩa nên thuận với lẽ trời (trời củng chiều người). Trong quan niệm của cha ông ta xưa, trời bao giờ cũng công minh, chính trực, đứng về phía chính nghĩa, trừng phạt kẻ bạo tàn. Thêm vào đó, ta lại có điều kiện tự nhiên hiểm yếu (Trời đất cho nơi hiểm trở), lại có người tổ chức lãnh đạo kiệt xuất với đường lối chiến thuật, chiến lược đứng đắn. Do đó, địch thua nhục nhã và ta đã thắng vang dội. Nước sông tuy chảy hoài từ đó tới nay, trải qua bao tháng năm nhưng cái nhục ấy vẫn không rửa nổi. Ở đây, Trương Hán Siêu dẫn tích bên Tàu (Tào Tháo thua trận ở Xích Bích ; Bồ Kiên với hàng trăm vạn quân bị thất bại ở Hợp Phì) để nói về các trận đánh trên Bạch Đằng giang từ thời Ngô Quyền đến Trần Hưng Đạo. Các bô lão không nói nhiều đến phía quân ta chỉ nhấn mạnh lòng biết ơn sâu nặng: Tái tạo công lao – Nghìn đời ca ngợi cũng đủ cho người đọc cảm nhận một cách sâu sắc tầm vóc to lớn của chiến thắng Bạch Đằng trong sự nghiệp bảo vệ giang sơn gấm vóc của quân dân đời Trần. Điều đáng lưu ý, khi nói về quân địch, các bô lão nhấn mạnh vào yếu tố tinh thần. Rõ ràng, lời các bô lão có ý nghĩa sâu sắc, chuẩn bị dẫn đến những lời bình ở phần tiếp theo:

Những người bất nghĩa tiêu vong,

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.

Lời bình này trở thành chân lí của muôn đời, sông mái cùng Bạch Đằng giang hùng vĩ.

Ở đây cũng như phần đầu, thời gian và không gian được tác giả thể hiện đan xen với nhau. Xưa và nay, không gian và thời gian dường như cũng được tái hiện làm cho câu chuyện tránh được sự tẻ nhạt, đơn điệu ; và luôn sinh động hấp dẫn người đọc. Ngày nay, người ta thường gọi cách thể hiện này là nghệ thuật đồng hiện.

Tiếp theo lời các bô lão, khách cũng vui vẻ nối tiếp lời ca kết thúc bài phú. Lời của khách chính là phần tổng kết cố chức năng bổ sung, đính chính những nhận định mà các bô lão đã trình bày ở trên (về nguyên nhân của chiến thắng). Với tâm trạng hân hoan, khách vừa đề cao công lao to lớn của các vị anh hùng đời Trần, vừa bày tỏ niềm tin vào sức sống mãnh liệt và tương lai tươi sáng của đất nước, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tới các yếu tố đức cao của dân tộc. Sự nhìn nhận của khách về chiến thắng cố chiều sâu triết lí. Sức mạnh của non sông đất nước không phải ở địa thế hiểm trở mà trước hết ở con người (Giặc tan muôn thuở thanh bình – Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao).

Đây là một bài phú có bố cục chặt chẽ, nhịp điệu thay đổi linh hoạt phóng khoáng, lời văn cô đọng, dồi dào cảm xúc, khi thì xót thương nhớ tiếc, khi thì vui sướng tự hào. Tác giả lại rất giỏi phân thân thành những nhân vật khác nhau để vừa kể vừa phụ họa thêm… làm cho bài phú giàu chất thơ khiến người đọc xúc động tự hào về non sông đất nước hùng vĩ, về chiến công lừng lẫy và đường lối giữ nước tài tình của quân dân nhà trần mà cũng là của dân tộc ta bảy thế kỉ trước.

Từ khóa tìm kiếm

phú sông bạch đằng

phân tich bài phú sông bach đằng

phân tích phú sông bạch đằng

Phan tich bai phu song bach dang

phu song bach dang

tap lam van ve Phu Song Bach Dang

Phân Tích Bài Sóng Của Xuân Quynh (Dàn Ý Phân Tích Sóng)

Hướng Dẫn Cách Lập Dàn Ý Phân Tích Bài Sóng và Bài Văn Mẫu Phân Tích Sóng của Xuân Quỳnh mới nhất 2019 tại trung tâm gia sư Đăng Minh.

– Giới thiệu khái quát về tác giả Xuân Quỳnh và đặc điểm thơ của bà: một trong số những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước. Những vẫn thơ của bà luôn in đậm nét nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên yêu đời vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường

– Giới thiệu khái quát về bài thơ Sóng: bài thơ được nữ thi sĩ sáng tác năm 1967 trong chuyến công tác thực tế ở vùng biển Diên Điền (Thái Bình) của bà, là một trong số những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Xuân Quỳnh khi viết về tình yêu.

a. Sóng và em – hai hình tượng xuyên suốt bài thơ

– Hai hình ảnh này lúc tách bạch, lúc lại hòa quyện vào nhau và có thể nói chúng chính là sự phân thân của chính chủ thể trữ tình.

– Trong nhịp điệu của sóng, từng dòng cảm xúc, những cung bậc tình cảm khác nhau của “em”, của chủ thể trữ tình cứ thế tuôn trào ra trên từng con chữ.

b. Hai khổ thơ đầu: Nhận thức về tình yêu của nhân vật trữ tình thông qua hình tượng sóng

– Mượn hình tượng sóng để diễn tả những cung bậc cảm xúc phong phú, phức tạp của người phụ nữ trong tình yêu: đặt liên từ giữa hai vế câu đối lập trong việc diễn tả những trạng thái khác nhau của sóng “dữ dội” – “dịu êm”, “ồn ào” – “lặng lẽ” tác giả đã diễn tả một cách chính xác những trạng thái khác nhau của con sóng biển nhưng đằng sau ấy chính là những sắc thái cảm xúc của con người con gái khi yêu

– Quan niệm mới mẻ, táo bạo của Xuân Quỳnh về tình yêu: giống như những con sóng đang vùng vẫy tìm ra biển lớn mênh mông để thỏa sức vỗ về, người phụ nữ khi yêu cũng luôn khát khao và không ngừng kiếm tìm hạnh phúc đích thực của đời mình

– Khẳng định tình yêu là tình cảm thiêng liêng, là khát vọng muôn đời của con người.

c. Năm khổ thơ tiếp theo: những cung bậc tình cảm, trạng thái phong phú trong tình yêu

– Luôn băn khoăn đi tìm cội nguồn của tình yêu;

+ Sử dụng hàng loạt câu hỏi tu từ thể hiện rõ sự băn khoăn của nhân vật em về cội nguồn của tình yêu

+ Không thể tìm thấy câu trả lời và thốt lên lời tự thú chân thành “Em cũng không biết nữa”.

– Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ

– Lòng thủy chung son sắt trong tình yêu

d. Hai khổ thơ cuối: Nỗi lo âu trăn trở về tình yêu và khát vọng sống hết mình trong tình yêu

– Lo âu, trăn trở về sự vô hạn của không gian, sự chảy trôi của thời gian và sự hữu hạn của đời người.

– Khao khát được sống hết mình, được dâng hiến trọn vẹn cho tình yêu và để hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu rộng lớn của cuộc đời.

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ: trên cơ sở khám phá sự tương đồng giữa hình tượng sóng và em, cùng cách sử dụng thể thơ năm chữ ngắn gọn, linh hoạt đã diễn tả một cách chân thực những cung bậc tình cảm, cảm xúc phong phú của người phụ nữ khi yêu.

– Bài thơ cũng thể hiện rõ phong cách thơ Xuân Quỳnh và cho chúng ta thấy những quan niệm mới mẻ về tình yêu của bà.

II. Bài Văn Mẫu Phân Tích Sóng – Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh là một trong số những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước. Những vẫn thơ của bà luôn in đậm nét nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên yêu đời vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường. Bài thơ được nữ thi sĩ sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diên Điền (Thái Bình), Sóng là một trong số những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Xuân Quỳnh khi viết về tình yêu.

Xuyên suốt bài thơ là hai hình tượng sóng và em. Hai hình ảnh này lúc tách bạch, lúc lại hòa quyện vào nhau và có thể nói chúng chính là sự phân thân của chính chủ thể trữ tình. Và để rồi, trong nhịp điệu của sóng, từng dòng cảm xúc, những cung bậc tình cảm khác nhau của “em”, của chủ thể trữ tình cứ thế tuôn trào ra trên từng con chữ.

Hai khổ thơ mở đầu bài thơ chính là sự tự nhận thức về tình yêu của chủ thể trữ tình thông qua hình tượng sóng

Hai câu thơ với cách tổ chức từ độc đáo, đặt liên từ giữa hai vế câu đối lập trong việc diễn tả những trạng thái khác nhau của sóng, đó là “dữ dội” – “dịu êm”, đó là “ồn ào” – “lặng lẽ” tác giả đã diễn tả một cách chính xác những trạng thái khác nhau của con sóng biển nhưng đằng sau ấy chính là những sắc thái cảm xúc của con người con gái khi yêu – khi mãnh liệt, nồng nàn khi lại nhẹ nhàng sâu lắng. Nhưng dường như sức nặng của hai câu thơ đang dồn về cuối câu với sắc thái nhẹ nhàng, “dịu êm”, “lặng lẽ” của những con sóng hay phải chăng tác giả đang muốn khẳng định vẻ đẹp nữ tính của người phụ nữ khi yêu. Và dù trong tình yêu, họ thất thường là thế, nhưng cũng giống như những con sóng đang vùng vẫy tìm ra biển lớn mênh mông để thỏa sức vỗ về, người phụ nữ khi yêu cũng luôn khát khao và không ngừng kiếm tìm hạnh phúc đích thực của đời mình. Đó cũng chính là quan niệm tình yêu mới mẻ, táo bạo mà nữ thi sĩ muốn gửi tới bạn đọc

Và không chỉ khao khát kiếm tìm một tình yêu đích thực mà nỗi khát vọng tình yêu vẫn luôn thường trực trong trái tim mỗi người;

Những con sóng biển ngoài kia, dù năm tháng có trôi đi, dù là hiện tại, quá khứ hay tương lai thì vẫn luôn tồn tại một quy luật tự nhiên, vẫn ồn ào, vẫn dữ dội, vẫn dịu êm và vẫn lặng lẽ ấy. Mượn quy luật ngàn đời ấy của sóng biển, Xuân Quỳnh đã diễn tả một quy luật trong tình yêu đó chính là tình yêu là khát khao cháy bỏng luôn tồn tại trong mỗi người. Để rồi, khi đọc đến đây ta không thể không nhớ tới hai câu thơ của nhà thơ tình Xuân Diệu:

Như vậy, trong hai khổ đầu bài thơ, từ hình tượng con sóng Xuân Quỳnh không chỉ khám phá và biểu hiện những quy luật tình cảm của người phụ nữ trong tình yêu mà bà còn khẳng định khát vọng tình yêu là khát vọng mang tính muôn đời của nhân loại.

Nếu như trong hai khổ thơ đầu, nhà thơ mượn hình tượng sóng để nhận thức về tình yêu thì trong năm khổ thơ tiếp theo, bà đi sâu khám phá những trạng thái, cung bậc tình cảm trong tình yêu. Trước hết đó là nỗi niềm băn khoăn đi tìm và lí giải cội nguồn của tình yêu:

Hai khổ thơ với việc sử dụng hàng loạt câu hỏi tu từ như chính lời tự vấn của nhân vật em về cội nguồn của sóng và cúng chính về cội nguồn của tình yêu. Nhưng càng cố đi sâu kiếm tìm, lí giải nguồn gốc ấy, chủ thể trữ tình càng rơi vào trạng thái trống rỗng, không thể tìm thấy câu trả lời và để rồi phải tự mình thốt lên một lời tự thú đầy chân thành nhưng cũng đầy bối rối “Em cũng không biết nữa”. Nhưng dù không thể biết cội nguồn của tình yêu là nơi đâu song có một điều mà thi sĩ, mà em hiểu rõ đó chính là tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ, mỗi nỗi nhớ da diết, cồn cào và cháy bỏng:

Mượn quy luật tự nhiên của sóng, vượt thời gian để tồn tại trong lòng biển và vỗ về vào bờ, tác giả đã diễn tả chân thực và sâu sắc nỗi nhớ của em. Đó là một nỗi nhớ cồn cào, da diết, khắc khoải, triền miên trong em. Dường như ở đây, hình tượng sóng và em đã song hành cùng nhau, cộng hưởng vào nhau để diễn tả chính xác nỗi nhớ của em, của chủ thế trữ tình – nỗi nhớ vượt thời gian. Thêm vào đó, nỗi nhớ ấy không chỉ vượt thời gian mà còn bao trùm cả không gian vũ trụ bao la rộng lớn và xét đến cùng nỗi nhớ ấy, tình yêu ấy gắn chặt với tấm lòng thủy chung, son sắt của em.

Dường như, trong nỗi lòng của em, dù xa xôi cách trở nhưng trong lòng em, anh vẫn là một phương – một điểm đến mà em không bao giờ thôi nhớ, thôi nghĩ về. Nỗi nhớ ấy như vượt cả thời gian và tràn ngập cả không gian. Nhưng đặc biệt hơn, tác giả còn mượn quy luật của sóng, luôn vỗ vào bờ để khẳng định lời thề thủy chung son sắt của em

Như vậy, năm khổ thơ trên giúp chúng ta nhận thức sâu sắc về những cung bậc cảm xúc, những trạng thái tình cảm khác nhau trong tình yêu của người phụ nữ. Đồng thời, qua đó cũng giúp chúng ta thấy được cách thể hiện nỗi nhớ mới mẻ, độc đáo của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh.

Nếu ở những khổ thơ trên, tác giả đi sâu khám phá ra những quy luật và những trạng thái cảm xúc phong phú của người phụ nữ trong tình yêu thì đến hai khổ thơ cuối cùng của bài thơ tác giả thể hiện nỗi lo âu trăn trở về tình yêu và khát vọng sống hết mình trong tình yêu của chủ thể trữ tình. Cũng giống như Xuân Diệu, nữ thi sĩ Xuân Quỳnh cũng ý thức được sâu sắc về sự mênh mông của đời người, sự chảy trôi của thời gian và sự hữu hạn của đời người nên bà không thể không lo âu, trăn trở, nghĩ suy.

Và có lẽ, càng lo âu, càng trăn trở về sự ngắn ngủi, hữu hạn của đời người, bà càng khao khát được sống hết mình, được cháy hết mình trong tình yêu:

“Làm sao được tan ra” là một câu hỏi tu từ, là lời thơ thắm thiết chân thành của nhân vật trữ tình trước khao khát được sống hết mình, được dâng hiến trọn vẹn cho tình yêu và để hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu rộng lớn của cuộc đời.

Tóm lại, bài thơ trên cơ sở khám phá sự tương đồng giữa hình tượng sóng và em, cùng cách sử dụng thể thơ năm chữ ngắn gọn, linh hoạt đã diễn tả một cách chân thực những cung bậc tình cảm, cảm xúc phong phú của người phụ nữ khi yêu. Đồng thời, bài thơ cũng thể hiện rõ phong cách thơ Xuân Quỳnh và cho chúng ta thấy những quan niệm mới mẻ về tình yêu của bà.

dàn ý phân tích bài sóng

dàn ý phân tích bài thơ sóng

dàn ý phân tích sóng

dàn ý bài thơ sóng

phân tích bài sóng dàn ý

Bình Luận Facebook

.

Phân Tích Bài Thơ “Con Cò”

I. Tác giả – Tác phẩm

Tác giả

– Chế Lan Viên (1920-1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, nhưng lớn lên ở Bình Định.

– Trước Cách mạng tháng Tám, 1945, Chế Lan Viên đã nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với tập “Điêu tàn” (1937). Với hơn 50 năm sáng tác, có nhiều tìm tòi ở những tập thơ gây được tiếng vang trong công chúa, Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ hiện đại Việt Nam thế kỷ XX.

– Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

2. Tác phẩm:

a. Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Con cò” sáng tác năm 1962, in trong tập “Hoa ngày thường – Chim báo bão” (1967) của Chế Lan Viên.

b. Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật:

* Giá trị nội dung:

Khai thác hình tượng con cò trong những câu hát ru, bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của lời ru trong cuộc đời mỗi con người.

* Giá trị nghệ thuật:

Bài thơ thành công trong việc vận dụng sáng tạo ca dao, có những câu thơ đúc kết được những suy nghĩ sâu xa.

c. Tìm hiểu mạch cảm xúc trữ tình và bố cục của bài thơ

* Mạch cảm xúc trữ tình: được phát triển theo ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò, bắt đầu từ hình ảnh con cò trong ca dao theo lời ru của mẹ đi vào tiềm thức trẻ thơ, rồi đến hình ảnh con cò mang ý nghĩa biểu tượng cho sự nâng niu chăm chút của mẹ dành cho con suốt cuộc đời, và cuối cùng là những cảm nhận sâu sắc về tình mẫu tử và ý nghĩa lời ru qua hình ảnh con cò.

* Bố cục: 3 phần.

Khổ I – hình ảnh con cò qua lời ru đến với mỗi con người thuở thơ ấu, con cò là biểu tượng cho cuộc đời lam lũ của mẹ.

Khổ II – hình ảnh con cò đi vào tiềm thức tuổi thơ trở nên gần gũi và sẽ theo con trong suốt chặng đường đời.

Khổ III – từ hình ảnh con cò suy nghĩ về lời ru và lòng mẹ, con cò là biểu tượng cho tấm lòng yêu con của mẹ.

II. PHÂN TÍCH BÀI THƠ

Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò:

Hình tượng con cò bao quát toàn bộ bài thơ được khai thác từ trong ca dao truyền thống và được tác giả phát triển, xây dựng thành ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng người mẹ, và ý nghĩa của lời hát ru trong cuộc đời mỗi con người.

Hình ảnh con cò qua những lời ru hát đầu đến với tuổi ấu thơ:

– Khổ I – là hình ảnh của những người phụ nữ nông dân vất vả, cực nhọc nhưng giàu đức hy sinh và những câu ca dao dùng làm lời hát ru.

Con cò bay lả bay la

Bay từ  Cổng phủ bay ra cánh đồng

Con cò bay lả bay la

Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng…

Đây là những cánh cò bay lả bay la dọc theo chiều dài của những cánh đồng lúa xanh tít tắp, bay về những mái nhà tranh bình yên. Hình ảnh con cò gợi cuộc sống xưa cũ từ làng quê đến phố xá, thong thả, bình yên, ít biến động. Cuộc sống ấy là quê hương thân yêu với cánh cò trải rộng. Hình ảnh con cò là nét rất riêng, rất duyên dáng, dịu dàng, đặc trưng cho làng quê Việt Nam. Con cò ấy phải chăng là hồn của quê hương, mà mẹ gửi vào giấc ngủ của đứa con.

– Hình ảnh con cò trong lời ru cảu mẹ còn là “Con cò ăn đêm, con cò xa tổ, cò gặp cành mềm, cò sợ xáo măng”. Đó là hình ảnh cánh cò vất vả, lam lũ trong ca dao:

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Hay

Cái cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.

Đó là cánh cò tần toả, là hình ảnh của người mẹ, người phụ nữ nhọc nhằn, vất vả, lặn lội kiếm sống nuôi chồng, nuôi con. Đây không còn là con cò trắng bình yên vô tư lự mà đã trở thành biểu tượng của những người nông dân vất vả, cực chẳng đã, thậm chí còn vất vả hơn khi cò gặp cành mềm.

– Qua những lời ru của mẹ, hình ảnh con cò đến với tâm hồn tuổi thơ ấu một cách vô tư. Đây chính là sự khởi đầu của con đường đi vào thế giới tâm hồn mỗi con người, của những lời ru, lời ca dao dân ca, qua đó là cả điệu hồn dân tộc. Ở tuổi ấu thơ, đứa trẻ chưa thể hiểu và chưa cần hiểu nội dung ý nghĩa của những lời ru này “Con chưa biết con cò con vạc. Con chưa biết những cành mềm mẹ hát”. Chúng chỉ cần được vỗ về trong âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời ru để đón nhận bằng trực giác vô thức tình yêu vô bờ bến và sự che chở của người mẹ: “Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân”.

– Nhịp 2 và vẫn đóng mở ngân vang, xen kẽ nhau trong từng dòng thơ kết hợp với biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh đã tạp nên vẻ đẹp cho câu thơ, làm cho ý thơ thêm sâu sắc. Đoạn thơ khép lại bằng hình ảnh thanh bình của cuộc sống, bằng giấc ngủ say nồng của trẻ thơ.

Hình ảnh con cò đi vào trong tâm hồn trẻ thơ cùng với âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời ru trở nên gần gũi và sẽ theo con trong suốt chặng đường đời:

– Từ lời ru của mẹ, con cò bước ra làm quen với đứa con bé bỏng. Thế rồi cò trở thành người bạn thân thiết, gần gũi.

+ Khi còn ở trong nôi “Con ngủ yên thì cò cùng ngủ. Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi”.

+ Khi con đi học “Mai khôn lớn con theo cò đi học. Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân”.

+ Và khi con đã trưởng thành “Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ. Trước hiên nhà, và trong hơi mát câu văn”.

– Như vậy, con cò đã trở thành người bạn đồng hành thân thiết hơn bất cứ người bạn nào. Cánh cò không mệt mỏi bay qua mọi không gian và thời gian, luôn ở bên con từ trong nôi, từ mái trường, từ hiên nhà, từ câu văn. Cánh cò ấy dường như tung tay theo từng ước mơ, khao khát của con. Như vậy, hình ảnh con cò là biểu tượng về lòng mẹ, là sự dìu dắt, nâng đỡ dịu dàng, bền bỉ của mẹ và mẹ mong cho con có tâm hồn yêu quê hương.

Hình ảnh con còn là biểu tượng cho tấm lòng yêu con của người mẹ, theo con suốt cuộc đời:

– Từ sự thấu hiểu tấm lòng người mẹ, nhà thơ đã khái quát một quy luật tình cảm có ý nghĩa sâu sắc và bền vững: “Con dù đã lớn vẫn là con của mẹ. Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con”. Câu thơ giàu chất trí tuệ, triết lý. Triết lý của trái tim. Điệp từ “dù”, “vẫn” đã khẳng định tình mẫu tử là bền chặt, sắt son. Có gì cao hơn núi, có gì sâu hơn biển, và có gì bao la bằng lòng mẹ yêu con.

– Phần cuối bài thơ trở lại với âm hưởng lời ru và đúc kết hình tượng con cò trong những lời ru ấy “Một con cò thôi. Con cò mẹ hát. Cũng là cuộc đời. Vỗ cánh qua nôi”. Đúng vậy, chỉ một con cò trong lời ru của mẹ thôi mà ẩn chứa bao bài học, bao ý nghĩa về cuộc đời. Bài học ấy, ý nghĩa ấy đến với con thật nhẹ nhàng sâu lắng, qua âm điệu thiết tha của những lời ru. Không có lời ru, cuộc đời con thiệt thòi, nghèo nàn biết mấy.

2. Nghệ thuật của bài thơ

– Thể thơ tự do nhiều câu mang dáng dấp của thể thơ 8 chữ nên cảm xúc được thể hiện một cách linh hoạt.

– Cấu trúc các đoạn thường bắt đầu bằng những câu thơ ngắn, nhiều chỗ có cấu trúc giống nhau, có chỗ cấu trúc lặp lại hoàn toàn gợi âm điệu của lời ru.

– Giọng điệu suy ngẫm có cả tính triết lý làm cho bài thơ không chỉ cuốn người đọc vào điệu ru êm ái, mà hướng nhiều hơn vào sự suy ngẫm, phát hiện.

– Sáng tạo hình ảnh thiên về ý nghĩa biểu tượng nhưng cũng rất gần gũi, quen thuộc mà vẫn có khả năng hàm chứa ý nghĩa mới. Hình ảnh con cò được phát triển, mở rộng qua mỗi khổ nhưng vẫn giữ được tính liên kết, thống nhất.

– Bài thơ thành công trong việc vận dụng sáng tạo ca dao, có những câu thơ đúc kết được những suy nghĩ sâu xa.

Phân Tích Bài Trao Duyên

Nhắc đến đại thi hào Nguyễn Du ta không thể không nhắc đến tuyệt tác của ông: Truyện Kiều, một tác phẩm mang giá trị nhân đạo, giá trị nhân văn sâu sắc. Song tác phẩm này còn thành công ở giá trị nghệ thuật, nghệ thuật trong thơ đã lên đến đỉnh cao. Đặc biệt là nghệ thuật dẫn diễn tả tâm trạng nhân vật. Một trong những đoạn trích đặc sắc nhất về cuộc độc thoại nội tâm là Trao duyên. Đây là đoạn thơ diễn tả nỗi đau khổ của Thúy Kiều khi trao duyên cho em gái là Thúy Vân, để nhờ Thuý Vân trả nghĩa cho Kim Trọng, người yêu của mình.

loading…

Cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Không phải nhờ mà là cậy, chị nhờ em giúp chị với tất cả lòng tin của chị. Nhờ em nhưng cũng là gửi gắm vào em. Bao nhiêu tin tưởng bao nhiêu thiêng liêng đặt cả vào từ cậy ấy! Cũng không phải chỉ nói mà là thưa, kèm với lạy. Phải thiêng liêng đến mức nào mới có sự “thay bậc đổi ngôi” giữa hai chị em như thế. Nguyễn Du thật tài tình, như đọc thấu tất cả nỗi lòng nhân vật. Nỗi đau khổ vì không giữ trọn lời đính ước với chàng Kim đã buộc Thúy Kiều phải nói thật, nói hết với em, phải giãi bày tất cả. Bởi vì không có cách nào khác là phải nhờ em. Gánh tương tư đâu có nhẹ nhàng gì, thế mà vì mình giờ đây bỗng giữa đường đứt gánh, ai mà không đau khổ. Nhưng, gánh nặng vật chất thì san sẻ được, nhờ người khác giúp đỡ được, còn gánh tương tư mà nhờ người khác giúp đỡ cũng là điều hiếm thấy xưa nay. Vì vậy, Kiều mới phải cậy em, mới phải lạy, phải thưa, vì nàng hiểu nỗi khó khăn, sự tế nhị của gánh nặng này. Rõ ràng, Thúy Vân cũng phải hi sinh tình yêu của mình để giúp chị. Trong hoàn cảnh bi thương của mình, Thúy Kiều không chỉ trao duyên mà còn trao cả nỗi đau của mình cho em gái. Tuy nhiên, Thúy Vân vốn là cô gái vô tư, thơ ngây trong gia đình họ Vương lúc vạ gió tai bay, Thúy Kiều phải giành cho mình phần hi sinh lớn hơn; không chỉ hi sinh tình yêu mà hi sinh cả cuộc đời để cứu cha, cứu em.

Mối tình giữa Kim Trọng và Thúy Kiều là một mối tình trong sáng và đẹp đẽ nhất. Vậy nên Thúy Kiều khó lòng chia tay Kim Trọng. Nàng đã rất đau khổ, rất xót xa khi phải trao duyên cho Thúy Vân. Đây là nỗi đau đớn dằn vặt, đau đớn cho cuộc tình tan vỡ đồng thời cũng là nỗi xót xa, xót xa cho thân phận của chính mình. Nếu ta coi truyện Kiều là một bi kịch đằng đẵng về cuộc đời Kiều thì đoạn này thể hiện bi kịch đầu tiên ấy.

Trước khi nàng phải từ bỏ tất cả theo Mã Giám Sinh để có thể chuộc cha, thì nàng đã phải dùng mọi lời lẽ để nhờ Thúy Vân giúp mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Nàng dùng lời an ủi, động viên Vân bằng những lời rất thiết tha.

Nàng đã nhắc đến tình màu mủ, ruột thịt, mối quan hệ huyết thống mong có thể đền đáp, trả nghĩa cho tình đôi lứa, tình “non nước”. Nàng an ủi Vân cũng chính là an ủi mình đã chọn con đường đúng, mình đã bỏ qua chữ tình để giữ trọn chữ “hiếu”. Tuy đây là lời an ủi, động viên song là nỗi day dứt, xót xa trong Kiều. Kiếu tuy trao duyên chứ không thể trao tình được.

Nàng đã rối loạn rồi, nàng đã nghĩ đến cái chết:

Rồi nàng lại gợi những kỉ niệm cũ, những kỉ vật đẹp đẽ của mối tình dang dở:

“Chiếc vành” và “bức tờ mây” vốn là những vật đẹp đẽ, quen thuộc gắn bó giữa hai người nay lại là “của chung” của cả ba người Kim Trọng, Thúy Vân và Thúy Kiều. Kiều đã vô cùng xót xa khi dùng từ “của chung”. Lòng Kiều như xát muối, Kiều sao chịu được nỗi đau này, tình cảm sao có thể chia sẻ được đây? Kiều đã khéo léo dành chữ “duyên” giữ lại cho Vân, còn chữ tình thì vẫn giữ lại cho mình. Càng chứng minh rằng tình cảm của Kiều thật thiết tha, nồng cháy. Song càng nồng cháy bao nhiêu thì khi phải chia sẻ tình cảm Kiều lại càng đau đớn bấy nhiêu. Trong Kiều như càng ngày càng bì giằng xé, Kiều rối bời, đau xót cho thực tại phũ phàng.

Nhưng thật trớ trêu, Kiều càng giải bày tâm sự thì lời nói của Kiều lại càng đau xót hơn:

Nàng không còn bình tĩnh nữa mà cũng không còn vui vẻ, tươi cười như ngày nào, nàng đã nhận ra và ý thức được thân phận của mình, thân phận tài hoa mà bạc mệnh. Vì tình cảm không thể chấm dứt nên cứ dai dẳng mãi khiến Kiều lại tiếp tục nhắc đến các kỉ vật “phím đàn”, “mảnh gương nguyền” và “chút của tin”. Đây không chỉ là các kỉ vật tượng trưng cho tình yêu hai người nữa mà chúng còn gợi ra sự xót xa cay đắng trong lòng tâm hồn Kiều:

Nàng lại một lần nữa nghĩ tới cái chết:

Hồn còn mang nặng lời thề Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai Dạ đài cách mặt khuất lời Rảy xin chén nước cho người thác oan

Kiều quả là người chung thủy, tuy đã trao duyên cho Vân rồi, tuy ngay cả khi nàng chết chăng nữa, nhưng nàng vẫn luôn mang theo lời thề đã trao cho Kim Trọng. Trong nỗi đau đớn của mình, nàng đã nhận mình là người thác oan. Qua đây, ta thấy rằng Kiều ý thức sâu sắc về thân phận bạc bẽo của mình. Nàng xót xa, hay chính tác giả cũng phải xót xa trước con người tài hoa, bạc mệnh. Qua đoạn này, Nguyễn Du đã tố cáo mạnh mẽ xã hội phong kiến đương thời, xã hội đã chà đạp lên cuộc đời của con người, khiến họ đến bế tắc, đến đường cùng.

Kiều vô cùng day dứt, nối tiếc dĩ vãng đã xa, nàng cũng đau đớn trước thực tại cũng rất lo lắng, sợ hãi và bế tắc cho tương lai của chính mình: “mảnh gương nguyền ngày xưa”, “bây giờ trâm gãy bình tan”, “mai sau dù có bao giờ”. Một cuộc đời đầy những bất hạnh, và bi kịch, mọi thứ điều đen tối, đen tối cho cuộc đời nàng, cho tiền đồ của nàng:

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân

II. Nỗi tái tê, bế tắc của Thúy Kiều

Nàng quay sang nói với Kim Trọng, hay chỉ là bóng của Kim Trọng. Nguyễn Du đã dùng hình ảnh ước lệ thể hiện nỗi đau đột ngột, cái hạnh phúc của con người bỗng chốc đã bị tan vỡ, càng nhấn mạnh được cuộc đời bi kịch của nàng. Câu thơ giống như tiếng than xé lòng, một tiếng than não ruột về thân phận chính mình. Đối với người phụ nữ, đặc biệt là với Kiều, hạnh phúc quá mong manh, Kiều chưa kịp hưởng trọn hạnh phúc thì nó đã vụt mất. Nàng chưa kịp có một gia đình bên người mình yêu thì tai họa đã đến. Ta cảm nhận được nỗi tái tê, sự bế tắc trong lòng Kiều:

Kìều tê tái nhận ra thân phận bi kịch của mình qua từ đã đành ấy, “ấy thôi”,

Phận sao phận bạc như vôi Trong cùng một câu thơ mà từ “phận” đã được nhắc đến hai lần, như nhấn mạnh thêm số phận nhỏ bé của những con người tài hoa bạc mệnh, như khẳng định sự đau xót bẽ bàng của Kiều. Đặc biệt “đã đành” như nói lên tâm trạng ngậm ngùi, tủi hổ có mang cả nét buông xuôi, chấp nhận của nàng.

Câu thơ như thấm cả nước mắt chua chát của chính Kiều

Câu thơ như vỡ òa trong nước mắt cay đắng của cuộc đời Kiều. Tuy đoạn thơ đã kết thúc trong tiếng gọi của Kiều với Kim Trọng vẫn còn nồng nàn, tha thiết.

Đoạn trích này là một bi kịch đầu tiên trong cuộc đời Kiều “từ đây “một lần nữa đánh dấu mốc thời gian cay đắng của cuộc đời Kiều. Ta như xót xa thay tấm lòng của nàng.

Nhận xét

Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc

I. Bình giảng về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc

1. Nhà thơ Tố Hữu

Xuân Diệu đã từng nhận xét “Thơ của chàng thanh niên Tố Hữu khi ấy từ trái tim vọt ra cũng như thơ của chúng tôi, cũng lãng mạn như thể chúng tôi, nhưng là thứ lãng mạn khác, có nhiều máu huyết hơn; thơ chúng tôi chỉ đập cho mở cửa trời, nhưng thơ Tố Hữu thì mới có chìa khóa: Cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng cho người lao khổ”. Thật vậy! Thơ Tố Hữu là tiếng lòng ngân vang của một lí tưởng cộng sản, của cách mạng, của non sông gấm vóc. Bởi thế, các sáng tác của Tố Hữu như một “cuốn biên niên sử bằng thơ” song hành với những biến cố lịch sử của dân tộc. Việt Bắc là một trong những bài thơ như thế.

2. Bài thơ Việt Bắc

Bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh trọng đại, thiêng liêng của đất nước. Tháng 7 năm 1954 sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết, hòa bình lập lại, miền Bắc được giải phóng. Tháng 10 năm 1954, cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời Việt Bắc về Hà Nội. Trong cuộc chia tay với mảnh đất chiến khu đầy ắp ân tình và kỷ niệm, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc để cất lên tiếng ca đằm thắm về đạo lý thủy chung, nghĩa tình của dân tộc.

II. Nội dung bài thơ Việt Bắc

1. Phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 1

Câu thơ mở đầu đọc lên, ta nghe thấy tâm tình của lời ca dao yêu thương, tình tứ:

“Mình về có nhớ ta chăngTa về ta nhớ hàm răng mình cười”

Sau bao nhiêu năm chung sống ở mảnh đất Việt Bắc, sống trong tình quân dân chan hòa nồng thắm thế mà nay những chiến sĩ đành phải cất bước ra đi. Mảnh đất gắn bó như thế này bây giờ cũng phải chia tay. Cặp xưng hô “mình-ta” thể hiện sự gần gũi thân thiết của cán bộ và người dân. Cái tình cảm ấy giống như những người thân trong gia đình mình vậy.

Tuy nhiên, phân tích bài thơ Việt Bắc đoạn này một cách kỹ càng ta lại nhận ra tình nghĩa cách mạng dạt dào trong thơ Tố Hữu. Việt Bắc là quê hương, là cội nguồn kháng chiến, là nơi che chở cưu mang cho Đảng và chính phủ trong suốt những năm dài chiến đấu gian khổ. Bốn câu thơ đầu vang lên với hai câu hỏi dồn dập như nỗi niềm trăn trở khôn nguôi của người ở lại. Một câu hỏi về thời gian kháng chiến gian lao mà anh dũng, một câu hỏi về không gian xa xôi mà đầy ắp ân tình.

2. Phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 2

Mười hai dòng lục bát tạo thành sáu câu hỏi như khơi sâu vào những kỷ niệm kháng chiến. Hình ảnh mưa nguồn, suối lũ, mây mù gợi về 1 thiên nhiên dữ dội, khắc nghiệt của Việt Bắc trong những cả nước chung sức, chung lòng đấu tranh. Biết bao ân tình của nhân dân Việt Bắc đã dành cho cán bộ cách mạng, vì thế mà người ở lại đã cất lên những câu hỏi da diết cho người ra đi.

Phân tích bài thơ Việt Bắc 20 câu đầu ta mới thấy Tố Hữu đã sử dụng hai hình ảnh đối xứng, “miếng cơm chấm muối” và “”mối thù nặng vai”” để hình dung niềm căm thù quân cướp nước như có hình, có khối đè trĩu trên vai. Hình ảnh nhân hóa “rừng núi nhớ ai” và hai đại từ phiếm chỉ “ai” khiến câu thơ trở nên tình tứ, thiết tha. Mình về miền xuôi, núi rừng cũng trở nên trống vắng, bâng khuâng. Những sản vật quen thuộc của Việt Bắc như trám bùi, măng mai hòa cùng tâm trạng con người để diễn tả thấm thía nỗi cô đơn, hẫng hụt của người ở lại. Không chỉ nhắc lại quá khứ mà tác giả còn khẳng định lòng thủy chung, son sắt. Nếu Việt Bắc vẫn “một dạ khăng khăng đợi thuyền” thì các cán bộ kháng chiến về xuôi có còn nhớ những kỷ niệm của một thời kháng chiến.

Mình về còn nhớ núi nonNhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Câu thơ như nhắc nhở người đi hãy nhớ về núi rừng Việt Bắc nơi căn cứ địa kháng chiến cùng với hai sự kiện lịch sử “khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh”. Đây là phong trào lớn mạnh đã tạo nên chiến thắng của Cách mạng tháng Tám và tiền đề cho những thắng lợi kháng Pháp sau này:

Chỉ với hai câu thơ nhưng tác giả đã gửi gắm rất nhiều tình cảm. Câu thơ sáu chữ có đến 3 từ mình quyện vào nhau nghe thật tha thiết và chân thành. Từ “mình” thứ nhất và thứ hai được dùng để chỉ người cán bộ về xuôi, còn từ “mình” thứ ba ta có thể hiểu theo nhiều cách. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, “mình” là Việt Bắc, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, thì câu thơ mang hàm ý: cán bộ về xuôi, có còn nhớ đến nhân dân Việt Bắc, nhớ đến người ở lại không? Thay “ta” bằng “mình” để chỉ người Việt Bắc là Tố Hữu muốn nhấn mạnh: “ta” và “mình” đã hòa vào nhau. Dù kẻ ở, hay người đi đều cùng một tâm trạng buồn nhớ như nhau.

Ở nghĩa đẹp hơn, “mình” chính là cán bộ về xuôi – đại từ nhân xưng ngôi thứ 1 – khiến cho câu thơ được hiểu theo nghĩa: Cán bộ về xuôi, có còn nhớ chính mình – nhớ những năm tháng chiến đấu gian khổ vì lý tưởng cao đẹp, vì độc lập tự do của dân tộc hay không? Nhà thơ Tố Hữu đã hình dung trước được diễn biến tâm lý của con người sau chiến thắng, mà phân tích bài thơ Việt Bắc đoạn 2 ra ta mới thấy được triết lý sâu sắc trong câu thơ này.

Đoạn thơ khép lại bằng hình ảnh Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa. Cây đa Tân Trào gợi nhắc sự kiện lịch sử ngày 22/12/1944 khi đồng chí Võ Nguyên Giáp làm lễ xuất quân cho đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân; mái Hồng Thái gợi nhắc những cuộc họp quan trọng mang tầm chiến lược đi đến sự thắng lợi của Cách mạng.

Hai câu thơ như lời nhắc nhở nhẹ nhàng: Không biết rằng cán bộ về xuôi có còn nhớ rằng chính là cái nôi của Cách mạng, là nguồn nuôi dưỡng Cách mạng hay không? Khơi dậy một quá vãng đầy kỷ niệm, cay đắng, ngọt bùi, đồng thời muốn khẳng định với người ra đi một điều: Nét đẹp cao quý của Việt Bắc chính là ở chỗ nghèo khổ mà chân tình rộng mở, sắt son thủy chung với Cách mạng, người cũng vậy mà thiên nhiên cũng vậy.

3. Phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 3

Trước những lời chia tay thương nhớ thiết tha ấy, người chiến sĩ cách mạng cũng như trải lòng mình nói lên những tâm tư tình cảm gắn bó

“- Ta với mình, mình với taLòng ta sau trước mặn mà đinh ninhMình đi, mình lại nhớ mìnhNguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

Lời thề nguyền vang lên rắn rỏi, cương quyết mà đầy ắp nghĩa tình. Nếu nước trong nguồn không bao giờ vơi cạn thì ân nghĩa của nhân dân Việt Bắc luôn được người đi khắc cốt ghi tâm. Dù ta có trở về nơi phố phường hoa lệ nhưng một mảnh đời ta đã để lại nơi núi rừng Việt Bắc. Vì thế, Việt Bắc chính là một phần tâm hồn, một phần máu thịt của ta.

Nỗi nhớ của người ra đi với một loạt những hình ảnh về thiên nhiên Việt Bắc mơ mộng sau khi phân tích bài thơ Việt Bắc đoạn 3:

Nhớ gì như nhớ người yêuTrăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nươngNhớ từng bản khói cùng sươngSớm khuya bếp lửa người thương đi về.Nhớ từng rừng nứa bờ treNgòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy”

Thiên nhiên Việt Bắc vừa đơn sơ, vừa thơ mộng với ánh trăng trên đầu núi, nắng chiều trên nương rẫy. Có thể thấy rằng, nỗi nhớ của người ra đi cứ trải dài mênh mang trong không gian, trải dài triền miên theo thời gian và đi sâu vào tiềm thức của con người. Nỗi nhớ ấy gợi bao yêu thương, chia sẻ:

“Ta đi, ta nhớ những ngàyMình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…Thương nhau, chia củ sắn lùiBát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Sắn bùi, chăn sui là những hình ảnh quen thuộc, bình dị của cuộc sống chiến khu, đi liền về sự sẻ chia, đùm bọc. Dù sau này người đi có thưởng thức những cao lương mĩ vị chốn thành thị nhưng chắc hẳn chẳng thể nào quên củ sắn chia đôi, bát cơm sẻ nửa trong những ngày tháng gian nan, thiếu thốn. Trong những kỉ niệm về Việt Bắc, cán bộ cách mạng đã dành cho người mẹ nơi đây một tình cảm thật đậm sâu, tha thiết:

Nhớ người mẹ nắng cháy lưngÐịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

Hình ảnh người mẹ tảo tần, lam lũ, không quản nắng cháy, mưa sa, mẹ vẫn cặm cụi địu con lên rẫy bẻ ngô nuôi cán bộ. Mẹ chắt chiu, gom góp công sức nhỏ bé của mình vào cuộc kháng chiến lớn lao của dân tộc. Bà mẹ Việt Bắc gợi liên tưởng đến bà mẹ Tà Ôi trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.

4. Phân tích bài thơ Việt Bắc bức tranh tứ bình

Trong hoài niệm về những năm tháng kháng chiến ở Việt Bắc, tác giả đã dành cho cảnh và người nơi đây một nỗi nhớ rất riêng:

Đoạn thơ gồm 10 câu chia làm hai phần. Hai câu thơ đầu tiên như một lối nói đưa đẩy, giao duyên trong ca dao. Giọng thơ êm ái, nhẹ nhàng, tiếp nối mạch đối đáp giao duyên giã bạn, nhân vật trữ tình “ta” đã đối thoại với “mình”. Câu hỏi tu từ kết hợp với điệp từ làm cho lời thơ vừa là đối thoại nhưng cũng là một gạch nối để “ta” bày tỏ nỗi lòng. Không đợi cho “mình” trả lời, nhân vật “ta” tiếp tục xác định nỗi nhớ của mình: “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”. Nhớ hoa và người là nhớ tới thiên nhiên tươi đẹp của Việt Bắc, nhớ tới những con người Việt Bắc cần cù đã từng cưu mang gắn bó với kháng chiến.

Bức tranh tứ bình hiện ra sau khi ta phân tích bài thơ Việt Bắc đoạn này với màu xanh bát ngát của rừng già. Trên không gian lạnh lẽo, bạt ngàn thăm thẳm ấy là những đuốc lửa đốt lên ấm áp của sắc hoa chuối rừng. Cảnh vật Việt Bắc không còn hoang lạnh mà đẹp như một bức tranh. Sắc đỏ của hoa chuối rừng như thắp lên niềm tin yêu và trở thành điểm nhớ lung linh trong lòng người về xuôi. Giữa vẻ đẹp của sắc màu, hoa lá, hiện lên con người lao động làm chủ núi rừng. Con người đứng hiên ngang trên đỉnh đèo cao, ánh nắng chiếu vào dao gài thắt lưng tạo nên một sự phản quang lấp lánh. Câu thơ cho thấy sự khỏe khoắn, vững chãi của người dân Việt Bắc.

5. Phân tích bài thơ Việt Bắc khổ cuối

Liền một mạch thơ là hình ảnh Việt Bắc kháng chiến với những bức tranh rộng lớn, hào hùng, sôi động với hình ảnh những đoàn bộ đội dân công nao nức trên các nẻo đường:

Đó là cảnh hành quân của những người chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc. Tất cả đồng lòng như một. “Ánh sao” để chỉ người chiến sĩ còn “mũ nan” chính là những người dân quân Việt Bắc. Cả hai cùng đồng lòng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Những đoàn dân quân với những ngọn đuốc trên tay như soi sáng cả bầu trời Việt Bắc. Ngọn đuốc ấy như một lý tưởng quyết tâm chiến đấu để bảo vệ đất nước đánh đuổi kẻ thù. Khí thế của tất thảy với sức mạnh giống như là “nát đá”. Nghìn đêm nhân dân ta phải sống trong cảnh khó khăn vất vả. Thế rồi hình ảnh “đèn pha” bật sáng như thể hiện một niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Họ đã sống trong khốn khổ để bật phá rũ bùn đứng dậy đấu tranh vì một niềm tin vào tự do hạnh phúc. Và sau bao nhiêu khổ cực khó khăn, nhân dân ta đã giành được chiến thắng. Tin vui ấy lan rộng khắp từ Hòa Bình, đến Tây Bắc và Điện Biên…

Khác với những giai điệu tình nghĩa, mượt mà ở đoạn trên, phân tích bài thơ Việt Bắc đoạn này ta thấy được một bức tranh sử thi hoành tráng, ngợi ca sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và nhân dân anh hùng. Thể thơ lục bát được thể hiện linh hoạt, giọng điệu sôi nổi, dào dạt đã tạo nên một khúc ca anh hùng tràn đầy cảm hứng tự hào về cuộc kháng chiến của dân tộc.

Kết thúc đoạn thơ, một lần nữa nhà thơ khẳng định ý nghĩa của Việt Bắc, chiếc nôi của cách mạng trong suốt chặng đường kháng chiến gian lao. Việt Bắc là nơi chở che, cưu mang, là nơi thắm thiết nghĩa tình. Với thể thơ lục bát uyển chuyển, linh hoạt, giọng điệu tâm tình, sâu lắng, thiết tha, kết cấu đối đáp “mình – ta” ngọt ngào, ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, sau khi phân tích bài thơ Việt Bắc ta đã thấy những năm tháng gian lao và anh hùng của dân tộc qua sự đằm thắm, yêu thương. Xuyên suốt những câu thơ của Tố Hữu là câu hỏi hướng về cội nguồn đạo lí. Việt Bắc xứng đáng là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và thơ ca kháng chiến chống Pháp.

Nguồn: chúng tôi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Tích Bài “Phú Sông Bạch Đằng” Của Trương Hán Siêu trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!