Đề Xuất 2/2023 # Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục # Top 6 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Truyện truyền kì là một loại hình tự sự bằng văn xuôi, thuộc văn học viết. Theo Thi pháp văn học trung đại Việt Nam (Trần Đình Sử, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 293), thì truyện truyền kì Trung Quốc thường có bố cục gồm ba phần: a) Mở đầu: giới thiệu nhân vật (tên họ, quê quán, tính tình phẩm hạnh); b) Kể chuyện: kể các chuyện kì ngộ, lạ lùng; c) Kết thúc: nêu lí do kể chuyện. Các tác giả Việt Nam theo truyền thống truyền kì Trung Quốc, nhưng lại có một quá trình hình thành và phát triển gắn liền với nền văn hóa và văn học dân tộc, đặc biệt là với văn học dân gian và văn xuôi lịch sử.

Về một số đặc điểm khác của truyện truyền kì, tài liệu vừa nêu (tr. 295- 296), viết (lược ghi):

– Truyện có cốt truyện hoàn chỉnh như những tác phẩm nghệ thuật, có thắt nút, phát triển và mở nút.

– Truyện có thể kết thúc có hậu hay không.

– Truyện chú trọng vào việc hơn là chú trọng vào người, lấy việc mà biểu hiện người, răn người.

Truyện cổ tích thế tục(1) là một trong ba tiểu thể loại của truyện cổ tích (truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích thế tục, và truyện cổ tích loài vật). Truyện cổ tích thế tục được phân biệt với hai tiểu loại kia:

– So với tiểu loại truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích thế tục không có yếu tố thần kì(2), truyện phát triển chủ yếu theo logic thực tại, gồm hoàn cảnh, tính cách của nhân vật.

– So với tiểu loại truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thế tục không có nhân vật chính là các con vật nhằm phản ánh sinh hoạt, đặc điểm của chúng, cả việc giải thích nguồn gốc các hình dạng bề ngoài mà chúng hiện có.

2. Phân định giữa truyện truyền kì với truyện cổ tích thế tục

2.1. Xét 262 mẩu truyện truyền kì được chọn vào Truyện truyền kì Việt Nam (Nguyễn Huệ Chi (Chủ biên), Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2009, 3 quyển – viết tắt: [TTK])(3), có thể thấy khái niệm “truyện truyền kì” không chỉ giới hạn vào thời trung đại, mà còn mở rộng đến các tác giả thời hiện đại: Nhất Linh, Thế Lữ, Tchya, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển,… Điều đặt ra ở đây, là có khá nhiều mẩu truyện được chép ở tài liệu này, đồng thời, cũng được nhiều bộ sưu tập truyện cổ tích ghi nhận, một số chúng là truyện cổ tích thần kì, số khác là truyện cổ tích thế tục.

TT

Tên truyện

Tài liệu gốc của [TTK/II]

Số thứ tự và số trang ở [TTK/II]

Tài liệu sưu tập truyện cổ tích (hay truyện cổ dân gian) có chép truyện này

1

“Ác báo”; “Tiếc gà chôn mẹ”; “Sự tích thằng trời trồng”

Công dư tiệp kí (Vũ Phương Đề)

57/ tr. 46-47

a) Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr. 398-399); b) Nghìn năm bia miệng, tập I (Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr. 65-67)

2

“Sống lại”; “Anh chàng họ Đào”

Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh)

81/ tr. 108- 109

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (sđd., tr. 1336-1339)

3

“Chứa ác tự hại”; “Bò béo, bò gầy”; “Làng cướp”

Sơn cư tạp thuật (Khuyết danh)

115/ tr. 182- 183

a) Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (sđd., tr. 302- 305); b) Truyện cổ Hoa Lư (Phạm Vĩnh, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1993, tr. 63-70).

4

“Tiết phụ hai chồng”

Vân nang tiểu sử (Phạm Đình Dục)

158/ tr. 495- 497

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (sđd., tr. 424-426)

2.2. Vấn đề đặt ra là giữa truyện truyền kì và truyện cổ tích nói chung, cổ tích thế tục nói riêng, có quan hệ ra sao, mà lại có nhiều truyện nằm ở phần giao(4) của hai loại như thế? Câu trả lời, là do có khá nhiều truyện truyền kì xuất phát từ truyện kể dân gian, trước khi được các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, và sự thiếu nhất quán về khái niệm “truyện truyền kì” ở các bộ sách được cho là có tập hợp loại truyện này, của người đời sau.

2.2.1. Với ý thứ nhất, giả sử có một truyện A lưu truyền trong dân gian, thì các sự việc, tình tiết của nó thường phiếm chỉ. Tức tên tuổi, quê quán của nhân vật, nếu có, hay bị lược đi. Bởi có thế thì nó mới dễ dàng được kể một cách rộng khắp ở nhiều giới, nhiều hạng người, và các địa bàn khác nhau. Trong lúc, một nhà văn muốn sử dụng A để chế tác thành truyện truyền kì, thì lại theo hướng ngược lại: nhà văn này sẽ cá thể hóa, cụ thể hóa các nhân vật, sự việc. Bấy giờ, họ tên, xã huyện, thời đại xuất hiện. Điều này thường được giải thích do phong cách của mỗi bên.

(1) TIẾT PHỤ HAI CHỒNG qua một công trình sưu tập truyện cổ tích.

Ngày xưa, nhà nọ có người con gái xinh xắn, nết na. Lúc nàng lớn lên, một người học trò nghèo họ Đỗ đưa trầu cau đến hỏi làm vợ. Chàng là một tay văn hay chữ tốt, tính nết rất hiền lành. Thấy thế, người cha cô gái vui lòng hứa hôn, cô gái sung sướng được người chồng tử tế. Lễ cưới vừa xong thì cha nàng nhuốm bệnh qua đời.

Cô gái về nhà chồng một niềm trinh thuận. Chồng cô là người mồ côi cha mẹ. Gia tài chỉ có một đám vườn nhỏ với mấy quyển sách, nhưng họ sống trong bầu không khí hòa nhã, yêu thương. Chồng đọc sách, vợ quay tơ, thú gia đình tưởng không ai hơn được.

Ít lâu sau, đột nhiên người chồng mắc bệnh hủi. Người vợ lo lắng tìm thầy chạy thuốc. Phải bán luôn nữ trang của mình, bán cả đám vườn đang ở để dùng vào việc chữa chạy cho chồng. Nhưng bệnh mỗi ngày một nặng, cho đến lúc hết phương điều trị. Duy chỉ có người vợ ngày ngày hầu hạ chu tất không chút quản ngại. Thấy thế, anh chàng thương vợ quá. Chàng cho phép vợ li dị để mặc mình với số phận. Nhưng người vợ nhất định không nghe, nàng nói:

– Vợ chồng là nghĩa lâu dài, còn bệnh tật của chàng chẳng qua là sự không may. Thiếp xin cùng chung số phận với chàng, không đi đâu cả.

Nhưng bệnh của người chồng ngày một đáng sợ hơn. Anh chồng luôn cố khuyên vợ trở về với mẹ đẻ, để khỏi vì mình mà khổ thân, tuy vậy vợ vẫn kiên quyết ở lại. Một hôm, để cho vợ khỏi chịu thiệt thòi, chồng cất bước lẻn đi, để lại cho vợ một phong thư, nói rằng mình sẽ không bao giờ trở về nhà nữa, và cho phép vợ tự do đi lấy chồng khác.

Sau khi chồng đi biệt, người vợ chảy không biết bao nhiêu là nước mắt. Mẹ đẻ của nàng khuyên con đi lấy chồng khác, nhưng nàng không chịu. Ba năm trôi qua, tin tức chồng vắng bặt. Nhiều người đoán rằng chàng đã quyên sinh cho khỏi đau khổ. Rồi người vợ trả nhà cửa cho họ hàng nhà chồng, trở về với mẹ đẻ, lập bàn thờ, coi như chồng đã chết. Người mẹ nàng luôn luôn bảo rằng:

– Con thủ tiết với chồng như thế là trọn đạo. Không nên bỏ phí xuân xanh một đời.

Thấy nàng xinh đẹp lại có đức hạnh, nhiều người muốn hỏi làm vợ, trong đó có người học trò họ Nguyễn. Tin qua mối lại xôn xao làm cho nàng không tự chủ được. Cuối cùng, nàng đành nhận lời đi bước nữa cùng với anh chàng họ Nguyễn. Về với chồng mới được ba năm, nàng sinh được hai người con trai. Hai vợ chồng rất tương đắc. Người học trò họ Nguyễn sau đó thi đậu tiến sĩ và được bổ làm án sát Sơn Tây.

Năm nọ ở Sơn Tây và các trấn lân cận mất mùa to, giá thóc gạo cao lên vùn vụt. Khắp mọi nơi đều có người chết. Đường sá, chợ búa đầy những đoàn người đói khổ đi kiếm miếng ăn. Quan án được lệnh đi phát gạo cho người đói.

Lại nói, chuyện anh chàng họ Đỗ từ khi trốn vợ ra đi, nhất quyết không trở về quê nữa. Chàng không muốn vì mình mà khổ đời một người đàn bà. Chàng cứ đi lang thang nay đây mai đó, sống bằng nghề bị gậy. Cứ như thế sau năm năm, bệnh của chàng vẫn như cũ, và chàng vẫn sống một cuộc đời đơn độc và đau khổ. Hôm ấy, nghe tin có cuộc phát chẩn, chàng lần mò tìm tới, nhập vào đội quân lĩnh chẩn.

Đến phiên được lĩnh, chàng kêu lên: “Tôi là học trò yếu đuối, tàn tật, không rá không mủng, không nồi không niêu, nên không muốn xin gạo, chỉ muốn xin ít tiền cho tiện…”. Nghe thế, quan án cho gọi chàng tới, hỏi mấy câu về văn chương, quả nhiên, anh chàng bề ngoài tuy rách rưới, tiều tụy, nhưng đối đáp rất trôi chảy, thơ phú, điển tích cũng phong phú. Sẵn có lòng yêu người tài giỏi, ông bèn đặc biệt lấy tiền ra cho, lại có phần hậu hơn những kẻ khác.

Khi về dinh, quan án thuật lại chuyện vừa rồi cho vợ nghe. Thấy tả hình dáng, người đàn bà ngờ rằng đó là người chồng cũ. Nàng ra chợ tìm cách đứng nấp để xem mặt, thì đúng là người chồng ngày xưa. Tự nhiên lòng thương chồng cũ nay lại bừng bừng bốc lên. Nàng phải nuốt thầm những giọt nước mắt, vì mình đang ở vào một tình thế khó xử. Suy đi nghĩ lại mãi, cuối cùng nàng dùng lời nói khéo cố khuyên người chồng mới đưa “người học trò khó mà có tài” đó về dinh, cho ở một gian lều sau trại. Như thế vừa làm được một việc nghĩa, vừa có người làm bạn văn chương. Được người chồng mới ưng thuận, nàng sung sướng vô hạn. Từ đó, ngầm sai người hầu chu cấp, chăm nom tử tế. Có điều, nàng không bao giờ để lộ một hành động gì cho chồng biết, và cũng không bao giờ cho người chồng cũ thấy mặt.

Người chồng cũ, hôm nọ đau bụng đi tả, vào giữa đêm khuya bị khát quá, bèn lần ra một cái chum gần trại múc nước uống. Hôm sau, chàng mới biết là mình uống nhầm phải một thứ nước trong đó có một con rắn trắng chết. Nhưng thật không ngờ, một thời gian sau những mụn hủi lở chốc bay hết, và dần dần bệnh tự nhiên lành hẳn; da thịt của chàng trở lại trắng trẻo như xưa. Rồi chàng ôn luyện kinh sử. Và nhờ sự giúp đỡ tận tình của quan án, chàng lại quẩy lều chõng đi thi.

Tất cả những việc đó xảy ra làm cho người đàn bà vừa vui mừng vừa đau khổ. Nàng thấy mình không thể chịu đựng âm thầm mãi như vậy được. Khi nghe tin người chồng cũ đậu tiến sĩ, sắp sửa vinh quy, nàng viết một bức thư rất dài kể hết nỗi lòng của mình cho người chồng mới biết. Nàng xin chồng tha lỗi về sự giấu giếm của mình từ bấy lâu nay. Có hai đứa con trai, nàng xin một đứa cho làm con nuôi ông nghè mới. Đoạn nàng trốn chồng con, bỏ đi biệt.

(Nguồn: Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, sđd., tr. 424-426)

(2) TIẾT PHỤ HAI CHỒNG qua một công trình về truyện truyền kì.

Đời nhà Lí, ở xã nọ thuộc huyện Nam Chân, có một nhà sinh được người con gái, từ lúc tóc còn tết bím đã thông minh không mấy người đọ nổi, lại biết chữ nghĩa và không hay buông thả nói cười. Cha nàng lấy làm lạ, lúc sắp mất dặn lại vợ rằng:

– Con gái ta lớn lên, thế nào cũng phải gả về anh nho sinh Mỗ làng nọ.

Rồi ông quay sang nói với con:

– Con hãy nhớ lấy lời cha, đừng gá nghĩa với ai khác.

Nói xong, ông tắt nghỉ.

Về sau, chàng nho sinh Mỗ nghe tin, bèn đến xin hỏi cô gái làm vợ. Vợ chồng rất tương đắc. Nhưng chỉ được ít lâu, chàng bỗng mắc bệnh hủi, không ai dám tới gần, mọi việc đều cậy nhờ vào vợ. Vợ một niềm kính yêu săn sóc, không chút nề hà. Đám trai trẻ tinh quái trong làng gặp nàng giữa đường, thường nhại bài thơ của Bạch Cư Dị để giễu:

Lưu Cương dữ phụ cộng thăng tiên Lộng Ngọc tùy phu diệc thướng thiên Hà tự nhi gia phu phụ hảo Hà cô Lí lão hợp sàng miên.

(Lưu Cương cùng vợ lên tiên Theo chồng, Lộng Ngọc cũng lên cõi trời Ai như nhà chị tốt đôi Cô Hà lão Lí cùng ngơi một giường)(5)

Người chồng biết chuyện, thẹn mình mắc chứng bệnh lạ lùng làm lụy đến vợ, bèn cho phép vợ cải giá. Nàng khóc lóc mà nói:

– Còn lời cha trăng trối đấy thì sao? Chẳng lẽ khi lành lặn thì ở với nhau, gặp lúc ốm đau lại chia lìa, thần nào chứng cho!

Rồi nàng nhất quyết không nghe. Chồng bèn thừa cơ trốn đi. Cả nhà tìm khắp, nhưng biệt tăm chẳng còn tung tích. Dẫu thế, nàng vẫn thề không đổi tiết. Mẹ đẻ nàng rất bực, nói dỗi:

– Chồng mày bị tàn tật, mà nay cũng còn đâu nữa. Mày định làm bà vãi ư? Thì tao biết nương tựa vai ai bây giờ?

Vừa lúc ấy, có anh học trò cũng người trong quận đến xin hỏi, bà mẹ bắt ép nàng phải nhận lời. Được vài năm, nàng sinh hai con trai, rồi người chồng lại thi đỗ, trải thăng đến chức đề hình tỉnh Sơn Tây.

Gặp năm đói kém, quan đề hình phụng mệnh vua đi phát chẩn cho dân. Bấy giờ, người ăn xin tụ tập đông như quạ, cả người học trò bị bệnh hủi kia cũng có mặt ở đấy. Khi phát gạo cho anh, anh không nhận, nói:

– Tôi ốm yếu đã lâu, không nấu nướng được, và cũng không có nồi, lấy gạo làm gì?

Đề hình nghe, lấy làm lạ, gọi anh đến hỏi:

– Anh là học trò ư? Là học trò hẳn cũng biết, người xưa những ai từng phải đi ăn xin chứ?

Chàng hủi lần lượt kể tên các ông Ngũ Viên, Đào Tiềm, Vương Bá(6),…, để đáp lại, lời lẽ rất trôi chảy. Quan lại càng lấy làm lạ, cấp cho một ít tiền, và sau khi về dinh rồi, vẫn còn than thở mãi. Thấy thế, phu nhân gạn hỏi lí do, ông nói:

– Vừa rồi, tôi đi phát chẩn, có người ăn xin là học trò, lại bị bệnh hủi, tôi đặt mấy câu hỏi khó, anh ta đều ứng đối được cả. Tội nghiệp con người như thế mà sao lại mắc bệnh hiểm nghèo thế chẳng biết!

Nàng nghe, ngờ là chồng cũ của mình, bèn lựa lời bảo chồng:

– Chí thành là đức của người danh sĩ. Ông tiếc gì một chút công khó, nỡ để cho người có học phải lụy với kiếp trong trần ư?

Quan thấy thế, liền cho gọi anh học trò hủi đến. Nàng dòm trộm thì quả là chồng cũ của mình, bèn khuyên ông cho anh ở nhờ trong nhà, và chu cấp rất hậu. Từ đó, bao giờ nàng cũng bận quần lót, thắt dây lưng thật chặt, và không chịu chung chăn gối với chồng nữa, chẳng ai hiểu là vì duyên cớ gì.

Một đêm kia, chàng hủi bỗng mắc bệnh đau bụng tháo dạ, mình nóng miệng khát, phải lần mò ra sân vục xuống uống nước trong một cái ang. Thế rồi, sáng hôm sau, bệnh hủi bỗng biến đâu mất. Xem lại, thì ra trong ang có con rắn trắng chết nằm trong ấy. Quan đề hình biết lấy làm mừng lắm, khuyên anh dự kì thi hương. Khoa ấy, anh đỗ hiếu liêm(7), rồi mùa xuân năm sau, lại đỗ luôn tiến sĩ.

Tin mừng về đến dinh, phu nhân bỗng ăn mặc chỉnh tề, bước ra nhà ngoài, lạy chồng mà nói:

– Thiếp là người không giữ tiết, chẳng đáng sống nữa làm gì; may được hầu khăn lược, đã có hai con trai, nay con lớn để lại thờ chàng, xin để đứa con thứ hai cho quan nghè mới, được thế, thiếp không còn ân hận gì nữa.

Dứt lời, nàng nuốt liều thuốc độc chết ngay. Chồng rất đỗi kinh ngạc. Đến khi vị tân khoa tiến sĩ vinh quy về tới nhà, nói chuyện với nhau, mới rõ nguồn cơn, bèn đem việc ấy tâu lên triều đình. Vua bèn ban cờ biển đề mấy chữ Lưỡng phu trinh tiết, nghĩa là tiết phụ hai chồng.

Vân Sử thị bàn rằng: Đã lấy hai chồng sao lại được gọi là trinh tiết? Vì có lấy hai chồng mới rõ tiết tháo của nàng. Nếu lấy anh chồng hủi mà trọn đời hài hòa cầm sắt thì cũng chỉ là cặp vợ chồng tốt mà thôi, chứ sao rõ ra được là người trinh tiết? Ta thấy người đời được lụa quên sồi, có mới nới cũ, có người lại còn ôm tả ấp hữu, ngủ đông ăn tây, đĩ già hoàn lương mà chồng còn cho là trinh. Đời mạt, ít có người hoàn toàn, thì gọi là “tiết phụ hai chồng” cũng được.

(Nguồn: Phạm Đình Dục, Vân nang tiểu sử, Nguyễn Đức Vân dịch – dẫn lại, theo: [TTK/II, 495-497])

So sánh hai văn bản vừa dẫn, ngoài những sự khác biệt như đã nêu, còn nhận ra:

– Nếu truyện cổ tích nhằm hướng tới những người bình thường (ngày trước, đa số là không biết chữ), thì truyện truyền kì nhằm vào lớp người có học và giới quan lại. Có thể thấy điều này, khi ở truyện truyền kì, tên các học vị, chức vụ chuẩn xác, câu hỏi của quan đề hình và lời đáp của anh học trò bị hủi khá bài bản, đặc biệt là bài thơ giễu đầy ắp các nhân vật trong sách vở Trung Hoa xưa, là những điều khó gặp ở truyện cổ tích – chưa nói đến chất giọng, quan niệm của người kể chuyện, một mực hướng về, hay bảo vệ tầng lớp nho sĩ.

Ở bài “Thể loại giai thoại” (in trong: Văn học dân gian người Việt – Góc nhìn thể loại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006, tr. 423), Kiều Thu Hoạch viết: “Riêng trong các sách Hán Nôm, thì những mẩu chuyện mang nội dung giai thoại được ghi chép khá phong phú, rải rác từ thời Lê đến thời Nguyễn. Trong đó, sách Công dư tiệp kí chẳng hạn, ghi chép khá nhiều giai thoại xung quanh các nho sĩ”.

Điều này cho thấy, đã có sự thiếu nhất quán về quan niệm truyện truyền kì chẳng những ở các bộ sách được cho là có tập hợp loại truyện này, mà còn ở sự nhìn nhận về nó của các nhà nghiên cứu hiện nay. Sự thiếu nhất quán này đã khiến một số truyện được [TTK] chọn tuyển, là truyện cổ tích (như đã dẫn), giai thoại (như “Giữa đồng ép cuộc mây mưa” [TTK/II, 524-526](8)),…

3. Kết luận

Điều quan trọng là tránh đồng nhất hay coi giữa chúng có “đường biên”, bởi với hai thực thể riêng biệt thuộc hai lĩnh vực khác loại, đó là điều không thể. Nói cách khác, cái gọi là phần giao đã nói chỉ là một sự tương ứng về sự việc được đề cập hay phản ánh (chứ không phải cùng đường biên mà có).

T.N   (TCSH330/08-2016)

——————– 1. Khái niệm “Truyện cổ tích thế tục” ở đây, tương ứng với “truyện cổ tích sinh hoạt”, “truyện cổ tích  sinh hoạt xã hội”, “truyện cổ tích thế sự”,… Đồng thời, nó là một dạng viết tắt của “Truyện cổ tích  thế tục Việt Nam”, bao gồm truyện cổ tích thế tục của người Kinh, và truyện cổ tích thế tục của  người thiểu số.

2. Yếu tố thần kì gồm ba dạng cơ bản và một dạng kết hợp, như sau:

– Dạng 1:Các đối tượng siêu nhiên và chỗ trú ngụ của họ: Bụt, thần tiên, ma quỷ,…; thiên đình,  thủy cung, địa phủ,… – Dạng 2:Các con vật, cây cối có tài phép: trăn tinh; đại bàng; con vật biết nói năng, hành động  như người; cây chặt không đứt;…   – Dạng 3:Các đồ vật có phép lạ: cây đàn thần; búa thần; gậy thần;… – Dạng 4:Sự kết hợp: a) Kết hợp giữa ba dạng 1, 2 và 3 với nhau: thần tiên biến thành con vật,  cây cối và ngược lại; đồ vật biến thành con vật, cây cối và ngược lại;… b) Kết hợp giữa con người  với ba dạng 1, 2 và 3: người được sinh đẻ và trưởng thành bất thường; người có tài phép như thần  tiên, ma quỷ; người lấy thần tiên, ma quỷ; người mang lốt con vật, cây quả; người hóa thành con  vật, cây cối, đồ vật;…   Đã là truyện cổ tích thần kì thì phải có yếu tố thần kì, còn truyện cổ tích thế tục thì không có yếu  tố ấy.

3. Tài liệu này chọn truyện từ 21 tập truyện chữ Hán (như: Công dư tiếp kí – Vũ Phương Đề; Lan Trì  kiến văn lục – Vũ Trinh; Vân nang tiểu sử -Phạm Đình Dục;…); 11 tập truyện quốc ngữ (như: Trại  Bồ Tùng Linh -Thế Lữ; Báo oán – Nguyễn Tuân; Nằm vạ – Bùi Hiển;…).  

4. Giao là một khái niệm được dùng khi tìm hiểu về tập hợp (giao của A và B là một tập hợp, gồm  những phần tử thuộc cả A và B); ở đây, được mượn dùng.

5. Theo nguyên chú, bài thơ của Bạch Cư Dị (772-846) chỉ khác hai câu sau: “Hà dĩ Sa Kha lĩnh Thôi  tẩu/ Bích du chàng dẫn hướng Tần Xuyên” (Sao lại như Sa Kha đưa chị họ Thôi đi/ Cờ biếc dẫn  tới đất Tần Xuyên). Các tên Lưu Cương, Lộng Ngọc, Hà cô, Lí lão trong bài thơ phóng tác, đều là  nhân vật thần tiên.  

6. Ngũ Viên (?-484 tr. CN), người đời Xuân Thu; Đào Tiềm (khoảng 365-427), người đời Tấn; Vương  Bá, người đời Đường. Cả ba đều là người hiền tài gặp vận đen, phải tạm ăn nhờ người khác.  

7. Hiếu liêm: chỉ học vị cử nhân (đời Minh và đời Thanh, Trung Quốc, gọi người đỗ cử nhân là  hiếu liêm).

8. Kể việc Nguyễn Công Trứ thuở chưa gặp thời, rất thích một nàng ca kĩ. Ông quảy gánh đi theo  phục vụ việc ca hát của nàng ấy ở khắp nơi. Một hôm, khi nàng ca kĩ cùng ông và một chú bé mang  đàn theo hầu đi ngang qua một cách đồng vắng vẻ, ông vờ bảo quên mang theo dây đàn, khiến chú  bé phải chạy về lấy. Bấy giờ, ông ép nàng vào cuộc mây mưa. Nàng không chống cự nổi đành phải  để mặc ông làm gì thì làm. Lúc ông hành sự, nàng có rên mấy tiếng “ứ hự”, vẻ nửa miễn cưỡng,  nửa bằng lòng. Sau đó, ông tìm đường lỉnh đi. Về sau, Nguyễn Công Trứ đỗ đạt, ra làm quan. Một  lần, nhân ngày sinh nhật của mình, ông triệu các con hát nổi tiếng ở nhiều nơi đến giúp vui. Nàng  ca kĩ ngày xưa cũng đến dự. Nàng nhận ra ông quan chính là anh đầy tớ ngày nào, bèn hát rằng:   “Giang sơn một gánh giữa đồng/ Thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ không?”. Nghe nhắc lại chuyện  xưa, ông nhớ ra, bèn bỏ ra nghìn vàng, cưới nàng làm vợ lẽ. Truyện này được chép ở nhiều tài liệu sưu tập giai thoại, như: a) Trương Chính, Thơ văn Nguyễn Công  Trứ, Nxb. Văn học, 1983, tr. 163 (mục giai thoại); b) Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch, Giai thoại  văn học Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000, tr. 190-192; c) Ninh Viết Giao, Văn hóa dân gian xứ  Nghệ – Tập 3: Truyện cười và giai thoại, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2012, tr. 537-538;…   

Truyện Cổ Tích Thế Tục Việt Nam

Tổng hợp những câu chuyện cổ tích về phong tục tập quán

– Lượt xem: 2731

Việt Nam ta có rất nhiều câu chuyện cổ tích nói về những phong tục tập quán rất đặc sắc, thể hiện đời sống tinh thần và nếp suy nghĩ của cả một dân tộc…

Sự Tích Trầu Cau

– Lượt xem: 12888

Ngày xưa, một nhà quan lang họ Cao có hai người con trai hơn nhau một tuổi và giống nhau như in, đến nỗi người ngoài không phân biệt được ai là anh, ai là em. Năm…

Sự tích cái mõ

– Lượt xem: 2298

Cá Kình có oán với nhà sư. Nhưng sau khi nghe nhà sư nói thì cá Kình không oán trách nữa mà còn biết ơn nhà sư. Sau cái mõ được phổ theo hình con cá…..

Sự tích cái Lồng đèn

– Lượt xem: 3383

Một nhà sư vân du làm lồng đèn hình cá chép để cho cá chép thành tinh tưởng là đồng loại mà bỏ đi không hại người nữa….

Sự Tích Chuông, Trống, Mõ

– Lượt xem: 1862

Chàng thư sinh nọ trên đường đi thi đã cứu được con chạch với hi vọng “cứu vật trả ơn”. Tuy nhiên sau đó anh lại hay tin chính con vật này đang làm điều ác…

Sự tích củ mài và cây cơm nguội

– Lượt xem: 2144

Hai vợ chồng nọ nhà nghèo nhưng đông con nên không đủ ăn. Chính vì vậy đàn con phải vào rừng kiếm ăn rồi hóa thành loài chim Phung. Khi cha mẹ mang thức ăn về…

Sự tích khèn bè Mường Vạt

– Lượt xem: 955

Đôi vợ chồng trẻ người Thái đã 10 năm rồi không có con. Khi người chồng bị bệnh đã bị chúa đất bắt vào sâu trong rừng ở. Sau đó nhờ anh chế tạo ra chiếc…

Sự tích Tháp Bút Kim Nhan

– Lượt xem: 1704

Có một anh học trò nghèo nọ khi chuẩn bị lên đường đi thi thì được đàn thú giúp đỡ để có đủ các vật dụng. Trong số đó, cóc đã giúp ăn bằng cách ăn…

Sự tích đền Bà Đế

– Lượt xem: 1389

Bà Đế vốn là một cô gái siêng năng và có tiếng hát lay động lòng người. Khi Chúa Trịnh nghe được đã say mê và đi tìm. Cho đến khi bà mang thai vì thuyền hoa…

Sự tích Hồ Tây

– Lượt xem: 2443

Hồ Tây hay Hồ Trâu Vàng xuất phát từ việc khi Nguyễn Minh Không chữa được bệnh cho hoàng tử Trung Quốc thì được ban thưởng đồng đen. Khi về nước, đồng…

Sự tích cúng gà đêm giao thừa

– Lượt xem: 2535

Truyền thống cúng gà đêm giao thừa xuất phát từ việc các dũng sĩ khi bắn rụng 9 Mặt Trời đã làm cho Mặt Trời thứ 10 hoảng sợ. Khi đó, loài gà đã cất tiếng…

Sự tích hoa ngô đồng

– Lượt xem: 1448

Một người đàn ông đàn rất hay và đã phải lòng một cô gái tuổi xuân thì nên ông đành giấu kín cảm xúc của mình. Cô gái và chàng trai hai người đều là học…

Vận khứ hoài sơn năng trí tử, Thời lai bạch thủy khả thôi sinh

– Lượt xem: 1036

Ông lan xem mạch vì nghĩ rằng đã làm chết chồng của người đàn bà nọ nên khóa tủ thuốc và vứt chìa khóa đi cùng lời thề chỉ làm nghề lại nếu chìa khóa…

Sự tích cây Thì Là

– Lượt xem: 3793

Khi Ngọc Hoàng đã đặt tên cho các loại cây xong thì mới có một nhành cây nho nhỏ chạy đến xin đặt tên. Ngọc Hoàng mãi ngập ngừng nói Thì Là nên nhành cây đã…

Sự tích Hoa Trinh Nữ

– Lượt xem: 1901

Trong một ngôi nhà nọ có hai kiếp đàn bà chờ chồng đi lính. Và không may lại xuất hiện thêm một cô gái kiếp thứ 3. Nàng vẫn chung thủy chờ người yêu đi lính…

Giết chó khuyên chồng

– Lượt xem: 1704

Ngày xưa ở một gia đình có hai anh em, người anh tuy giàu có nhưng chỉ luôn coi trọng bạn bè hơn người em nghèo khó của mình. Người vợ khuyên ngăn mãi nhưng chẳng…

Sự tích 1000 con hạc giấy

– Lượt xem: 2070

Nàng tiểu thư nhà giàu phải lòng chàng thư sinh nghèo. Chàng đã chết vì thử thách của huyện quan để có thể đến với nàng tiểu thư. Sau đó nàng cũng chết đi…

Trí khôn của ta đây

– Lượt xem: 28451

Con hổ vì tò mò về trí khôn của con người nên đã bị anh nông dân lừa và trói vào gốc cây. Không những vậy, nó còn bị anh đốt và quát “trí khôn của ta đây”….

Cái Chén Gáo Dừa

– Lượt xem: 3059

Vợ mất, người cha khóc đến mắt mờ đi nhưng vẫn cố gắng làm việc để nuôi con thành tài. Sau khi con trở thành quan tri huyện và lấy vợ, họ rất hiếu thảo…

Rét nàng Bân

– Lượt xem: 2470

Nàng Bân vốn là con Ngọc Hoàng nhưng thua kém các chị vì tính chậm chạp. Sau khi lấy chồng, khi may áo rét cho chồng mãi đến hết mùa rét mới xong. Ngọc Hoàng vì…

Sự tích hoa nhài

– Lượt xem: 1530

Khi các loài hoa còn mang chung sắc trắng, một họa sỹ mới đến khu vườn và mang theo các màu sắc của mình cho các loài hoa. Kết quả là mỗi loài hoa đều có được…

Sự tích Hòn Vọng Phu

– Lượt xem: 2122

Người anh trong một lần chặt mía đã vô tình làm trúng phải em mình nên đành bỏ nhà ra đi. Về sau khi anh lấy vợ mới nhận ra rằng đó chính là em gái của mình….

Sự tích Hồ Ba Bể

– Lượt xem: 9528

Chuyện xảy ra ở làng Năm Mẫu tại Bắc Cạn, nhân dịp lễ cúng Phật lớn đông đủ mọi người tể tựu và có cả một bà lão bị hủi. Tuy nhiên, chỉ có hai mẹ…

Ai mua hành tôi

– Lượt xem: 2235

Một anh chàng làm nông khi cứu được chim sẻ được trả ơn bằng lọ nước thần. Khi anh lấy vợ, vợ anh dùng lọ nước này mà trở nên xinh đẹp. Nhà vua hay tin…

Sự tích cây Khế

– Lượt xem: 4667

Hai anh em nọ được cha mẹ chia đều gia tài, người em vốn siêng năng nên đã bị anh đuổi ra ở riêng trong căn nhà tranh lụp xụp cùng cây khế. Đến mùa, có một…

Cổ tích thế tục: Đọc truyện cổ tích thế tục chọn lọc hay nhất Việt Nam. Truyện cổ tích thế tục là một trong ba thể loại của truyện cổ tích, cốt truyện thường kể lại những sự kiện, sự việc khác thường việc ly kỳ, khác lạ nhưng vẫn bám sát vào những câu truyện từ thế giới trần tục.

chọn lọc hay nhất Việt Nam.là một trong ba thể loại của, cốt truyện thường kể lại những sự kiện, sự việc khác thường việc ly kỳ, khác lạ nhưng vẫn bám sát vào những câu truyện từ thế giới trần tục.

Truyện Cổ Tích Thế Tục Việt Nam Hay Và Ý Nghĩa Nhất

Truyện cổ tích thế tục là một trong những thể loại của truyện cổ tích, xoay quanh những sự kiện đời sống thường ngày, hoạt động, sinh hoạt của người dân. Yếu tố thần kì vẫn có nhưng không đóng vai trò giải quyết xung đột, mâu thuẫn chính trong tác phẩm. Đây là thể loại gần gũi và dễ tiếp thu.

1. Sự tích trầu cau

Ngày xưa có Tân và Lang là hai anh em ruột, dáng người và mặt mày giống nhau như đúc, chính người nhà cũng nhiều phen nhầm lẫn. Cha họ là một người cao to nhất trong vùng từng được vua Hùng triệu về Phong Châu ban thưởng và đặt tên là Cao. Từ đó gia đình lấy họ “Cao”.

Hai anh em lớn lên thì cha mẹ qua đời. Cả hai quyến luyến nhau không rời nửa bước. Người cha trước khi mất có gửi gắm Tân cho một đạo sĩ họ Lưu, Lang không chịu ở nhà một mình cũng cố xin cùng được học với anh. Đạo sĩ họ Lưu có cô con gái cùng lứa tuổi với họ.

Để biết ai là anh, ai là em, một hôm cô gái họ Lưu bày ra một mẹo nhỏ. Giữa lúc họ đang đói, nàng chỉ dọn cho họ một bát cháo với một đôi đũa. Đứng sau khe vách, nàng thấy người này nhường cháo cho người kia ăn nên cô biết đó là người anh.Tân và cô gái gặp gỡ và yêu nhau. Đạo sĩ họ Lưu vui lòng gả con cho Tân. Sau khi cưới, hai vợ chồng đến ở một ngôi nhà mới, có Lang ở chung.

Từ ngày lấy vợ, Tân không âu yếm em như trước nữa. Lang nghĩ anh “mê vợ quên ta” trong lòng chán nản buồn bực.

Một hôm Lang và Tân cùng lên nương đến tối mịt mới về. Lang về trước làm vợ Tân nhầm liền ôm chầm lấy, lúc đó Tân bước vào nhà và ghen em, hững hờ với Lang. Lang vừa giận vừa thẹn. Chàng bỏ nhà ra đi lúc trời mới mờ sáng, trong lòng bực bội. Mấy ngày đường, Lang tới bờ một con sông lớn nước chảy xiết. Lang quyết không chịu trở lại, cúi gục trên bờ, ôm mặt khóc. Chàng khóc mãi, khóc mãi, đến nỗi những con chim đi kiếm ăn khuya vẫn còn nghe tiếng nức nở. Sáng hôm sau, Lang hóa đá.

Mãi sau vẫn không thấy em về, Tân bổ đi tìm không thấy tăm dạng. Biết là em bỏ đi vì giận mình, chàng hối hận. Hôm sau nữa, cũng không thấy về, Tân hoảng hốt để vợ lại nhà, cất bước đi tìm. Chàng đến bờ con sông thấy em đã hóa thành đá. Tân đứng bên cạnh hòn đá khóc mãi cho đến lúc chết và hóa thành một cây thân mọc thẳng lên trời, bên cạnh hòn đá.

Vợ Tân chờ mãi không thấy chồng về, cũng bỏ nhà đi tìm. Nàng cũng tới con sông khóc cạn cả nước mắt và chết hóa thành một cây dây quấn quanh lấy cây kia.

Đợi mãi không thấy ba người về, vợ chồng đạo sĩ nhờ mọi người chia nhau tìm kiếm. Trước hòn đá và hai cây lạ, họ dựng miếu thờ cả ba người trẻ tuổi ở ven sông. Nhân dân quanh vùng gọi là miếu “anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa”.

Một năm nọ trời hạn hán rất dữ chỉ có hai cây mọc bên cạnh hòn đá trước miếu là vẫn xanh mượt. Mọi người cho là linh dị. Vua Hùng một hôm ngự giá qua xứ đó. Khi đi qua trước miếu, vua ngạc nhiên hỏi: -“Miếu này thờ vị thần nào? Mấy loại cây này ta chưa từng thấy bao giờ?”. Lạc tướng cho gọi mấy cụ già ở quanh vùng đến hỏi. Hùng Vương càng nghe, không ngăn được sự cảm động. Vua vạch lá trèo lên nhìn khắp mọi chỗ và sai một người trèo cây hái quả xuống nếm thử. Vị chát không có gì lạ. Nhưng khi nhai với lá cây dây thì một vị là lạ đến ở đầu lưỡi: nó vừa ngon ngọt, vừa thơm cay.

– Thật là linh dị! Đúng là họ rồi! Tình yêu thương của họ thật là nồng nàn thắm đỏ.

Từ đó vua Hùng ra lệnh cho mọi nơi phải gây giống cho nhiều hai loại cây ấy, bắt buộc trai gái khi kết hôn thế nào cũng phải tìm cho được ba món: trầu, cau và vôi cho mọi người nhai nhai nhổ nhổ một tý để ghi nhớ tình yêu không bao giờ phai lạt. Từ đó dân Việt mới có tục ăn trầu.

Cho đến ngày nay, trầu cau vẫn là thứ không thể thiếu việc giao hiếu, kết thân và cưới hỏi của người Việt. Thể hiện rõ tình cảm thắm thiết giữa những người thân trong gia đình.

2. Sự tích hoa đào

Ngày xưa, ở phía Đông núi Sóc Sơn, có một cây hoa đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào sum suê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây hoa đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng. 

Vào thời điểm đó, quỷ dữ hay ma quái nào bén mảng lui đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của 2 vị thần linh này. Vì vậy, ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sợ luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành hoa đào là bỏ chạy xa bay.

Đến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và Uất Lũy phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng. Trong mấy ngày Tết, 2 thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái. Để ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành hoa đào về cắm trong lọ, ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột trước nhà, để xua đuổi ma quỷ. Sự tích về hoa đào cũng bắt nguồn từ đó.

Hàng năm, cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành hoa đào về cắm trong nhà để trừ ma quỷ. Tuy nhiên về sau, người ta quên mất ý nghĩa thần bí của tục lệ này vì không còn tin vào ma quỷ, thần linh như tổ tiên ngày xưa.

Ngày nay, cành đào tươi thắm vẫn xuất hiện trong mỗi ngôi nhà vào dịp Tết đến xuân về nhưng ý nghĩa của nó đã khác xa với tục lệ ngày xưa. Vẻ đẹp của nó đã mang lại sự ấm cúng cho mỗi nhà, gieo vào lòng mỗi người niềm vui, niềm tin yêu, hy vọng vào năm mới tốt đẹp.

Hoa đào là tượng trưng cho hi vọng của năm mới, mang đến mong muốn về một năm mới an lành, gặp nhiều may mắn. Vì vậy đào gắn liền với tết.

3. Sự tích cây chổi

Ngày xưa ở trên cung điện nhà trời có một người đàn bà nấu ăn rất khéo tay. Bà chế những món bánh trái tuyệt phẩm, làm những thức ăn ngon đến nỗi chỉ nếm qua một miếng là không thể nào quên được. Cho nên Ngọc Hoàng thượng đế cho bà chuyên trông nom công việc nấu ăn cho mình ở thiên trù. Nhưng bà lại hay ăn vụng và tham lam.

Lệ nhà trời những người hầu hạ đều có thức ăn riêng, nhất thiết không được đụng chạm đến ngự thiện, dù là Ngọc Hoàng ăn thừa cũng vậy. Nhưng luật lệ đó không ngăn được những người đang sẵn thèm khát. Người đàn bà vẫn tìm đủ mọi cách để làm cho kho thức ăn của nhà Trời hao hụt.

Tuy đã quá tuổi xuân, bà ta lại yêu một lão vốn chăn ngựa cho thiên đình. Đời sống của những người chăn ngựa thì ở cõi trời cũng như cõi đất đều cực khổ không kém gì nhau. Ông ta thích rượu và từ khi gặp người đàn bà này lại thèm ăn ngon. Bà ta say mê ông tưởng trên đời không còn có gì hơn được. Mỗi lúc thấy người đàn ông đó thèm thức ăn, đồ uống của nhà Trời, bà ta không ngần ngại gì cả. Đã nhiều phen bà lấy cắp rượu thịt trong thiên trù giấu đưa ra cho ông. Và cũng nhiều phen bà dắt ông lẻn vào kho rượu, mặc sức cho ông bí tỉ.

Một hôm, Ngọc Hoàng thượng đế mở tiệc đãi quần thần. Bà và các bạn nấu bếp khác làm việc tíu tít. Chỉ vào chập tối, các món ăn đã phải làm đầy đủ. Rồi khi ánh nguyệt của đêm rằm sáng lòa là mọi người bắt đầu vào tiệc. Nhưng giữa lúc cỗ đang bày lên mâm thì từ đàng xa, bà đã nghe tiếng lão chăn ngựa hát. Bà biết ông tìm mình. Bà lật đật ra đón và đưa giấu ông ta vào phía góc chạn. Bà đưa cho ông mấy chén rượu, thứ rượu ngon nhất của thiên tào rồi trở ra làm nốt mẻ bánh hạnh nhân.

Người đàn ông đó mới đi tắm ngựa ở bến sông về. Bưng lấy bát cơm hẩm, ông sực nhớ đến rượu thịt bây giờ chắc đang ê hề ở thiên trù, nên vội lẻn đến đây. Trong bóng tối, ông nuốt ực mấy chén rượu lấy làm khoái. Chén rượu quả ngon tuyệt, hơi men bốc lên làm ông choáng váng. Ông bỗng thèm một thức gì để đưa cay. Trong bóng tối, trên giá mâm đặt ở gần đó có biết bao là mỹ vị mùi thơm phưng phức. Đang đói sẵn, ông giở lồng bàn sờ soạng bốc lấy bốc để…

Khi những người lính hầu vô tình bưng mâm ngự thiện ra thì bát nào bát ấy đều như đã có người nào nếm trước. Ngọc Hoàng thượng đế vừa trông thấy không ngăn được cơn thịnh nộ. Tiếng quát tháo của Ngọc Hoàng dữ dội làm cho mọi người sợ hãi. Bữa tiệc vì thế mất vui.

Người đàn bà nấu bếp cúi đầu nhận tội. Và sau đó thì cả hai người cùng bị đày xuống trần, làm chổi để phải làm việc luôn tay không nghỉ và tìm thức ăn trong những rác rưởi dơ bẩn của trần gian. Đó là tội nặng nhất ở thiên đình.

Lâu về sau, thấy phạm nhân bày tỏ nông nỗi là phải làm khổ sai ngày này qua tháng khác không lúc nào ngơi tay, Ngọc Hoàng thương tình ra lệnh cho họ được nghỉ ba ngày trong một năm. Ba ngày đó là ba ngày Tết nguyên đán.

Bởi vậy đời sau trong dịp Tết nguyên đán, người ta có tục lệ kiêng không quét nhà. Người Việt Nam chúng ta có câu đố về cái chổi “Trong nhà có một bà hay la liếm” mô tả thần tình động tác quét nhà nhưng trong đó chắc còn có ngụ ý nhắc lại sự tích của cái chổi.

Câu chuyện phê phán thói tham ăn, khuyên chúng ta cần phải giữ phép lịch sự trong ăn uống. Mở rộng ra là phê phán thói hư tật xấu của con người, khi mà ham ăn được cho là một trong những tật xấu nhất của con người, cần phải loại bỏ. 

Ngày xửa ngày xưa, tất cả các loài cây trên Trái Đất thuở ban đầu mới chỉ có lá mà chưa có hoa như bây giờ. Trời sai Thần Sắc Đẹp dùng bút vẽ muôn ngàn bông hoa khác nhau cho cây cối. Vâng mệnh trời, Thần Sắc Đẹp bay xuống trần gian, đi khắp nơi để vẽ hoa cho cây cối.

Vẽ xong, Thần ngắm lại vẫn chưa hài lòng. Thần muốn tặng các hương thơm lên các loài hoa Thần vừa vẽ. Ngặt một nỗi Thần không đủ hương để chia đều cho tất cả các loài hoa. Thần quyết định sẽ tặng làn hương quý báu này cho loài hoa nào có tấm lòng tốt nhất, thơm thảo nhất. Thần hỏi Hoa Hồng:

– Nếu có hương thơm thì nhà ngươi sẽ làm gì?

– Cháu sẽ nhờ chị gió mang tặng cho tất cả. – Hoa Hồng trả lời.

Thần Sắc Đẹp hài lòng, tặng ngay cho Hoa Hồng làn hương quý báu. Thần hỏi Hoa Sữa:

– Nếu có hương thơm thì nhà ngươi sẽ làm gì?

– Cháu sẽ tỏa ngát trong đêm để dù đêm tối đến đâu ai cũng nhận ra cháu. – Hoa Sữa trả lời.

Câu trả lời này không làm Thần Sắc Đẹp hài lòng lắm. Nhưng rồi Thần cũng ban tặng làn hương thơm cho Hoa Sữa. Gặp hàng Râm Bụt đỏ chót, Thần lại hỏi:

– Nếu có hương thơm thì nhà ngươi sẽ làm gì?

Hoa Râm Bụt loe cái miệng trả lời:

– Nếu có hương thơm thì ai cũng nể phục tôi. Cái đám hoa Dong Riềng kia không dám khoe sắc, đọ tài với tôi nữa.

Thần Sắc Đẹp lắc đầu, buồn rầu bỏ đi. Đi mãi, ban tặng gần hết bình hương thì Thần gặp hoa Ngọc Lan:

– Hỡi hoa Ngọc Lan bé nhỏ. Nếu ta ban cho nhà ngươi làn hương thơm còn lại kỳ diệu này thì nhà ngươi sẽ làm gì?

Hoa Ngọc Lan suy nghĩ một hồi. Thần Sắc Đẹp nhắc lại câu hỏi đến lần thứ ba hoa Ngọc Lan mới ngập ngừng trả lời:

– Cháu xin cảm ơn Thần Sắc Đẹp. Cháu thích lắm. Nhưng cháu không muốn nhận đâu.

Thần Sắc Đẹp ngạc nhiên hỏi:

– Loài hoa nào cũng muốn ta ban tặng. Tại sao nhà ngươi lại từ chối?

– Cháu muốn Thần đem phần hương này đến ban tặng cho loài Hoa Cỏ. Cháu còn được ở trên cao. Hoa Cỏ đã xấu xí lại còn bị giày xéo hàng ngày. Hoa Cỏ khổ lắm…

Nói đến đấy hoa Ngọc Lan òa khóc. Thần Sắc Đẹp vô cùng cảm động liền ban tặng cho hoa Ngọc Lan phần hương nhiều hơn các loài hoa khác.

Chính vì có tấm lòng thơm thảo mà từ đó hoa Ngọc Lan lúc nào cũng thơm ngát hương hơn hẳn các loài hoa khác.

Những truyện cổ tích thế tục rất gần gũi với đời sống thường ngày, chủ yếu nói về các sự tích ra đời, ít cao trào và mâu thuẫn cũng như dễ cảm thụ hơn. Thế giới cổ tích luôn phong phú và chứa đựng nhiều điều mới lạ mà không phải ai cũng biết.

Thảo Nguyên

Truyện Cổ Tích Thế Giới, Kho Tàng Truyện Cổ Tích Hay Nhất Trên Thế Giới

Truyện cổ tích thế giới đối với những bạn nhỏ chúng ta chính là cánh cửa mở ra cho tâm hồn các bạn một thế giới mới mẻ. Những truyện cổ tích luôn là những câu chuyện có tính giáo dục, hướng thiện giúp những thiên thần nhỏ của chúng ta tự rút ra cho mình những bài học riêng thật bổ ích. Từ đó nó sẽ có ảnh hưởng ít nhiều tới những suy nghĩ và hành động của các bạn trong cuộc sống thực tế. Bên cạnh đó, truyện cổ tích còn giúp cho các bạn nhỏ chúng ta mở rộng vốn từ ngữ, tư duy sáng tạo, cách ứng xử trong cuộc sống của mình.

Ngay từ nhỏ những truyện cổ tích thế giới cũng như truyện cổ tích Việt Nam đã giúp nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta lên. Bất kỳ ai cũng đều biết tới những nhân vật như nàng tiên cá, cô bé lọ lem, nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn… Những nhân vật cổ tích ấy đã đi vào trong mỗi giấc mơ của chúng ta mang tới cho tâm hồn chúng ta những cảm xúc trong veo, hồn nhiên khiến chúng ta sống tích cực tốt đẹp hơn. Khi còn nhỏ mỗi chúng ta  ai cũng từng say mê những câu chuyện về thế giới thần tiên kỳ ảo, về những chú lính chì dũng cảm, về cô bé lọ lem luôn vươn lên trong cuộc sống dù cô chịu nhiều cay đắng bất hạnh, nhưng rồi chính nhờ sự cần cù chăm chỉ, nhờ trái tim lương thiện đó đã giúp cho những con người luôn sống tích cực đó tìm được hạnh phúc của mình. Lòng tốt sự lương thiện của con người như một bông hoa ngào ngạt hương thơm bay ra từ nhữn trang sách thổi vào tâm hồn của những người đọc.

Danh sách truyện cổ tích thế giới hay nhất

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!