Đề Xuất 2/2023 # Những Đặc Trưng Thi Pháp Cổ Tích Trong Truyện Bánh Chưng Bánh Giầy # Top 11 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Những Đặc Trưng Thi Pháp Cổ Tích Trong Truyện Bánh Chưng Bánh Giầy # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Những Đặc Trưng Thi Pháp Cổ Tích Trong Truyện Bánh Chưng Bánh Giầy mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Vấn đề phân loại truyện dân gian nhất là trên đơn vị tác phẩm cụ thể, đang là vấn đề nhức nhối. Chỉ mới năm học 2001-2002 học sinh lớp 6 trong cả nước đang được học truyện Bánh chưng bánh giầy là cổ tích mà năm học 2002-2003 các em lại được học truyện này là một truyền thuyết. Sách giáo khoa là pháp lệnh, tại sao lại được thay đổi dễ dàng đến vậy? Phải chăng vì kiến thức thể loại truyện này của người biên soạn cũ là sai? 1, Thực trạng phân loại truyện Bánh chưng bánh giầy – Xét về nguồn gốc văn bản, sách Ngữ văn 6 ghi chú: truyện được chọ dựa theo Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập I, Nxb Văn học 1977, thế nhưng thật ra trong tài liệu này người ta lại xếp truyện Bánh chưng bánh giầy vào cổ tích, trong mục “ Truyện thần thoại, truyện cổ tích”. Như vậy là đã có một cuộc đối thoại ngầm giữa sách Ngữ văn 6 với Hợp tuyển thơ văn Việt Nam về vấn đề thể loại của truyện dân gian này. – Trong giáo trình của Đại học Tổng hợp do Đinh Gia Khánh chủ biên, truyện Bánh chưng bánh giầy được xếp vào cổ tích. – Hoàng Tiến Tựu, trong giáo trình viết cho Cao đẳng Sư phạm, lại giữ quan điểm trung dung khi xếp Bánh chưng bánh giầy vào nhóm những truyện “ rất khó xếp loại, khi thì ở ô này, khi thì đặt sang ô khác, người thì coi là cổ tích, người thì coi là truyện dân gian khác”. Vấn đề phân loại tác phẩm văn học dân gian nói chung, truyện dân gian nói riêng là vấn đề rất khó vì rằng tác giả dân gian khi sáng tạo không hề xuất phát từ những nguyên lý lý luận có trước như các tác gỉa văn học viết. Đó là chưa kể sự lưu truyền bằng miệng trong một quá trình lịch sử lâu dài cũng góp phần làm biến tướng của tác phẩm văn học dân gian theo những chiều hướng khác nhau. Những lí do trên đã tạo nên loại hình truyện dân gian những tác phẩm mang dấu hiệu của nhièu thể loại khác nhau. Trong khi đó việc xác định đúng thể loại lại hết sức cần thiết, nhất là đối với những tác phẩm được chọn giảng trong nhà trường. Trước hết không thể phủ nhận những dấu hiệu của một truyền thuyết có mặt trong truyện Bánh chưng bánh giầy. Truyện đã hướng người đọc vào một thời gian khá xác định- thời Hùng vương thứ 6. Xác định cụ thể thời gian không gian nghệ thuật là xu hướng phổ biến trong truyền thuyết vì rằng người kể truyền thuyết thường muốn cho người nghe tin vào điều được kể ra. Tuy nhiên không phải ở truyện nào có thoài gian, không gian nghệ thuật xác định thì truyện đó phải là truyền thuyết. Dựa vào những đặc trưng thi pháp nhân vật và thi pháp cốt truyện trong truyện chúng ta thấy Bánh chưng bánh giầy mang nhiều ddawcj điểm của một truyện cổ tích hơn, đến mức không thể xếp nó vào thể loại truyền thuyết được. 2, Những đặc điểm thi pháp cổ tích trong truyện Bánh chưng bánh giầy. 2.1 Đặc điểm thi pháp nhân vật Nhân vật chính và cốt truyện là những yếu tố cơ bản tạo nên một tác phẩm tự sự. Nhwn vật chính bao giờ cũng đóng vai trò trung tâm trong việc thể hiện đề tài. Chính vì vậy, dựa vào đặc điểm xây dựng nhân vật người ta cũng có thể nhận biết được thể loại truyện đó. khảo sát nhân vật chính trong truyện Bánh chưng bánh giầy chúng ta sẽ thấy rất roc hình tượng Lang Liêu mang đầy đủ những đặc điểm thi pháp nhân vật của một truyện cổ tích. – Trước hết Lang Liêu không phải là một nhân vật bán thần như các nhân vật trong truyền thuyết thời Hùng vương. Dựa vào đặc trưng xây dựng nhân vật, các nhà khoa học đã chia các truyền thuyết lịch sử thành hai bộ phận: những truyền thuyết thời kì dựng nước thuộc thế hệ các vua Hùng và các truyền thuyết thời đại giữ nước( thời phong kiến). Những người xem truyện Bánh chưng bánh giầy không phải kà truyền thuyết đã dựa vào các chi tiết như Hùng vương thứ 6 chọn người kế vị, Lang Liêu được chọn nối ngôi vua, tục giỗ chạp bằng bánh chưng bánh giầy… để xếp truyện này vào nhóm truyền thuyết lịch sử thời đại các vua Hùng. Và khi nhận xét về đặc điểm của loại truyền thuyết thời kì này họ viết: “ So với truyền thuyết thời kì đầu dựng nước, những truyền thuyết thời kì sau ít hoang đường hơn”. Nghĩa là họ thừa nhận tính chất hoang đường đậm đặc của bộ phận truyền thuyết này như một đặc điểm nhận diện quan trọng. Quả thật, các nhân vật truyền thuyết thời vua Hùng như Lạc Long Quân, Thánh Gióng đều được thần thánh hoá cao độ, bởi thế mà không phải ngẫu nhiên trước đây các nhiều nhà khoa học đã xếp nhầm các truyện này vào thần thoại. Chúng ta biết rằng truyền thuyết thời các vua Hùng đều ra đời rất sớm, khi mà thế giới quan thần linh chủ nghĩa, hệ tư tưởng chủ yếu để sinh ra thần thoại, chưa bị tan rã như các thời đại về sau. Khi đề cao các anh hùng lịch sử, thế giới quan này đã giúp tác giả dân gian thần thánh hoá họ, biến họ thành những con người có sức mạnh thần kì chứ không phải là những nhân vật lịch sử được các thần linh giúp đỡ như An Dương Vương, Lê Lợi… sau này. Tuy nhiên xem xét kĩ cũng sẽ nhận thấy nhân vật chính của thời Hùng vương khác nhân vật chính của thần thoại ở chỗ nhân vật thần thoại là thần, tức là những sức mạnh tự nhiên được hình nhân hoá trong khi nhân vật truyền thuyết thời kì này là người được thần thánh hoá. Ngày nay khi nói về đặc điểm của các nhân vật trong các thể loại truyện dân gian người ta cho rằng nhân vật chính trong truyền thuyết thời Hùng Vương là bán thần để phân biệt với nhân vật chính trong thần thoại là thần còn nhân vật chính của cổ tích là những người dưới cùng của các lực lượng xã hội. Điều mà cả soạn giả sách Ngữ văn 6 và Nguyễn Xuân Lạc đều không chú ý tới là truyện Bánh chưng bánh giầy nhân vật Lang Liêu không hề mang màu sắc thần thánh như các nhân vật truyền thuyết thời Hùng Vương. Lang Liêu chỉ được thần giúp đỡ bằng lời báo mộng chứ chàng không có sức mạnh thần thánh như Lạc Long Quân, như Thánh Gióng. Chàng hoàn toàn là người đời thường thậm chí là người dưới cùng trong tầng lớp lang. Lang Liêu trong truyện Bánh chưng bánh giầy chỉ là sự gán ghép một nhân vật cổ tích với một vị vua, một thời kì lịch sử đã ăn đậm vào trong tiềm thức của nhân dân. Hình tượng này không mang đặc điểm của một truyền thuyết mà mang đậm những đặc điểm thi pháp của một nhân vật cổ tích. – Lang Liêu thuộc mô típ nhân vật thấp hèn. Trong cổ tích chúng ta bắt gặp một loại mô típ nhân vật phổ biến, đó là nhân vật thấp hèn. Cái thấp hèn được thể hiện thông qua các nhân vật dưới cùng của xã hội hoặc có khi là của một tầng lớp. Đó là những người mồ côi, những người ở, là em út trong nhà, là anh trai cày… Lang Liêu thuộc nhân vật dưới cùng của một tầng lớp, chàng là con thứ mười tám trong số hai mươi người con của Hùng Vương thứ 6, nhưng lại là đứa con mồ côi, bị bỏ rơi phải về quê cày ruộng. Chàng rất giống các nhân vật Hoàng tử út trong các truyện cổ tích Châu Âu. Đó là người thiệt thòi hơn các Hoàng tử anh vì không được vua cha yêu dấu, nhưng lại là người đức độ hiếu thảo và nhờ vậy được thần linh giúp đỡ, được trang bị các trợ thủ thần kì và là người chiến thắng cuối cùng và được lên làm vua… Nhân vật thấp hèn trong cổ tích chính là hình ảnh tượng trưng cho thân phận của những người lao động trong xã hội cũ. – Lang Liêu thuộc mô típ nhân vật bất hạnh. Chính nhân vật thấp hèn cũng là nhân vật bất hạnh rồi, thế nhưng do tính chất cực đoan trong xây dựng nhân vật cho nên nhân vật cổ tích còn được đặt trong những hoàn cảnh éo le. Chúng ta bắt gặp trong cổ tích người Việt một Chử Đồng Tử nghèo đến mức sau khi cha chết đến khố cũng không còn đủ để che thân, một Văn Linh mồ côi mẹ bị dì ghẻ hãm hại ( truyện Người dì ghẻ ác nghiệt hay sự tích con dế – KTTCTVN) một chàng đánh cá nghèo hèn cả gia tài chỉ có một con thuyền nhỏ ( truyện Con gái thần nước mê chàng đánh cá)… chúng ta cũng gặp trong cổ tích nhiều nước Châu Âu một cô LọLem cũng bất hạnh như cô Tấm trong truyện Tấm Cám của cổ tích người Việt… Tất cả đều là những kẻ mồ côi, là người bất hạnh. Theo các chi tiết trong truyện thì Lang Liêu là người thiệt thòi nhất vì “mẹ chàng xưa kia bị vua cha ghẻ lạnh, ốm rồi chết”. Như vậy, Lang Liêu không chỉ thuộc loại dưới cùng của một tầng lớp ( Hoàng tử út) mà còn là kẻ mồ côi, kẻ bất hạnh, một mô típ phổ biến trong cổ tích nước ta và thế giới. Rõ ràng nhân vật Lang Liêu cũng được tác giả dân gian xây dựng theo mô típ phổ biến này. Lang Liêu là mô típ nhân vật nhân cách. Những nhân vật chính, chính diện trong cổ tích thường mang những nét đẹp về nhân cách. Đó là những nhân vật mang đức tính nghĩa tình, chung thuỷ, trung thực, thương người… nhưng phổ biến nhất là loại nhân vật cần cù lao động. Chính nhờ những đức tính tốt đẹp đó mà họ được các lực lượng thần kì giúp đỡ để đạt được chiến thắng cuối cùng. Chúng ta bắt gặp trong cổ tích vô cùng nhiều loại nhân vật cần cù như cô Tấm, Thạch Sanh, Sọ Dừa, anh trai cày ( cây tre trăm đốt), người em ( trong truyện Hai anh em và con chó đá), anh nông dân nghèo (trong truyện Người dân nghèo và Ngọc Hoàn Lang Liêu là người đại diện cho tình yêu lao động của tác giả dân gian. Chàng là một kẻ mồ côi, một thân phận bất hạnh, nhưng cũng là một nhân cách đẹp, “ suốt ngày chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, rồng khoai”. Hình tượng Lang Liêu chính là hình ảnh người nông dân một nắng hai sương, nhưng cũng chính là người làm ra của cải nuôi sống muôn người. – Lang Liêu là mô típ nhân vật đổi đời. Lang Liêu đang từ một người bị ghẻ lạnh phải về sống nghèo khổ nơi thôn dã bỗng được chọn làm người kế vị vua. Đây là loại nhân vật chính phổ biến trong những truyện cổ tích kết thúc có hậu, một kết thúc dựa trên ước mơ của người lao động. Sự đổi đời trong loại cổ tích này thường là nhân vật được hưởng hạnh phúc tuyệt đỉnh: có nhiều vàng bac châu báu, được làm vua, làm hoàng hậu, làm phò mã… Trong loại truyện này tác giả dân gian muốn chững minh triết lý “Ở hiền gặp lành” và cái hạnh phúc mà nhân vật chính- chính diện được hưởng dù có quá đi bởi ước mơ của họ thì cũng có phần xứng đáng với công sức lao động mà nhân vật đã thực hiện từ đầu truyện. Chính vì lý do này các nhân vật đổi đời bao giờ cũng mang những nhân cách cực đoan tức là rất tốt để xứng đáng với phần thưởng to lớn mà họ được hưởng. Thật ra với kiểu nhân vật đổi đời tác giả dân gian đã thực hiện cái hẳn nhiên dù chưa khả nhiên trong xã hội bất công. Rõ ràng loại nhân vật thân phận, nhân vật nhân cách, nhân vật đổi đời… như Lang Liêu, như người em ( trong truyện Cây Khế), anh trai cày đi ở ( trong truyện Cây tre trăm đốt), cô Tấm và chàng Thạch Sanh mồ côi ( trong truyện Tấm Cám và truyện Thạch Sanh), vua Heo ( trong truyện Vua Heo)… là những môtíp thường gặp trong cổ tích. Những loại truyện này là những cổ tích nhằm ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người lao động chứ không hề hướng tới một vấn đề lịch sử trọng đại như truyền thuyết. Hơn thế nữa, nhân vật cổ tích là những nhân cách đời thường, đấu tranh vì những quyền lợi đời thường, của mỗi cá nhân, cho nên dẫu có được lên làm vua như Thạch Sanh thì cũng chỉ để thoả mãn khát vọng đổi đời của một con người đại diện cho một tầng lớp chứ không hề thay đổi vận mệnh của cả cộng đồng như nhân vật truyền thuyết. Truyền thuyết, nhất là truyền thuyết thời đại các vua Hùng, không xây dựng nhân vật kiểu này, nhân vật của nó có khẩ năng ảnh hưởng đến vận mệnh của cả một cộng đồng. Tóm lại chỉ mới xét đặc trưng thi pháp của nhân vật chính trong truyện chúng ta đã thấy việc xếp truyện Bánh chưng bánh giầy vào truyền thuyết thời đại các vua Hùng là không hợp lý. Nhân vật chính của truyền thuyết không phải là những mẫu người đời thường như thế mà chủ yếu là các anh hùng lịch sử và đối với người nghe truyền thuyết, đó là những “bậc tôn ti”( chữ của Bakhtin). Truyền thuyết bao giờ cũng đề cập đến những sự kiện đã xảy ra, chức năng của nó là đánh giá các nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử với cảm hứng chủ đạo là ngợi ca

Sự Tích Bánh Chưng Bánh Giầy – Wikisource Tiếng Việt

Bánh chưng là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Bánh giầy (có người viết là bánh dầy hay thậm chí bánh dày ) là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Bánh thường được làm bằng xôi đã được giã thật mịn, có thể có nhân đậu xanh và sợi dừa với vị ngọt hoặc mặn. — Trích dẫn từ Bánh chưng của Wikipedia , bách khoa toàn thư mở. — Trích dẫn từ Bánh giầy của Wikipedia , bách khoa toàn thư mở.

Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con.

Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: “Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho”.

Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng.

Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu[1] có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào.

Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: “Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành”

Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Giầy[2]. Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái.

Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Giầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Giầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18.

Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Giầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất.

Đặc Điểm Thi Pháp Truyện Cổ Tích

I. ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CHUNG CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN CỔ TÍCH

1.1. Định nghĩa truyện cổ tích

1.2. Phân loại truyện cổ tích

1.3. Đặc điểm thi pháp chung của truyện cổ tích – thế giới cổ tích

II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KÌ

2.1. Nhân vật chính của truyện cổ tích thần kì

2.2. Xung đột trong truyện cổ tích thần kì

2.3. Kết cấu của truyện cổ tích thần kì.

2.4. Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích thần kì.

2.5. Những công thức cố định trong truyện cổ tích

III. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT

1. Nhân vật chính của truyện cổ tích sinh hoạt

5. Thực tại và hư cấu trong truyện cổ tích sinh hoạt

IV. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH VỀ LOÀI VẬT

2. Xung đột trong truyện cổ tích về loài vật

3. Kết cấu của truyện cổ tích về loài vật

4. Thực tại và hư cấu trong truyện cổ tích về loài vật

5. Những công thức cố định trong lời kể của truyện cổ tích về loài vật

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP SỬ THI ANH HÙNG

5.2 Không gian, thời gian

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CHUNG CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN CỔ TÍCH 1.1. Định nghĩa truyện cổ tích

Truyện cổ tích là loại truyện xuất hiện từ rất xưa, chủ yếu do các tầng lớp bình dân sáng tác, trong đó óc tưởng tượng (bao gồm cả huyễn tưởng) chiếm phần quan trọng.

Có thể có yếu tố hoang đường, kì diệu hoặc không, truyện cổ tích trình bày – với một phong cách thường kết hợp hiện thực với lãng mạn – cuộc sống với những con người trong những tương quan của xã hội có giai cấp (quan hệ địa chủ với nông dân, quan lại với nhân dân; quan hệ gia đình, quan hệ thầy trò,…). Khái quát hiện thực xã hội, truyện cổ tích trình bày con người với tư cách “tổng hòa những quan hệ xã hội”. Nhưng yếu tố lãng mạn phản ánh nguyện vọng, ước mơ của nhân dân – là ở chỗ tác giả không chỉ trình bày cái hiện có mà còn trình bày cái chưa có và cái có thể có. Chính do sự kết hợp hai yếu tố đó trong việc phản ánh hiện thực mà dáng dấp thường thấy của truyện cổ tích là sự trình bày cuộc sống trong trạng thái động của nó, phù hợp với quy luật phát triển nội tại của nó, và phù hợp với nguyện vọng và yêu cầu của nhân dân về cuộc sống đó.

1.2. Phân loại truyện cổ tích

Trong hệ thống phân loại VHDG, truyện cổ tích thường được xác định là một thể loại. Đây là một thể loại lớn gồm ba tiểu loại: truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích về loài vật, truyện cổ tích sinh hoạt (hoặc truyện cổ tích thế sự).

1.3. Đặc điểm thi pháp chung của truyện cổ tích – thế giới cổ tích

Thế giới cổ tích là một sáng tạo độc đáo của trí tưởng tượng dân gian. Ta đều biết là “trong mỗi truyện cổ tích đều có những yếu tố của thực tế”. Nhưng “những yếu tố của thực tế” ấy đã được trí tưởng tượng dân gian cải biến thành một thứ vật liệu, đem nhào nặn trong một chất “phụ gia” đặc biệt gọi là hư cấu (hay “hư cấu kì ảo”), để xây dựng nên một thế giới khác với thế giới thực tại, mà ta gọi bằng “thế giới truyện cổ tích”. Thế giới ấy – dù là ở truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích về loài vật hay truyện cổ tích sinh hoạt – là thế giới không có thực. Các nhà khoa học có thể dựa vào dân tộc học và các khoa học tương cận, quy nó về một thực tại xã hội nào đó, xác định những phương diện nào đó của thực tế, của sinh hoạt đã làm nảy sinh những cốt truyện, những mẫu đề (môtip) ấy, hoặc đã được phản ánh trong những câu chuyện kì lạ ấy. Họ có thể phát hiện và giải mã những hồi ức câm lặng về những thời quá khứ xa xưa hàm chứa trong thế giới ấy. Nhưng điều hấp dẫn người nghe truyện cổ tích, điều có ý nghĩa đối với họ chủ yếu là ở chính cái thế giới cổ tích ấy, chứ không phải ở chỗ thế giới ấy phản ánh thực tế nào.

II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KÌ 2.1. Nhân vật chính của truyện cổ tích thần kì 2.1.1. Truyện cổ tích thần kì (cũng như truyện cổ tích về loài vật, truyện cổ tích sinh hoạt) chỉ có một số kiểu nhân vật chính nhất định. Đó là:

– Người em út (Lang Liêu trong Sự tích bánh chưng, bánh giầy, người em trong Hai anh em và Cây khế,…),

– Người con riêng (Tấm trong Tấm Cám, cậu bé trong Sự tích chim đa đa,…),

– Người mồ côi (Chử Đồng Tử trong truyện Chử Đồng Tử, Thạch Sanh trong truyện Thạch Sanh,…),

– Người mang lốt vật (Sọ Dừa trong truyện Sọ Dừa, Cóc trong Lấy vợ cóc,…),

– Người đi ở (anh trai cày trong Cây tre trăm đốt, cô gái đi ở trong Sự tích con khỉ,…),

– Người dũng sĩ (Thạch Sanh – người mồ côi cũng là dũng sĩ diệt chằn tinh và đại bàng, Chàng Hai trong truyện Giết thuồng luồng,…),

– Nhóm người có tài lạ (Ba chàng thiện nghệ, Bốn anh tài, Anh em sinh năm,…).

Mỗi nhân vật trong số những nhân vật trên là tên gọi chung của những nhân vật đồng dạng – những nhân vật có những nét tương đồng căn bản về tính cách, hành động và số phận và thường xuất hiện trong những truyện cổ tích thần kì có cốt truyện đại thể giống nhau. Người ta gọi là kiểu nhân vật.

2.1.2. Phân loại nhân vật chính:

Một số nhà nghiên cứu theo quan điểm xã hội học phân loại nhân vật chính trong truyện cổ tích thần kì theo nguồn gốc xuất thân. Theo tiêu chuẩn này thì nhân vật này được phân thành hai loại:

Tuy nhiên, cách phân loại này không hoàn toàn thích hợp với tư liệu truyện cổ tích Việt Nam. Trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam không có sự phân biệt rõ nét hai loại nhân vật “cao quý” và “thấp hèn”. Ngoài ra, còn phải kể đến hiện tượng nhiều nhân vật “thấp hèn” được gán cho nguồn gốc “cao quý” hoặc có sự ra đời thần kỳ. Đó là trường hợp của Thạch Sanh trong truyện cùng tên.

Còn có một cách phân loại khác, chia những kiểu nhân vật cổ tích ra làm hai loại:

Cách phân loại này có nhiều giá trị ứng dụng hơn so với cách phân loại nói trên.

2.2. Xung đột trong truyện cổ tích thần kì 2.2.1. Truyện cổ tích thần kì nổi lên hai loại xung đột: xung đột xã hội và xung đột giữa ccon người với những trở lực của thiên nhiên.

– Nếu vấn đề quan hệ của con người với thiên nhiên là đề tài chính của thần thoại và sử thi thì xung đột xã hội là đề tài chính của truyện cổ tích.

– Đề tài về sự xung đột của con người với những trở lực của thiên nhiên trong truyện cổ tích thần kì có thể coi là sự tiếp nối hợp quy luật đề tài về cuộc đấu tranh của con người nhằm tìm hiểu và chế ngự những sức mạnh tự nhiên trong thần thoại và sử thi.

– Hai xung đột: xung đột xã hội và xung đột của con người với thiên nhiên làm nảy sinh một số truyện kết hợp cả hai đề tài ấy. (Truyện Thạch Sanh với hai tình tiết Thạch Sanh- Chằn Tinh, Đại Bàng và Thạch Sanh- Lí Thông, là một ví dụ tiêu biểu).

2.2.2. Khác với truyện cổ tích sinh hoạt và truyện cổ tích về loài vật, xung đột trong truyện cổ tích thần kì luôn luôn được giải quyết nhờ sự can thiệp của các lực lượng thần kì. Nhân vật chính ít nhiều có tính chất thụ động.

Lực lượng thần kì trong truyện cổ tích gắn với tín ngưỡng. Trong truyện cổ tích thần kì của người Việt, lực lượng thần kì bao gồm: những nhân vật thần kì (Thần, Bụt, Tiên,…); những vật có phép màu ( cung tên thần, gươm thần, đàn thần, bút thần, sách ước,…); sự biến hóa siêu tự nhiên ( người hóa thành vật, vật hóa thành người, vật náy hóa thành vật khác, người thế này hóa thành người thế khác,…)…

Lực lượng thần kì cũng có thể chia thành hai loại: lực lượng thần kì trợ thủ của nhân vật chính ( phía thiện chính nghĩa) và lực lượng thần kì đối thủ của nhân vật chính hay đối thủ thần kì (phía ác, phi nghĩa).

2.3. Kết cấu của truyện cổ tích thần kì. 2.3.1. Truyện cổ tích thường được xây dựng theo một số sơ đồ chung nhất định. Cơ sở để xác lập sơ đồ kết cấu truyện cổ tích là những hành động của nhân vật chính. Có thể phác thảo sơ đồ kết cấu của truyện cổ tích thần kì dân tộc Việt như sau: I. Phần đầu: nhân vật chính xuất hiện.

– Mô típ a: sự xuất thân thấp hèn ( loại nhân vật bất hạnh)

– Mô típ b: sự ra đời thần kì ( loại nhân vật kì tài )

II. Phần giữa: cuộc phiêu lưu của nhân vật chính trong ” thế giới cổ tích”.

-Mô típ a: rời nhà đi nơi xa.

– Mô típ b: bước vào tình huống, hoàn cảnh khác thường.

2. Gặp thử thách, lực lượng thù địch.

– Mô típ a: gặp nhiều (thường là ba ) thử thách, địch thủ.

– Mô típ b: gặp một thử thách, địch thủ.

3. Chiến thắng thử thách, lực lượng thù địch.

– Mô típ a: nhờ trợ thủ thần kì.

– Mô típ b: bằng tài trí, lòng tốt.

III. Phần kết: Đổi đời hay là sự thay đổi số phận trong “thế giới cổ tích”.

Qua phác đồ trên, có thể thấy một vài nét riêng của kết cấu truyện cổ tích thần kì của người Việt, so với kết cấu của truyện cổ tích thần kì của các dân tộc khác. Đồng thời cũng nhận rõ hơn những nét chung của kết cấu truyện cổ tích thần kì của các dân tộc như: tính chất trọn vẹn của câu chuyện kể về số phận, cuộc đời nhân vật chính; tính chất phiêu lưu của cuộc đời nhân vật chính, vai trò không thể thiếu của yếu tố thần kì,…

Bình diện thứ nhất là nói về cuộc đời nhân vật chính. Từ hành động đầu tiên của nhân vật chính cho đến chiến thắng và cuộc kết hôn của nó, nhiều sự kiện đã diễn ra; nhân vật đã qua những không gian rộng lớn, từ xứ sở này đến xứ sở khác, đến tận nơi cuối đất cùng trời thậm chí xuống cõi âm, xuống thủy phủ, lên cõi tiên,…nhưng thời gian, với nó, như ngưng đọng – nó không già đi, không thay đổi.

Những lực lượng thù địch của nhân vật chính và những trợ thủ của nó sông trên bình diện không gian – thời gian khác. Ở đây, thời gian trôi chậm rãi đối với nhân vật chính nhưng mau lẹ đối với những yêu quái, ma ác, quỷ thần và những trợ thủ thần kì. Con đường nhân vật đi từ vương quốc của yêu quái đến thế giới người xa lắc xa lơ. Nhưng yêu quía truy đuổi nhân vật chính cũng đuổi kịp rất nhanh. Mâu thuẫn về không gian – thời gian ấy được “điều chỉnh” bởi những trợ thủ thần kì, bởi vì những vai này cũng sống trong cùng thời gian như lực lượng thù địch của nhân vật chính. Hư cấu nảy sinh từ đầu mối ấy.

2.4.2. Thời gian truyện cổ tích gắn với tri giác về tiết tấu câu chuyện kể. Hệ thống trùng lặp (tức là sự nhắc lại từ, câu, đẳng âm) là chỉ báo về tính “một hồi” hay “nhiều hồi” của chuỗi hành động. Chính chúng tạo ra tiết tấu của thời gian truyện cổ tích.

2.4.3. Như vậy, thời gian của truyện cổ tích là dòng chảy của chuỗi hành động của nhân vật chính – nó chậm chạp hay gấp gáp là do động thái của nhân vật chính; bình diện không gian – thời gian trực tiếp liên hệ đến nhân vật chính, do đó, được coi là chủ thể; tất cả phục vụ cho việc khắc họa cuộc đời nhân vật chính.

2.5. Những công thức cố định trong truyện cổ tích

Có ba loại công thức cố định trong truyện cổ tích: những công thức mở đầu, những công thức kết thúc và những công thức trần thuật.

Mỗi dân tộc đều có một vài kiểu công thức mở đầu dùng chung cho những câu chuyện cổ tích của mình. Truyện của người Việt thường mở đầu bằng công thức “Ngày xửa ngày xưa, ở một làng kia, có một,…”. Truyện các dân tộc thiểu số anh em mở đầu bằng những công thức như “Ngày xưa, vào cái thời chim chích nuốt con sóc, con sóc nuốt con cầy…có một…” (Thái); “Ngày xưa, lúc chiếc bánh giầy còn biết thổi kèn, đánh trống, người Hmông còn chưa biết may quần áo, chưa có vàng bạc, chưa có nhẫn đeo tay…” (Hmông);…Những công thức ấy đều có chung một đặc điểm hình thức, biểu thị tính chất đặc biệt cổ xưa, ám chỉ tính chất “dường như có thể có” của câu chuyện kể.

Chức năng cơ bản của công thức mở đầu là đưa người nghe từ dòng thời gian của cuộc đời hàng ngày vào thời gian của câu chuyện kể, tách rời sinh hoạt hiện tại và, sau đó, như theo một phép màu, nhập thân vào “thế giới cổ tích”.

2.5.2. Công thức kết thúc 2.5.3. Những công thức trần thuật

III. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT

1. Nhân vật chính của truyện cổ tích sinh hoạt

a) Nhân vật chính trong truyện cổ tích khá đa dạng:

– Nhân vật xấu xa: đứa con bất hiếu (Đứa con trời đánh,…), người vợ, người chồng bất nghĩa (Đồng tiền Vạn Lịch,…), người bạn bất lương (Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông,…), kẻ lừa đảo để lấy vợ giàu (Dì phải thằng chết trôi, tôi phải đôi sấu sành,…).

– Nhân vật mưu trí (trí xảo): (Trạng Quỳnh, Nói dối như Cuội, Em bé thông minh, Phân xử tài tình,…)

– Nhân vật khờ khạo (ngốc): (Đặt lờ trên ngọn cây, Thằng chồng khờ, Chàng ngốc được kiện, Trạng Lợn,…)

b) Các kiểu nhân vật của truyện cổ tích gồm hai cặp nhân vật đối nghịch: cặp nhân vật của truyện cổ tích sinh hoạt gồm hai cặp nhân vật đối nghịch: cặp nhân vật đức hạnh và nhân vật xấu xa, cặp nhân vật mưu trí và nhân vật khờ khạo.

– Một là, trong truyện cổ tích chỉ có một nhân vật chính hoặc không bao giờ có hai nhân vật chính đối lập nhau. Cho nên, mỗi cặp nhân vật đối nghịch nói trên không bao giờ xuất hiện trong cùng một truyện vì cả hai đều là nhân vật chính của truyện cổ tích sinh hoạt .

– Hai là, cần hiểu khái niệm “nhân vật tích cực”, “nhân vật tiêu cực”của truyện cổ tích sinh hoạt theo quy ước của đề tài.

+ Đối với nhóm truyện về đề tài đạo đức: “nhân vật tích cực”, “nhân vật tiêu cực” được xác định bằng tiêu chuẩn đạo đức. Ví dụ: trong truyện “Người ăn mía và người chủ vườn”, cả hai nhân vật: người ăn mía và người chủ vườn đều là nhân vật tích cực; trong truyện Đứa con trời đánh thì nhân vật “tiếc gà chôn mẹ” là nhân vật tiêu cực.

+ Đối với nhóm truyện về đề tài trí khôn, “nhân vật tích cực”, “nhân vật tiêu cực” được xác định theo tiêu chuẩn trí khôn. Ví dụ: Trạng Quỳnh trong truyện “Trạng Quỳnh”, Cuội trong truyện “Nói dối như Cuội”,…là những nhân vật mưu trí, trí xảo, do đó đều là “nhân vật tích cực”. Cũng theo quan niệm trên, “nhân vật tiêu cực” của những truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài trí khôn là nhân vật khờ khạo. Dù nó không có biểu hiện xấu xa về mặt đạo đức nhưng vì do nó ngốc và do ngốc nghếch mà luôn gặp thất bại nên nó được coi là “nhân vật tiêu cực”.

2. Xung đột trong truyện cổ tích sinh hoạt

a) Truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt tập trung khai thác hai đề tài lớn: đề tài đạo đức (nhân vật trung tâm là nhân vật đức hạnh và nhân vật xấu xa) và đề tài trí khôn (nhân vật trung tâm là nhân vật mưu trí và nhân vật khờ khạo)

– Những truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài đạo đức thường chỉ đơn giản là những câu chuyện kể mang tính chất minh họa về những tấm gương kiểu mẫu về phẩm hạnh (hiếu, đễ, tiết, nghĩa,…) hoặc những “tấm gương phản diện” cùng loại. Ở những câu chuyện “đơn tuyến”, hầu như không có xung đột này, vấn đề đạo đức được đặt ra một cách đơn giản, trực diện và ý nghĩa của truyện cũng chỉ giới hạn ở sự giáo dục đạo đức ấy thôi.

– Những truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài trí khôn, xung đột là xung đột xã hội. Nói đúng hơn, đó là những câu chuyện kể về cuộc tả xung hữu đột của nhân vật mưu trí với đám cường hào, qaun lại, thậm chí với ca vua chúa, cả thần thánh va cả sứ của “thiên triều”.

Thuộc nhóm truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài trí khôn còn có những truyện được gọi bằng cái tên chung là “Phân xử tài tình”. Những truyện này được nhân dân các dân tộc ưa thích, trước hết vì xung đột trong truyện tuy chỉ thuộc loại xung đột giữa ngay và gian trong đời thường nhưng là xung đột ở ngay đỉnh điểm, căng thẳng. Vì thế, nó đáp ứng nhu cầu thông thường của những con người bình thường khát khao một chút ly kỳ để tạm quên đi sự tẻ nhạt của đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, nguồn gốc sâu xa của sức hấp dẫn của những truyện “Phân xử tài tình” là ở cách giải quyết những xung đột giữa ngay và gian, giữa người vô tội và kẻ có tội ấy. Trong những ước mơ đã dệt nên truyện cổ tích, có ước mơ tưởng như giản dị hơn cả nhưng, thật ra, là lãng mạn bậc nhất – đó là ước mơ của người dân thường về một nền công lý sáng suốt, công bằng.

b) Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy: xung đột làm nền cho truyện cổ tích sinh hoạt vẫn là xung đột xã hội. Xung đột xã hội trong truyện cổ tích sinh hoạt nhìn chung, đã vượt ra ngoài khuôn khổ của những quan hệ gia đình. Ví dụ: cuộc tả xung hữu đột của Trạng Quỳnh ngay giữa xã hội lớp trên rõ ràng là một biểu hiện sinh động của cuộc đấu tranh của nhân dân chống ách chuyên chế phong kiến.

3. Kết cấu của truyện cổ tích sinh hoạt

Truyện cổ tích sinh hoạt không được xây dựng theo một hoặc một vài sơ đồ kết cấu chung nào. Câu chuyện kể của truyện cổ tích sinh hoạt thường linh động, vì những môtip xã hội và sinh hoạt được dùng làm cơ sở của nó có tính không bền vững. Tuy vậy, về đại thể, người ta vẫn có thể phân biệt hai kiểu kết cấu khác nhau của tiểu loại truyện cổ tích này.

– Kiểu kết cấu “kể sự việc” là kiểu kết cấu được sử dụng rộng rãi trong nhóm truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài đạo đức.

+ Kiểu kết cấu này hết sức đơn giản, tuy cũng kể về một số phận con người nhưng nhân vật thì không có diện mạo, cuộc đời thì chỉ kết ở một sự việc và trong sự việc ấy hầu như không có xung đột trực diện (Ví dụ: “Mài dao dạy vợ, Giết chó khuyên chồng, Cờ gian bạc lận, Đứa con trời đánh,…)

+ Kiểu kết cấu “kể sự việc” cũng được sử dụng phổ biến ở những truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài “Phân xử tài tình”. Những truyện này cũng chỉ kể việc, không tả người; thậm chí, nhân vật chính cũng không có số phận dù chỉ là một nét phác đơn sơ (nhưng rành rõ) như ở những truyện kể về “Gương thế sự”. Cố nhiên, nếu tính cách nhân vật cổ tích thể hiện chủ yếu qua hành động (nói chặt chẽ hơn là: chỉ thể hiện qua hành động), thì chính sự việc được kể đã vẽ ra tính cách của nó.

– Kiểu kết cấu “xâu chuỗi”: là kiểu kết cấu tiêu biểu của những truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài trí khôn, đặc biệt là nhóm truyện “Trạng”. Đó là những câu chuyện kể về những cuộc phiêu lưu của nhân vật mưu trí và những câu chuyện kể về những cuộc phiêu lưu của nhân vật khờ khạo. Cuộc phiêu lưu của nhân vật mưu trí thì chủ động, tuy đầy ngẫu hứng. Ngược lại, cuộc phiêu lưu của nhân vật khờ khạo thì chỉ là nhắm mắt, đưa chân. Kết quả thành, bại của họ thì người nghe đều biết trước; nhưng thành bại ra sao thì hoàn toàn bất ngờ không ai đoán được. Nhân vật mưu trí và nhân vật khờ khạo của truyện cổ tích sinh hoạt đi phiêu lưu không phải trong “thế giới kì ảo” mà trong một thế giới hết sức gần gũi với thế giới thực tại quanh ta. Nhưng tất nhiên, đó cũng vẫn là “thế giới cổ tích”.

Truyện cổ tích sinh hoạt phiêu lưu, đặc biệt là những truyện kể về nhân vật mưu trí, thường nhiều tình tiết và có dung lượng lớn. Mỗi tình tiết kể về một sự kiện, một cuộc phiêu lưu “nhỏ” kết thành một truyện nhiều “chương hồi” kể về cuộc phiêu lưu “lớn” của nhân vật đóng vai chính xuyên suốt câu chuyện. (Ví dụ: Chuỗi truyện “Ông Ó” gồm khoảng 30 mẫu truyện; chuỗi truyện “Trạng Quỳnh” gồm khoảng 40 mẫu truyện; chuỗi truyện “Trạng Lợn” gồm khoảng 20 mẫu truyện.)

Như vậy, “Xâu chuỗi” là một biện pháp nghệ thuật kết cấu nằm khắc họa rõ nét thêm tính cách nhân vật, nâng cao “tầm vóc” của tính cách ấy

4. Không gian và thời gian nghệ thuật của truyện cổ tích sinh hoạt

Không gian và thời gian “cổ tích” trong truyện cổ tích sinh hoạt rất gần gũi với người kể và người nghe truyện. Bối cảnh sinh hoạt của câu chuyện kể quen thuộc với họ: khung cảnh nông thôn và gia đình nông dân; những chuyện áp bức bóc lột và đời sống xã hội trong làng xã; kẻ buôn bán và chuyện lừa đảo; người học trò và chuyện thi cử; chốn cửa quan và chuyện kiện tụng;…điều này cho phép họ đặt mình vào địa vị nhân vật. Câu chuyện như xảy ra không xa, mà cũng chưa lâu, trong cuộc đời hàng ngày.

5. Thực tại và hư cấu trong truyện cổ tích sinh hoạt

– Ở truyện cổ tích sinh hoạt, hư cấu không mang tính chất hư cấu kì ảo như ở truyện cổ tích thần kì. Một vài truyện sử dụng yếu tố kì dị nhằm thể hiện tư tưởng quả báo, thiên mệnh (“Đứa con trời đánh”, “Chum vàng bắt được”,…) đều khó tránh khỏi vẻ gượng gạo, vì những chi tiết biến hóa siêu nhiên này không có sự hài hòa với bối cảnh sinh hoạt. Hư cấu trong truyện cổ tích sinh hoạt thường được xây dựng trên sự miêu tả phi lí: Câu chuyện kể cho đến một lúc nào đó, hoàn toàn giống như thật; tính hiện thực của nó thậm chí, còn được tô đậm thêm bởi những chi tiết miêu tả cụ thể; nhưng tính chất phi lí bộc lộ khi có sự miêu tả phóng đại một nét tính cách nào đó của nhân vật (thường là ở loại nhân vật “tiêu cực”) hoặc một tình huống khác thường. Tính chất gây cười của nhiều truyện cổ tích sinh hoạt bắt nguồn từ chỗ đó.

IV. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH VỀ LOÀI VẬT

Phần lớn nhân vật chính trong truyện cổ tích về loài vật của người Việt (Kinh) là những con vật nuôi hoặc sống gần gũi với con người.

2. Xung đột trong truyện cổ tích về loài vật

– Truyện cổ tích về loài vật phản ánh cuộc đáu tranh của người thời cổ nhằm tìm hiểu, chi phối, chinh phục các lực lượng tự nhiên. Về mặt này, có lẽ những truyện giải thích nguồn gốc những đặc điểm riêng của một số con vật là tiêu biểu và thú vị hơn cả (Con Cóc là cậu ông trời, Chuột và Mèo, Mọt và tò vò, Tại sao trâu không biết nói, Tại sao dơi ăn muỗi,…). Xung đột giữa con người với loài vật cũng được thể hiện gián tiếp qua môtip gọi là “dư âm của cái thời con người bắt thú về nuôi làm gia súc”.

Tuy nhiên, căn cứ vào những tư liệu hiện có, có thể nói, truyện cổ tích nói chung cũng như truyện cổ tích về loài vật nói riêng không đề cập xung đột trực tiếp giữa con người với loài vật. Dấu vết của xung đột ấy thể hiện ở những môtip rất cổ gắn với tín ngưỡng tôtem (Vật tổ) (như sự sợ hãi tôtem, sự sùng bái tôtem,…) đã trở nên hết sức mờ nhạt hoặc đã bị hiểu lại.

– Xung đột giữa con người với loài vật trong truyện cổ tích về loài vật, với thời gian đã chuyển hóa thành sự xung đột sinh hoạt- xã hội hoặc lồng vào xung đột sinh hoạt – xã hội. Truyện cổ tích về loài vật, theo đặc tính của nó, có khuynh hướng tiếp cận truyện cổ tích sinh hoạt. Trên hướng này, truyện cổ tích về loài vật phân hóa ra hai mảng: truyện cổ tích về loài vật dành cho trẻ em và truyện cổ tích về loài vật dùng cho người lớn. truyện cổ tích về loài vật dành cho trẻ em cũng đã đề cập đến cả những vấn đề xã hội và đạo đức nhưng ở tầm mức mà trẻ em có thể hiểu được. Nếu được kể cho người lớn thường mang ý nghĩa sâu xa về mặt xã hội; các con vật trong truyện được gán những tính cách người và “xã hội loài vật”, trong đó gợi nghĩ đến những qaun hệ xã hội giữa người và người (Kiến, Ong chọi với Cóc, Con Công và làng chim, Cóc và Cá,…)

3. Kết cấu của truyện cổ tích về loài vật

-Hình thức kết cấu phổ biến hơn cả của truyện cổ tích về loài vật là hình thức “truyện kể ngắn – đối thoại”. Với kết cấu này, câu chuyện thường mang dáng dấp một hành động kịch. Độ dài thời gian của hành động thường được biểu thị bằng hệ thống trùng lặp.

– Về mặt kết cấu cũng có thể phân biệt những truyện đơn tình tiết (Thằn lằn trộm chân, Chim Chìa Vôi,…), đa tình tiết (Con Cóc là cậu ông trời gồm: 1/Tình tiết kết đoàn của cóc với ong vò vẽ, Gà và cọp trên đường lên trời, 2/ Tình tiết giao đấu (đấu lực, đấu lí) của Cóc và các “chiến hữu” với trời và quân tướng nhà trời; Con thỏ chài cá gồm: 1/ tình tiết Thỏ rủ heo rừng, nai, trâu rừng, cọp, voi đi chài cá với mình, 2/ Tình tiết Thỏ và năm con vật kia cùng chài cá và lần lượt phơi sấy cá, lần lượt đối phó với Ó đến ăn cá, 3/ Tình tiết thỏ “chia cá” cho năm con vật,…) và những truyện được cấu tạo theo chuỗi (chuỗi truyện về chú Thỏ tinh khôn)

– Không phải tất cả truyện cổ tích về loài vật đều kết thúc có hậu như truyện cổ tích thần kì. Tuy nhiên, những truyện không có kết thúc có hậu không hề có âm điệu bi kịch.

– truyện cổ tích về loài vật có khả năng ngụ ý tiềm tàng. Đây là khả năng tự nhiên của những truyện kể về loài vật. Khả năng này nếu được khai thác một cách có chủ ý sẽ đem lại cho truyện cổ tích về loài vật những ngụ ý xã hội sâu xa, những ý nghĩa giáo huấn rõ ràng. Về mặt kết cấu, dụng ý này biểu hiện ở cách kết thúc câu chuyện kể bằng một bài học, được biểu đạt súc tích bằng một câu nói cô đúc, một câu tục ngữ hoặc một câu vần, vè, đại loại như: “Thành tự đó, Rùa phải đội đá đội đồng, Khốn khổ cái thân” (Rùa đội bia).

4. thực tại và hư cấu trong truyện cổ tích về loài vật

– Với truyện cổ tích về loài vật, hư cấu nảy sinh từ sự thống nhất các mặt đối lập của thế giới người và thế giới loài vật là một không gian, một môi trường. Đó là một thế giới đặc biệt, “quái đản”, không phải thế giới người mà cũng không giống thế giới loài vật – thế giới của những quan niệm thực tế lẫn lộn, trong đó cái không đáng tin có thể được coi là đáng tin. Hư cấu cũng tạo ra sự gần gũi nhau của những hiện tượng loại trừ lẫn nhau: những con vật nói năng phải trò truyện phải tranh cãi với nhau; con Chào mào muốn lấy con chim xanh, Con gà con vịt đi kiện con chim Khách,…

– Nhìn chung, truyện cổ tích về loài vật vẫn giữ được đôi nét về môi trường sinh thái tự nhiên của các con vật trong truyện. Chẳng hạn, truyện kể về con Cóc thì có khung cảnh, đầm, vũng, ao, chuôm,…truyện kể về con Cua, con Cáy thì có bờ sông, bãi bến; truyện kể về con chim sẻ, con tu hú thì con chim sẻ có tổ ở cái lỗ hỏng đòn tay nhà, con tu hú không biết làm tổ thì đậu ngọn tre, cây gạo,…

5. Những công thức cố định trong lời kể của truyện cổ tích về loài vật

Lời kể dân gian của truyện cổ tích về loài vật thường sử dụng một số công thức truyền thống. Đó là những công thức cố định có dạng một câu nói khái quát, một câu tục ngữ hoặc một câu ca vè nhằm rút ra một lời giáo huấn, một ý nghĩa xã hội từ câu chuyện kể hoặc nêu ra một dấu vết xưa còn lại.

Cùng với truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích về loài vật được đánh giá là một pho bách khoa sư phạm dân gian. Về mặt nghệ thuật sư phạm, nét đặc sắc nổi bật của nó là ở tính trực quan sinh động, không cần đến những giáo điều khô khan, cao đạo mà vẫn đạt mục đích.

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP SỬ THI ANH HÙNG

– Sử thi thần thoại kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài, sự hình thành các dân tộc và các vùng cư trú cổ đại của họ, sự xuất hiện nền văn minh buổi đầu.

– Sử thi anh hùng kể về cuộc đời và sự nghiệp của các tù trưởng anh hùng. Sử thi anh hùng thường gồm ba đề tài chính: lấy vợ, đánh giặc (chiến tranh) và làm lụng. Trong đó đề tài đánh giặc là đề tài quan trọng hơn cả, là đề tài trung tâm của sử thi anh hùng và thu hút các sự kiện thuộc hai loại đề tài kia. Làm lụng là tiền đề của đánh giặc, lấy vợ là mục tiêu gắn với đánh giặc. Đề tài này có một số kiểu chính:

+ Kiểu đề tài chiến tranh giành lại vợ: Tiêu biểu cho loại này là sử thi Đăm Săn, cốt truyện diễn tiến như sau: Đăm Săn lấy Hơ Nhí, Hơ Bhí – Đăm Săn đánh Mtao Grứ giành lại vợ – Đăm Săn đi làm rẫy – Đăm Săn đánh Mtao Ak giành lại vợ – Đăm Săn đánh Mtao Kuắt giành lại vợ – Đăm Săn đánh Mtao Êa giành lại vợ – Đăm Săn đi lấy nữ thần Mặt trời – Đăm Săn chết, Đăm Săn cháu thay cậu – Kết thúc.

+ Kiểu đề tài chiến tranh đòi nợ và trả thù: Tiêu biểu cho loại này là sử thi Xing Nhã, cốt truyện diễn tiến như sau: Xing Nhã ra đời – Giarơ Bú giết bố Xing Nhã và bắt mẹ chàng làm nô lệ – Xing Nhã gặp nàng Bơra Tang – Bơra Tang nói cho Xing Nhã biết thù xưa, Xing Nhã chuẩn bị trả thù – Gỗn bắt hồn Xing Nhã và cho uống thuốc thần -Xing Nhã đến làng Giara Bú, gặp mẹ và nàng Hbia Blao – Xing Nhã đánh nhau với anh em Giara Bú, kẻ thù bị giết – Kết thúc: Xing Nhã lấy nàng Hbia Blao, Xing Mưn lấy Bơra Tang. Xing Nhã dựng nhà mả cho bố và tổ chức ăn uống linh đình.

+ Ngoài ra còn kiểu đề tài hỗn hợp, vừa có chiến tranh giành lại vợ, vừa có chiến tranh đòi nợ và trả thù: Điển hình cho kiểu này là sử thi Mhiêng: Tiểu phẩm 1: Mhiêng mồ côi trở nên giàu có – Mhiêng cướp Hbia Ling Bang – Mhiêng đánh Mtao Grứ giành lại Hbia Ling Bang – Mhiêng đánh Mtao Ak giành lại vợ -Mhiêng đánh Mtao Mxây giành lại vợ, bị Mtao giết. Tiểu phẩm 2: Prah Đam, cháu Mhiêng ra đời-Prah Đam đánh Mtao Mxây để trả thù-Kết thúc: Prah Đam chiến thắng, cứu sống Mhiêng, tổ chức cho Mhiêng và Hbia Ling Bang cưới nhau lại lần hai rất linh đình.

3. Cở sở ra đời của sử thi anh hùng

Đầu tiên, sử thi anh hùng ra đời dựa trên cơ sở xã hội. Thực tế xã hộithời cổ là xã hội của những cuộc chiến tranh diễn ra quyết liệt, liên miên, dai dẳng giữa các buôn làng, bộ tộc. Trong bối cảnh lịch sử xã hội như thế đòi hỏi phải có một con người hội đủ những tài năng và bản lĩnh phi thường để cùng dân làng, bộ tộc chống lại kẻ thù, bảo vệ cuộc sống của cộng đồng.

Những chuyển biến lớn trong xã hội dẫn đến sự manh nha giai cấp, xuất hiện tầng lớp giàu có, tập trung trong tay một số khá lớn của cải. Cuộc sống êm đềm, hài hòa trong cộng đồng dần dần rạn nứt, báo hiệu sự tan vỡ vì những mâu thuẫn sâu sắc về quyền lợi, dân đến những tranh chấp gay gắt, thậm chí đổ máu giữa các tù trưởng (Đăm Săn, Xinh Nhã,…), giữa kẻ giàu với người nghèo (sử thi Y Ban)

Thêm vào đó là sự vận động, chuyển biến lớn của xã hội đi từ công xã mẫu hệ dần dần phát triển lên thành xã hội cộng đồng rộng lớn. Cụ thể đó là sự vùng lên của lớp người mới chống lại và muốn thoát khỏi sự ràng buộc của những tục lệ của chế độ mẫu hệ và từ đó mà chuyển quyền quản lí gia đình, xã hội từ người đàn bà sang người đàn ông.

Từ trong cuộc sống và trong cuộc đấu tranh xã hội, nhiều khi gay gắt nảy lửa vang động buôn làng ấy nổi lên hình ảnh những con người kiệt xuất, những chàng trai tài ba như Đăm Săn, Xinh Nhã…, những cô gái đảm đang, nhan sắc như Hơ Nhí, Hbia Sun,…Họ tiêu biểu cho sức lức và toàn bộ tài năng ý chí và trí tuệ của toàn bộ cộng đồng. Những con người ấy vừa là kết tinh sức mạnh của tập thể vừa là biểu tượng cho lý tưởng thẩm mĩ và đạo đức của thời đại.

4. Bản chất của sử thi anh hùng

Mặt khác, tinh thần dũng cảm tuyệt vời, những chiến công vang dội của các nhân vật anh hùng cùng với cảnh sống sung túc rộn tiếng chiêng ngân của buôn làng, đó là những nét đặc trưng nói lên khát vọng mãnh liệt và tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức cao quý của nhân dân. Những phẩm chất đó là những lí tưởng thẩm mĩ của thời đại. Lí tưởng thẩm mĩ của thời đại thể hiện tập trung ở lí tưởng thẩm mĩ của các nghệ nhân kể sử thi, chi phối toàn bộ toàn bộ phương pháp và phong cách sáng tạo nghệ thuật của họ trong sử thi anh hùng.

5. Thi pháp sử thi anh hùng

5.1.1 Nhân vật trung tâm: Đó chính là những nhân vật anh hùng

– Nhân vật anh hùng là nhân vật đại diện cho lý tưởng cộng đồng.

+ Nhân vật anh hùng trước hết là nhân vật phải đẹp cả hình dáng bên ngoài lẫn phẩm chất bên trong. Tiêu biểu hơn cả là nhân vật Đăm Săn

. Ngoại hình Đăm Săn được miêu tả như sau: “… lông mi cong, mặt mũi đỏ hồng như có men rượu nồng“. Vẻ tinh anh, nhanh nhẹn của Đăm Săn được ví: ” mắt đen như mắt rắn, long lanh như mắt cá trê, giận dữ như đôi mắt rắn đang ấp trong hang“. Sức mạnh của người anh hùng trong chiến trận được ví như âm thanh của thiên nhiên, vũ trụ: ” Đăm Săn múa khiên ở phía tây, gió xoáy về phía đông, múa ở phía nam, gió xoáy về phía bắc làm nghiêng ngả cây đa, cây sung “. Đăm Săn là nhân vật anh hùng bách chiến bách thắng. Trong các trận đánh nhau với các tù trưởng ở trần gian đến các lần xung trận đọ sức với thần linh chàng đều chiến thắng.

. Đời sống tinh thần: luôn có sự đấu tranh giữa việc bắt buộc phải làm nhiệm vụ với không chịu làm nhiệm vụ của người chồng theo tục lệ truyền thống đã quy định; giữa chịu an phận sống với vợ theo nếp đã định sẵn với việc “mở ra con đường theo ý muốn”.

– Nhân vật anh hùng phải luôn hành động. Nên họ phải luôn hành động vì quyền lợi và mục đích của cộng đồng. Vai trò và công việc bắt buộc và thôi thúc họ hành động đã đành, mà tự bản thân họ cũng tiềm tàng sẵn nhu cầu hành động rất cao trong mọi trường hợp, mọi điều kiện.

– Nhân vật anh hùng là nhân vật trung tâm trong chiến trận. Nhân vật anh hùng phải có khả năng chiến đấu với mọi kẻ thù. Khi đánh nhau với con voi dữ nhất của anh em Giarơ Bú, Xinh Nhã đã thể hiện một sức mạnh vô song ” Hai chân giẫm chặt vòi nó, con voi bỗng đứng in như cục đá. Chàng giằng mạnh đôi ngà của nó tuột khỏi miệng, con voi rống lên nghe rùng rợn núi đồi, ngã quỵ xuống“.Còn Đăm Noi thì đánh nhau với Drang Hạ – Drang Hơm ” có sức mạnh hơn thần, đánh núi, núi lở, đánh đá, đá vở, đánh nước nước cạn “.

+ Khái quát hóa: Họ là nhân vật tiêu biểu cho lý tưởng cộng đồng. Mọi suy nghĩ và hành động của họ đều hướng đến mục đích xác lập và khẳng định một thế quyền mạnh mẽ cho cộng đồng. Các nhân vật anh hùng luôn là người đi đầu trong mọi hoạt động khác nhau để duy trì và phát triển đời sống cộng đồng. Họ phải chiến đấu để bảo vệ hoặc chiếm đoạt thêm đất đai, tài sản, làm giàu cho dân cư. Họ hướng dẫn mọi người khai phá những vùng đất mới để mở rộng địa bàn canh tác. Họ bao giờ cũng đi đầu trong quá trình tổ chức sản xuất, săn bắn hoặc trao đổi sản phẩm làm cho cộng đồng ngày thêm giàu mạnh. Họ là những con người toàn diện vì ở lĩnh vực nào họ cũng tài giỏi. Dũng cảm trong chiến đấu, táo bạo trong khám phá, mềm mỏng trong trao đổi, hài hòa trong mọi quan hệ…, họ là hiện thân của sự kết tinh mọi phẩm chất ưu tú của cộng đồng, thời đại.

+ Một số cũng có sức khỏe và vẻ đẹp không kém gì nhân vật anh hùng. Họ cũng rất gan dạ, dũng cảm trong chiến đấu. Như nhân vật Pơrong Mưng trong Xing Nhã,…

Tuy không phải là nhân vật chính trong sử thi anh hùng nhưng nhân vật nữ tài sắc có vai trò quan trọng trong sự phát triển cốt truyện. Họ thường là vợ hoặc chị em của nhân vật anh hùng. Họ xuất thân từ những gia đình giàu có hoặc rất có thế lực. Họ là những cô gái đẹp, tài năng, chăm chỉ, giàu sang, nắm quyền quyết định kinh tế và quyền lực trong gia đình. Chị em Hơ Nhí, Hơ Bhí, trong mắt Đăm Săn: ” rất xinh đẹp … Đôi mắt hai nàng lóng lánh như ánh sao đêm…”. Hai chị em có tài thêu dệt hơn người, tấm vải họ dệt: ” phía trên thêu hình con rắn prao dú đang bò, phía dưới thêu hình con rắn prao hô cuộn, phái dưới cùn thêu hình con chim gõ kiến, ở trên thêu hình con rắn cạp nong, hình con trâu, con bò béo mập“. ” Hơ Nhí, Hơ Bhí ngày cũng như đêm, bàn tay chăm chỉ kéo sợi xe chỉ, đánh bông, cây kprư không rời trên đùi, câu msa không rời chân. Khung dệt không rời khỏi hông “.

Người đàn ông lý tưởng của họ là những chàng trai tài giỏi, người anh hùng, và họ góp phần làm cho người anh hùng trở nên có quyền lực và giàu sang. Chị em Hơ Nhí, Hơ Bhí quyết lấy cho bằng được Đăm Săn và khi Đăm Săn lấy họ thì chàng trở thành một tù trưởng giàu mạnh.

Họ là nguyên nhân của các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc vì phần lớn các cuộc chiến tranh giữa các tù trưởng đều nhằm mục đích cướp người đẹp và giành lấy người đẹp bị cướp. Đăm Săn sáu lần đi đánh với các tù trưởng khác đều là vì muốn cứu Hơ Nhí.

Thần là nhân vật phụ nhưng có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển cốt truyện. Trong sử thi anh hùng, nhân vật thần có ảnh hưởng chi phối đến cuộc sống con người nhưng không đóng vai trò quyết định. Vị thần xuất hiện xuyên suốt trong các tác phẩm sử thi là ông già Gỗn (ông Trời). Vị thần này không được miêu tả kĩ nhưng đây là nhân vật thần có ảnh hưởng đến cuộc sống và đường đời nhân vật anh hùng. Ông thường xuất hiện và can thiệp khi người anh hùng gặp nguy hiểm, khó khăn, trở ngại. Đó là điều kiện giúp người anh hùng thực hiện lý tưởng xã hội. Đăm Săn không chịu lấy HNhí, ông Gỗn phải can thiệp, tác động để Đăm Săn lấy nàng. Đăm Săn đánh nhau với Mtao Mxây mãi không chiến thắng được, ông Gỗn bày cho cách lấy chày giã gạo ném vào tai Mxây, quả nhiên Mxây bị giết. Xing Nhã bị voi của Prong Mưng kẹp trong đôi ngà sắp chết thì ông Gỗn ném thuốc tiên xuống tiếp sức cho Xing Nhã có đủ sức mạnh bẻ hai chiếc ngà của voi.

Ông Gỗn đóng vai trò là nhân vật trợ giúp như ông Tiên, ông Bụt trong truyện cổ tích chứ không chi phối và can thiệp quá mức như các vị thần trong sử thi Hômerơ hoặc sử thi Ấn Độ. Thậm chí có khi ông Gỗn phải chịu nhượng bộ yêu sách của người anh hùng. Chẳng hạn, Đăm Săn một lần lên trời yêu cầu ông Gỗn phải cứu sống HNhí và HBhí, lần khác đòi hạt giống. Càng về sau, các sử thi “Đăm Đroăn, Đăm Di”, vai trò con người quyết định.

Người anh hùng thường không lẻ loi, đơn độc vì bên cạnh luôn có một tập thể đông đảo. Họ thường được gọi một cách tượng trưng là: bà con, họ, đám đông, các con, các tôi tớ hay theo số lượng: hàng nghìn hàng vạn người,…

Hình ảnh cả cộng đồng người tham gia chiến tranh: ” Tới hàng rào, họ phát một lối đi vào. Tiếng nhạc càng kêu dòn khuyến khích họ xông vào. Tiếng chiêng giục giã họ đi theo người tù trưởng oai hùng…”.Cũng như hình ảnh cả một tập thể đông đảo cùng người anh hùng tham gia lao động: ” Mười người chữa xà ngang, năm người uốn xà dọc, một trăm người khác chữa lại sạp tre …”, thể hiện một cách sinh động tính chất toàn dân của sử thi anh hùng. Đồng thời những hình ảnh đó thể hiện khá sâu sắc mối quan hệ hài hòa, gắn bó giữa các nhân vật anh hùng với cả tập thể cộng đồng mà họ sống và hoạt động.

5.2 Không gian, thời gian

+ Không gian thiên nhiên là núi non, sông ngòi, cây cỏ, chim chóc, thú vật, sản vật.

+ Không gian xã hội là bản làng, sinh hoạt lao động sản xuất và chiến đấu.

– Đặc biệt, nói đến không gian trong sử thi anh hùng là nói đến không gian chiến trận, hoành tráng. Đó là không gian của các cuộc chiến tranh bảo vệ cộng đồng hay trừng phạt và chinh phục các công xã thù địch. Những trận chiến ấy diễn ra trên quy mô rộng lớn từ việc đánh nhau trên mặt đất, ở dưới mặt đất đến đánh nhau với kẻ thù ở trên trời.

– Thời gian tuyến tính: thời gian trong sử thi thường là thời gian của cuộc đời nhân vật anh hùng. Nó kéo dài từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Thời gian bắt đầu bằng sự ra đời của nhân vật, quá trình trưởng thành, chiến đấu chống kẻ thù, chiến thắng kẻ thù và sống hạnh phúc (hoặc chết đi và nối tiếp bằng thế hệ con cháu).

– Trước hết ngôn ngữ sử thi anh hùng là ngôn ngữ giàu hình ảnh.

+ Khi khắc họa các nhân vật: Tả về vẻ đẹp con người nhưng khi tả chàng trai thì: ” chàng là một tù trưởng trẻ, có cái lưng to như một tảng đá, gió thổi chàng không ngã, bão xô chàng không đổ. Chàng có một đôi bắp chân nhẵn và dẻo như mây song mây pông, có một cặp mắtnằm dưới đôi lông mày hình lưỡi mác. Đôi mắt đó sáng rực như đã uống cạn hết một chum rượu, làm lu mờ đi ánh nắng mặt trời sắp dạo qua nương…Giọng nói của chàng cất lên nghe như sấm giật đằng đông, chớp giật đằng tây…”. Còn khi mô tả cô gái thì: ” Búi tóc trứng chim của nàng bỏ xoã sau chiếc cổ cao, màu tóc đen ánh như đôi mắt của một con diều, lóng lánh như chỉ khua…Mắt nàng là chớp nắng buổi ban mai. Đôi chân nàng lườn lượn như đi trên cỏ … ”

+ Khi mô tả những cảnh lớn như cảnh sinh hoạt rộn rịp của buôn làng, cảnh hội hè đông vui với tiếng chiêng ngân không ngớt. : ” Trâu bò nhi nhúc như bầy mối bầy kiến. Đường từ bên trái qua bên phải rộng đến nỗi hai người đứng hai bên đường,một người giơ thẳng tay lên một cái lao và một người thẳng tay giơ lên một con dao dài cũng chưa chạm nhau.Dấu chân ngựa voi trên đường giống như một sợi dây đánh”.

+ Dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh để vật thể hóa âm thanh, tạo cho người đọc và người nghe có cảm giác như nhìn thấy âm thanh đang “hoạt động”, tác động đến mọi vật. ” Đánh lên! Cho tiếng chiêng lan ra khắp xứ. Đánh lên! Cho tiếng chiêng lòn qua sàn nhà xuống dưới đất. Đánh cho tiếng chiêng vượt mái nhà, vang lên đến tận trời. Đánh cho khỉ quên ôm chặt cành cây,…Cho hươu nai ngừng nghe quên ăn cỏ “. Ngôn ngữ hình ảnh được sử dụng đắc địa, dường như tạo nên một thứ ma thuật nào đó khiến cho các cảm quan trong con người có sự giao lưu hài hòa, nhạy bén lạ thường.

+ Các biện pháp phóng đại, so sánh, trùng điệp, điệp ngữ trong ngôn ngữ hình tượng tạo nên một vẻ đẹp, một phong cách riêng của sử thi anh hùng: đó là phong cách lãng mạn hào hùng đầy sức hấp dẫn. Nhìn chung thủ pháp phóng đại trong sử thi là cách nói cường điệu, gây ấn tượng rất mạnh. Khi Đăm Săn đi cứu vợ về, nghe tiếng lục lạc ngựa: ” chó sủa ầm ĩ, làm đất động nhà rung, nước chứa trong nồi bảy, nồi ba bắn lên đến tận cây xà dọc, xà ngang”. Còn tiếng cười của người đẹp thì “con tê giác rớt sừng, con voi rớt ngà“. Nhất là tiếng chiêng, thủ pháp phóng đại ở đây như có ma lực: ” Nghe tiếng chiêng quạ quên mớm mồi cho con nhỏ, thỏ chồn quên ăn cỏ, ma quỷ quên việc hạ người, chuột sóc quên ăn lúa bắp,…”. Một số phóng đại trong sử thi gần với tư duy thần thoại: ” Trên bầu trời, ở đám mây đen, ai ai cũng thấy Mdrong Dăm lướt đi lướt lại như con thoi, người ta nhìn thấy Mdrong Dăm lấp la lấp lánh như các vì sao “. Lối phóng đại kiểu này tạo nên vóc dáng kì vĩ của nhân vật anh hùng sử thi.

Đây là lối tả trùng điệp, điệp ngữ : ” Hãy đánh lên các chiêng có âm vang, những chiêng có tiếng đồng, tiếng bạc! Hãy đánh lên tất cả cho ở dưới vỡ toác các cây đòn ngạch, cho ở trên gãy nát các cây xà ngang…”, “Thế là bà con xem, nhà Đăm Săn đông nghẹt khách, tôi tớ chật ních cả nhà ngoài…Bà con xem, chàng Đăm Săn uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán…Rõ ràng là tù trưởng Đăm Săn đang giàu lên, chiêng lắm la nhiều. Rõ ràng là Đăm Săn có chiêng đống, voi bầy, có bè bạn như nêm như xếp…”.

– Ngôn ngữ giàu nhạc điệu. Dùng cách nói có vần điệu, tạo âm hưởng hài hòa, nhịp nhàng trong hình tượng. Dùng kết cấu đối xứng, tạo nên sự hài hòa, nhịp nhàng trong hình tượng.

+ Cảnh lao động: ” Một trăm người vạch luống – Hai ngàn người moi lỗ “.

+ Cảnh đánh nhau ác liệt nơi chiến trường: ” Một lần xốc tới, một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô. Chàng chạy vun vút qua phí đông, vun vút qua phía tây. Còn Mtao Mxây thì bước cao bước thấp chạy hết bãi tây sang bãi đông “…

Cách diễn đạt ngôn từ đó tạo nên một hiệu quả đặc biệt rõ ràng: đó là âm hưởng uyển chuyển, nhịp nhàng của một bản nhạc và kết cấu chặt chẽ của một mạch văn xuyên suốt bản sử thi.

Sự hài hòa và nhịp nhàng ở những vế, những câu, những hình tượng như vậy được phát triển thành những điệp khúc mà ta thường gặp trong các sử thi. Những điệp khúc đó tạo nên khuôn mẫu tương đối bền vững, tạo thuận lợi cho việc diễn xướng và dễ tạo nên khung cảnh trùng điệp trong các sử thi anh hùng. Cách nói theo kết cấu đối xứng nhịp nhàng là một biện pháp được các nghệ nhân dân gian sử dụng có tính chất phổ biến, là quy luật chi phối sự cấu tạo vần điệu, cấu tạo các vế trong câu, các câu và các đoạn câu cùng với các hình tượng được xây dựng.

– Ngôn ngữ mang tính kịch

+ Đối lập trong ngôn ngữ đối thoại:

+ Mô tả ngoại hình nhân vật: ” Mtao Mxây là một tù trưởng giàu mạnh. Gông cùm, tù binh trật cả làng. Lông chân dầy như đắp lên một lớp. Lông mày sắc như đá mài. Con mắt sáng ngời như đã uống hết một chung rượu, đến nỗi một con trâu lớn cũng không dám đi qua“. Trước mắt chúng ta rõ ràng đây là chân dung của một con người hung bạo tàn ác, trông có vẻ dữ tợn, ghê sợ. Còn Đăm Săn thì lại được mô tả như sau: ” Nó không biết Đăm Săn à? Nó không biết tù trưởng dầu đội khăn kép và vai mang túi da. Nó không biết Đăm Săn có danh tiếng đến tận thần linh sông núi, không có một tướng nào mà không biết đến Đăm Săn. Nó không biết rằng Đăm Săn đây không có ai bì kịp …”. Rõ ràng đây là hình ảnh một con người có tư thế đàng hoàng, lẫm liệt, có uy danh lừng lẫy khắp nơi, đối lập hẳn với hình ảnh một con người mạnh khỏe nhưng hung ác.

+ Dựng lên tình thế tương phản gây nên tình huống kịch khá sinh động, làm nổi lên những tính cách khác nhau của các nhân vật.

Đoạn đối thoại ngắn gọn này làm nổi rõ hai tính cách khác nhau: một đằng là một kẻ tỏ ra nhút nhát lo sợ. Còn một bên là một con người có tư thế hiên ngang, đầy vẻ khí khái.

+ Ngôn ngữ diễn xướng sinh động của người kể: lời kể bình thường, lời hát lên bỗng xuống trầm, điệu bộ, sắc thái diễn cảm,…

Những Đặc Điểm Của Thi Pháp Truyện Cười

1. Hiện tượng buồn cười, cái cười và truyện cười Hiện tượng buồn cười là hiện tượng về bề ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường, nhưng về thực chất thì trái tự nhiên, trái lẽ thường (hoặc khác hẳn lẽ thường).

Ví dụ 1: Bà cho cháu bé đi ngủ. Một lúc, bà hỏi cháu: – Cháu ngủ chưa? Cháu trả lời: – Cháu ngủ rồi!

Câu trả lời của cháu bé, về bề ngoài, có vẻ hợp tự nhiên, bà hỏi cháu – cháu trả lời, bà hỏi ” ngủ chưa?” – cháu trả lời ” ngủ rồi!”. Nhưng chính câu trả lời “Cháu ngủ rồi!” đã bộc lộ thực chất trái tự nhiên của nó: đã “ngủ rồi” sao còn trả lời được? Đó là hiện tượng buồn cười.

Cậu bé chọn cái kẹo hình con trai, chắc hẳn vì cậu thích con trai hơn con gái – thoạt nghe cậu đáp, có lẽ ai cũng nghĩ như thế, theo thường lệ. Nhưng, ở đây có một chi tiết khiến ta phải nghĩ lại: cậu bé là dân Gabrôvô và cậu đã lựa chọn (giữa kẹo hình con trai và kẹo hình con gái) “sau một giây suy nghĩ”. Thì ra cậu ta chọn hình con trai vì hình con trai hơn được một mẩu…Sô-cô-la so với hình con gái – và đây mới là “thực chất của vấn đề”! Đó là hiện tượng buồn cười.

Từ những ví dụ trên ta thấy, tuy sự nảy sinh cái cười diễn ra cực nhanh, nhưng ta vẫn có thể dễ nhận ra diễn tiến của nó đại khái như sau:

-Thoạt tiên, ta bị bề ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường của hiện tượng (buồn cười) ” đánh lừa” và ta lầm tưởng nó là như thế.

– Ngay sau đó (hoặc thậm chí, gần như cùng lúc đó), ta phát hiện ra thực chất trái tự nhiên, trái lẽ thường của hiện tượng đó.

– Và ta bật cười.

Định nghĩa về cái cười như sau: Cái cười là hành động cười nảy sinh khi tự ta phát hiện ra thực chất trái tự nhiên, trái (hoặc khác hẳn) lẽ thường dưới bề ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường, đã khiến ta thoạt tiên tưởng lầm của một hiện tượng.

Như vậy cái cười là sản phẩm của hoạt động trí óc, mà cụ thể là của óc suy lý – chính tư duy suy lý, tư duy lôgic phát hiện ra thực chất trái tự nhiên, trái (hoặc khác hẳn) lẽ thường của hiện tượng mà bề ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường thoạt tiên đã đánh lừa nó.

Hành vi buồn cười, xét chung, có thể chia làm hai loại:

– Những lầm lỡ thường tình mà ai cũng có thể mắc.

– Những khuyết tật về thể chất (như thiểu năng về trí lực. cận thị, câm, điếc)

-Những tính tình hoặc thói tật riêng của một lứa tuổi, một nghề nghiệp hay cả một cộng đồng.

– Những thói xấu “thông thường” của bất cứ ai (như tham ăn, sĩ diện, khoe khoang, mê tín)

– Những thói xấu, những tính cách xấu thuộcvềbản chất của một số loại người, đặc biệt là của tầng lớp thống trị trong xã hội cũ (như hà tiện, nịnh hót, hãnh tiến…)

Một người bố 50 tuổi có cậu con đã 30 tuổi nhưng lười, không biết nghe gì làm ăn, chỉ nhờ vào bố. Một hôm, ông thầy tướng coi tướng cho cậu, ta bảo: – Bố tôi chết trước hai năm. Thế thì hai năm ấy ông bảo ai nuôi tôi mà tôi chẳng khóc?

2. Những đặc điểm thi pháp của truyện cười dân gian

Truyện cười là thể loại truyện kể ngắn gọn bậc nhất – dài cũng thường chỉ đến 15 – 20 câu, ngắn thì 5 – 7 câu, trung bình khoảng trên dưới 10 câu. Tuy ngắn nhưng cũng là cả một câu chuyện có mở đầu, có diễn biến, có kết thúc. Và cũng có nhân vậtlại phần lớn là nhân vật ” có nét”, gây được ấn tượng. Toàn bộ các yếu tố của thi pháp truyện cười như kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ…đều phục vụ mục đích gây cười.

2.1 Nhân vật của truyện cười

2.1.1 Đặc điểm chung của nhân vật truyện cười

Nhân vật (chính) của truyện cười khác nhân vật (chính) của truyện cổ tích:

Nhân vật của truyện cổ tích có cả một cuộc đời, một số phận, nhân vật của truyện cười không có bề dày như thế – nó chỉ xuất hiện trong một tình huống nhất định.

2.1.2 Nhân vật của truyện hài hước và nhân vật của truyện châm biếm

Nhân vật của truyện cười cũng được phân thành hai loại: nhân vật của truyện hài hước và nhân vật của truyện châm biếm. Nhân vật của truyện hài hước là đối tượng của cái cười hài hước, nhân vật của truyện châm biếm là đối tượng của cái cười châm biếm.

Xét chung, nhân vật của truyện hài hước và nhân vật của truyện châm biếm đều được đặtvào cùng một loại tình huống – đó là tình huống sinh hoạt đời thường. Chỗ khác nhau của hai loại nhân vật này là ở tính chất của hành vi ứng xử của chúng.

Sau khi nghe chuyện người Gabrôvô cho đồng hồ ngừng chạy ban đêm để đỡ mòn máy móc, một người Xcốtlen ở thành phố Abơđin tuyên bố: Phương pháp ấy tốt thật đấy. Nhưng làm sao để biết được giờ giấc? Tôi có một người hàng xóm cứ cất một cái kèn dưới giường nằm. Đêm, nếu muốn biết mấy giờ, anh ta chỉ việc mở cửa sổ ra và thổi kèn lên. Tức thì, trăm lần như một, anh ta sẽ được nghe một tiếng giận dữ: “Cái thằng đần độn nào lại đi thổi kèn vào lúc mười hai giờ hai mươi này!”

2.1.3 Nhân vật chính và nhân vật phụ trong truyện cười

Nhân vật phụ là đối tượng của cái cười hài hước, còn nhân vật chính là đối tượng của cái cười châm biếm. Đây là trường hợp trong truyện có cả hai loại nhân vật : nhân vật – đối tượng của cái cười hài hước (nhân vật phụ ) và nhânvật – đối tượng của cái cười châm biếm (nhân vật chính), trong đó nhân vật – đối tượng của cái cười hài hước có chức năng là lộ ra cái đáng cười tiềm ẩn nơi hành vi của nhân vật chính, biến nó thành nhân vật đối tượng của cái cười châm biếm.

Sư cụ ăn vụng thịt cầy ở trong phòng. Chú tiểu biết, hỏi: Lúc ấy, có tiếng chó sủa ầm ĩ ngoài cổng chùa. Sư cụ hỏi: – Bạch cụ, đậu phụ làng cắn đậu phụ chùa đấy ạ!

2.2. Xung đột trong truyện cười

2.2.1 Đặc điểm của xung đột trong truyện cười

Trong truyện cười, xung đột có nội dung và hình thức biểu hiện khác : xung đột trong truyện cười là xung đột giữa cái thật và cái giả, giữa “sự thật và điều dối trá”, và xung đột này biểu hiện ở mâu thuẫn ngay trong hành vi (buồn cười) của nhân vật. “Cái giả”, “điều dối trá” là cái hình thức bên ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường của hành vi ( buồn cười) của nhân vật và “cái thật”, “sự thật” là cái nội dung bên trong trái tự nhiên, trái lẽ thường của hành vi ấy. Ta có thể hình dung biểu hiện và diễn hóa của xung đột trong truyện cười như sau:

Cái giả và cái thật cùng tồn tại trong hành vi của nhân vật: cái giả là hình thức bên ngoài che đậy cái thật, cái thật là nội dung bên trong ẩn dưới cái giả.

Qua trung gian của cái cười thật và cái giả được phân biệt cùng lộ rõ.

Có anh tính hay khoe của, một hôm may được cái áo mới, liền đem ra mặc, rồi đứng hóng ở cửa đợi có ai đi qua người ta khen. Đứng mãi từ sáng đến chiều chả thấy ai hỏi cả, anh ta tức lắm. Đang tức tối, chợt thấy một anh, tính cũng hay khoe của, tất tưởi chạy đến hỏi to: Anh kia liền giơ ngay vạt áo ra bảo:

2.2.2 Cơ sở xã hội của xung đột trong truyện cười

Người ta thường tìm hiểu cơ sở xã hội của xung đột trong một thể loại văn học dân gian ở thời kỳ nở rộ của nó, bởi vì đây là thời kỳ mà không những chức năng đặc thù của thể loại mà cả những đặc trưng của mối quan hệ thẩm mỹ của nó đối với hiện thực, cả phương pháp lịch sử đặc thù của nó…đều biểu lộ rõ ràng, trọn vẹn.

2.3 Kết cấu của truyện cười

2.3.1 Đặc điểm của kết truyện cười

Cái cười, như ta đã biết, đòi hỏi hai điều kiện: 1 – có hiện tượng buồn cười (điều kiện cần), 2 – người cười phải tự mình nhận ra cái đáng cười (điều kiện đủ). Thiếu điều kiện thứ nhất thì, tất nhiên, không thể có cái cười. Nhưng, thiếu điều kiện thứ hai thì cũng không có cái cười. (Chẳng thế mà cùng nghe kể một truyện cười, có người cười trước, có người cười sau, (có khi về đến nhà mới thấy… buồn cười!, có người thậm chí không cười được).

Do đó, mấu chốt của nghệ thuật gây cười la ở chỗ phải làm sao cho cái đáng cười tự nó bộc lộ ra một cách cụ thể, sống động và thật tức cười để người nghe / người đọc (truyện) tự mình phát hiện ra nó mà cười.

2.3.2 Vai trò của yếu tố bất ngờ trong kết cấu truyện cười

Thứ nhất, đó là yếu tố bất ngờ trong diễn biến câu chuyện, yếu tố bất ngờ thuộc về tình huống trong đó diễn ra cái đáng cười.

Thứ hai, đó là yếu tố bất ngờ của hành vi nhân vật (lời nói, cử chỉ, hành động bất ngờ). Vì hành vi buồn cười là một hiện tượng có mâu thuẫn trong đó mặt có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường ở bên ngoài thì quen thuộc với người ta, còn mặt trái tự nhiên, trái lẽ thường ở bên trong thì người ta không thể lường được, do đó thường bất ngờ với người ta.Như vậy, có thể nói đây là yếu tố bất ngờ thuộc về bản chất của cái đáng cười.

Một chị lấy phải anh chồng tham ăn, hễ ngồi vào mâm là chúi mũi gắp lấy, gắp để, không nghĩ đến ai cả. Chị ta rất lấy làm xấu hổ, đã nhiều lần khuyên chồng ăn uống phải từ tốn, nhưng anh chồng vẫn khônh chừa được thói xấu ấy. Một hôm, nhà bố vợ có giỗ, hai vợ chồng đưa nhau đi ăn cỗ. Vợ sợ chồng ăn uống thô lỗ thì xấu mặt với chị em, liền nghĩ ra một cách: chị ta lấy một sợi dây, một đầu buộc vào chân chồng, còn đầu kia thì chị ta cầm lấy và dặn chồng: Quả nhiên, lúc ngồi vào mâm, mọi người đều thấy anh này ăn uống từ tốn, lịch sự. Chị vợ ở dưới bếp vừa làm vừa giật dây. Đôi lúc mải làm, quên không giật, anh chồng cứ phải ngồi ngây ra nhìn món ăn mà nhỏ dãi. Bố vợ phải gắp thức ăn cho.

2.3.3 Một số thủ pháp gây cười quen dùng

Thằng nhỏ que Trúc Ố vào ông ngoại ăn cỗ. Bế nó trên lòng, ông hỏi cháu: Rồi nó khoe ông con châu chấu nó đang cầm trên tay: Con châu chấu này, ông dội nước sôi vào, nó chín đỏ ra, cháu chỉ lấy cái cỏ thông vào đít, nó lại sống lại, bay đi liền.

Đặc tả hành vi buồn cười bằng cử chỉ, tư thế, lời nói nhân vật. Cử chỉ, tư thế hành động của nhân vật ở điểm mở nút luôn luôn có tính chất kỳ quặc, trái tự nhiên nhưng lại được cắt nghĩa là hợp lý bằng một lý lẽ có vẻ phù hợp, tuy rất dở hơi.

-Yếu tố tục trong truyện cười

Yếu tố ” tục” trong truyện cười mang ý nghĩa có phần khác yếu tố “tục” trong câu đố. Trong câu đố, yếu tố “tục” thiên về miêu tả và cái “tục” là một trong những hướng liên tưởng, nó là sản phẩm của thứ cảm quan phát sinh từ bản năng và đối với câu đố nó không đơn thuần là một “phương tiện nghệ thuật”. Trong truyện cười, kể cả những truyện “tiếu lâm” tục tĩu, cái “tục” không phải là đối tượng miêu tả và cũng không phải là một hướng liên tưởng, nó chỉ được sử dụng đơn thuần như một phương tiện để gây cười, và, có thể nói, nó chỉ là một phương tiện gây cười dễ dãi. Phải thừa nhận là nghe / đọc những truyện cười có yếu tố “tục”, người ta luôn bật cười dễ dàng mà không cần động não. Cái cười dí dỏm, hóm hỉnh, sâu sắc, do đó thường không dung nạp yếu tố “tục”. Hạn chế của yếu tố ” tục” như là một phương tiện gây cười chủ yếu là ở đấy.

Trong các thể loại truyện dân gian ( bằng văn xuôi), truyện cười là thể loại mà những bản kể có sau so với những bản kể có trước, kể cả bản kể được ghi chép đầu tiên, ít có sự thêm bớt hoặc sửa đổi hơn cả: người ta không thể sửa đổi được cốt truyện của truyện cười (khác với các thể loại truyền thuyết, truyện cổ tích,… truyện cười hầu như không có dị bản), không thể thêm bớt các chi tiết (với truyện cười, thừa chi tiết thì truyện sẽ loãng, nhạt, còn thiếu chi tiết thì cái cười sẽ gượng gạo), và cũng khó thay đổi lời văn kể chuyện (trong khi đó, ở truyền thuyết và truyện cổ tích lời văn kể chuyện phần lớn là lời văn của người biên soạn, người kể lại). Sở dĩ lời văn kể chuyện của truyện cười, xét chung, ít có khả năng bị thay đổi là vì nó đã đạt tới tính chất vừa cô đúc vừa giản dị trên cơ sở tính chất ổn định của cốt truyện và các chi tiết.

Do đặc điểm của kết cấu truyện cười (kết cấu có dáng dấp một màn kịch), đối thoại ( bao gồm cả độc thoại) đóng vai trò quan trọng trong lời văn kể chuyện. Có thể hình dung lời văn kể chuyện gồm hai phần : phần đối thoại là “tiêu điểm” của hành động và diễn hóa hành động của nhân vật, còn phần còn lại của lời văn kể chuyện là những chỉ dẫn về hoàn cảnh và diễn hóa của hoàn cảnh. Có thể nói, trong truyện cười, đối thoại lời nói của nhân vật đóng vai trò chính trong việc thể hiện tính cách của nhân vật. Do đó, đây cũng là chỗ kết tinh những nét đặc sắc của ngôn ngữ truyện cười: tính chất giản dị và tự nhiên, sinh động và sắc bén… trong đó, tất nhiên, nét nổi bật là tính chất hài hước, chắt lọc từ nguồn khẩu ngữ dân gian.

Có anh học trò, học thì dốt, nhưng lạ gì cái trò “dốt hay nói chữ” nên đi đến đâu anh ta cũng khoe khoang là mình nào chữ tốt, nào văn hay. Trong vùng, có người tưởng anh hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ. Một hôm, anh dạy sách “Tam thiên tự” (Ba nghìn chữ), sau chữ “tước” là chim sẻ, đến chữ “kê” là gà, thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, chưa biết nói ra sao. Học trò lại hỏi gấp, thầy cuống, nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Nhưng anh ta cũng láu, sợ người ta biết thì xấu hổ, mới bảo học trò đọc khe khẽ thôi. Nhân trong nhà có bàn thờ Thổ công, anh ta mới rón rén đến khấn và xin ba đài âm dương để xem chữ ấy có thật là “dủ dỉ” không. Thổ công cho ba đài được cả ba. Thế là thầy thở phào nhẹ nhõm. Liền oai vệ ngồi lên phản, quát học trò đọc to lên. Trò vâng lời thầy giáo, gân cổ gào: Chủ nhà đang ở ngoài vườn, nghe con học chữ lạ tai, vội chạy vào giở sách xem, rồi nói: Ấy chết! Chữ “Kê” là con gà, sao thầy lại bảo cháu ” dủ dỉ là con dù dì?” Thầy tái mặt, nghĩ thầm: “Mình đã dốt, mà thổ công nhà nó cũng dốt nốt”. Nhưng anh ta lại nhanh trí, nói gỡ ngay rằng: Chủ nhà ngớ ra, không hiểu. Thầy bèn cắt nghĩa:

Lời văn kể chuyện của truyện trên có mấy nét đáng chú ý.

, lời kể đậm đà chất dân gian. Nhiều truyện cười chế giễu thầy đồ dốt thường nặng nề, lủng củng chữ nghĩa, người không có chút vốn Hán học khó lòng mà cười góp được. Còn ở đây, cái dốt của anh đồ này thuộc loại ai cũng thấy ngay là… dốt, không cần dẫn giải dài dòng. Truyện không nhằm khai thác cái cười ở sự dốt (như những truyện Bất là cây bất, Vẫn chỉ là hai quan,…) mà cười sự giấu dốt. Lý lẽ”dạy đến tận gốc” của anh đồ, mẹo mực gỡ bí của anh đồ ở đây cũng rất chi là bình dân: cái lôgic “… con công là ông con gà”, “sáo sậu là cậu sáo đen…”… thì trong dân gian rất sẵn. Cũng dân gian, cái lối tiện thể lôi cả thần thánh ra báng bổ (“Thổ công nhà nó cũng dốt!”).

, chỉ cần xâu chuỗi những từ ngữ đặc tả hành vi của nhân vật trong lời văn kể chuyện, cũng đủ thấy hiện lên sống động khống chỉ một tính cách đáng cười mà cả diễn hóa của nó:

Thầy dốt, nhưng lai giấu dốt, thế là thầy nói liều (“dủ dỉ là con dù dì”)

Nhưng thầy láu, sợ nhỡ sai, sợ (người ta biết thì) xấu hổ, (thầy phải) bảo học trò đọc khẽ,

Bị chủ nhà ” chất vấn”, thầy tái mặt, nhưng nhanh trí, thầy chống chế nói gỡ ( bằng lý lẽ ” dạy cho cháu nó biết đến tam đại con gà”)

Qua đó ta thấy cái dốt bị chê thì ít, nhưng sự giấu dốt bị cười thì nhiều, đồng thời, ta còn nhận ra một điều sâu sắc hơn: từ sự dốt nát thảm hại, chúng ta chứng kiến sự thảm hại của dốt nát.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Những Đặc Trưng Thi Pháp Cổ Tích Trong Truyện Bánh Chưng Bánh Giầy trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!