Đề Xuất 1/2023 # Nhớ Rừng Của Thế Lữ Mượn Lời Con Hổ Bị Nhốt Trong Vườn Bách Thú Để Diễn Tả Sự Sâu Sắc Nỗi Chán Ghét Thực Tại Tầm Thường, Giả Dối Và Niềm Khao Khát Tự Do Một Cách Mãnh Liệt # Top 9 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Nhớ Rừng Của Thế Lữ Mượn Lời Con Hổ Bị Nhốt Trong Vườn Bách Thú Để Diễn Tả Sự Sâu Sắc Nỗi Chán Ghét Thực Tại Tầm Thường, Giả Dối Và Niềm Khao Khát Tự Do Một Cách Mãnh Liệt # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhớ Rừng Của Thế Lữ Mượn Lời Con Hổ Bị Nhốt Trong Vườn Bách Thú Để Diễn Tả Sự Sâu Sắc Nỗi Chán Ghét Thực Tại Tầm Thường, Giả Dối Và Niềm Khao Khát Tự Do Một Cách Mãnh Liệt mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nhớ rừng của Thế Lữ mượn lời con hổ bị nhốt trong vườn bách thú để diễn tả sự sâu sắc nỗi chán ghét thực tại tầm thường, giả dối và niềm khao khát tự do một cách mãnh liệt Phân tích đoạn trích Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục của Mô-Li-e Đề bài: Nhớ rừng của Thế Lữ mượn lời con hổ bị nhốt trong vườn bách thú để diễn tả sự sâu sắc nỗi chán ghét thực tại tầm thường, giả dối và niềm khao khát tự do một cách mãnh liệt”. Ý kiến của em? Hướng dẫn làm bài

Nhớ rừng mượn lời con hổ bị giam cầm trong vườn thú để bộc lộ tâm sự của chính tác giả Thế Lữ. Toàn bài thơ xoay quanh tâm sự của con hổ.

Sự chán ghét thực tại tầm thường, giả dốì được thể hiện thông qua hình ảnh vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt. Đó là cảnh tù túng (cũi sắt), nhàm tẻ (những cảnh không đời nào thay đổi), cảnh nhân tạo do bàn tay con người sửa sang (hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng) tầm thường, giả dối, học đòi bắt chước vẻ hoang vu của chốn núi rừng (dải nước đen giả suối, mô gò thấp kém, vừng lá hiền lành, không bí hiểm,..).

Niềm khao khát tự do một cách mãnh liệt được thể hiện thông qua sự hồi tưởng của con hổ về núi rừng oai nghiêm (đối lập với cảnh rừng bách thú tầm thường. Núi rừng chứa đựng nhiều bí ẩn: hang tối, thảo hoa không tên không tuổi, rừng sâu bí mật,… những âm thanh dữ dội, man dại: gió gào ngàn, nguồn thét núi,… cảnh vật rực rỡ: những đêm vàng bên bờ suối, những ngày mưa chuyển bôn phương ngàn, những bình minh cây xanh nắng gội, những chiều lênh láng máu sau rừng với tiếng chim ca giấc ngủ…

Hình ảnh chúa sơn lâm hiện lên rất uy nghi, lẫm liệt ngự trị tối cao trong vương quốc của chính mình. Đại từ xưng hô T’a đầy quyền uy, kiêu hảnh tôn thêm tư thê vị chúa sơn lâm. Tác giả sử dụng nhiều động từ, tính từ mạnh để khắc họa sự hùng tráng của núi rừng và tư thế uy nghi của con hổ: tung hoành, hống hách, gào, hét, dữ dội, dõng dạc, cuộn, quắc,…

Tâm trạng con hố thế hiện bất hòa với thực tại tầm thường, bó buộc, giam hãm (gặm một khối căm hờn trong củi sắt, bị nhục nhàn tù hãm), khao khát vươn lên cái cao cả, tự do, phi thường không chấp nhận thực tại vô nghĩa (tiếc nhớ khôn nguôi thời oanh liệt).

Tâm trạng của con hổ cũng chính là tâm sự của tác giả, là một cách khẳng định cái Tôi cá nhân của con người. Cảnh vườn bách thú tầm thường, giả dốĩ và tù túng dưới con mắt hổ chính là thực tại xã hội dưới con mắt của những tâm hồn lãng mạn. Thái độ căm ghét của con hổ đối với vườn bách thú chính là thái độ của con người đối với xã hội đương thời. Bài thơ đã chạm đến những gì nhạy bén nhất của một xã hội đang sông trong cảnh nô lệ, tù túng nhưng không nguôi nhớ về quá khứ vàng son với những chiến công hiển hách của cha ông.

Như vậy bài thơ chính là tâm sự yêu nước thám kín được gửi gắm qua hình tượng con hổ.

Nhại Thơ Thế Lữ “Hổ Nhớ Rừng “

Thư giản :

 HỔ NHỚ RỪNG (2)

Khuyết danh

https://donghuongkontum.files.wordpress.com/2014/07/buon-ngoclan_fqm5.mp3

Đọc bài thơ của tác giả cũng một thời “Hổ Nhớ Rừng” như Thế Lữ, tôi không khỏi xúc động cảm thương; nhưng nghĩ lại tâm trạng của tác giả cũng là của chính tôi, nên một chút gì đó ngậm ngùi thân phận chiến sĩ thua trận nên hết thời. Văng vẳng tiếng gọi the thé từ trong bếp: nhà không quét, không hút bụi, chén không rữa, suốt ngày ôm điện thoại rù rì với mấy thằng cha YAMAHA hoặc ôm ti vi xem mấy chục thằng giành nhau một trái banh.(!) Dù cọp già bảy bó gập, nhưng chưa bị lột da, bẻ móng, hay gom xương làm cao hổ cốt, thì ta vẫn hy vọng một ngày về, “chưa biết ai thắng ai”? T10T

Ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu !!!

Ngậm một khối u hoài bên cạnh vợ , Ta lờ khờ và lớ ngớ ngu ngơ Giận vợ già quá ngạo mạn khó ưa . Giương mắt ….lão nhìn ta như con trẻ

Nay già rồi chịu gông cùm lép vế Để mụ già nổi hứng mụ hành chơi ! Chịu ngang bầy cùng lũ chó dở hơi , Thường đẩy xe sau mỗi lần đi chợ

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ , Thưở tung hoành hống hách những ngày xưa . Đất Saigon nhớ biết mấy cho vừa , Phố xá rộn ràng gái trai dìu dặt .

Ngoài chiến trận ta vẫy vùng ngang dọc , Thật kiêu hùng quyết bảo vệ quê hương . Có toàn dân và em gái hậu phương , Nàng ngưỡng mộ tôn ta làm thần tượng

Đi bên ta nàng nhẹ như cánh phượng , Nép vào ta nhờ che chở chở che Ta hiên ngang dìu em dưới hàng me Hoặc trốn nắng vào ci nê hú hí

Chiều công viên cùng nàng mừng cho có ! Hoặc đêm về ngồi ngắm ánh trăng trong . Nàng hiền khô yếu đuối gọn trong lòng . Để từ đó yêu nàng vô bờ bến …

Đâu những yêu kiều dịu dàng thương mến Tiếng thu ca ru giấc ngủ êm đềm , Đâu những chiều có chỗ đứng bên thềm . Ta chết cứng trong tóc mềm môi ướt .

Để ta chiếm lấy phần riêng bí mật . Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu !! Để giờ đây ta ngậm một mối sầu , Ghét thế sự con người nhiều thay đổi .

Những cảnh đời nhiều tầm thường giả dối . Bao bon chen bao gian dối lọc lừa . Nàng của ta cũng thay đổi bao mùa , Hay đanh đá hay chanh chua quát tháo !

Mắt nai tơ giờ trợn trừng thao láo ! Đôi môi mềm cong cớn hết tươi cười , Mỗi cuối tuần lãnh check bảo “Đưa tôi” Ta ngửa mặt “Thế thời thời phải thế” !!!!!

Nơi xứ Mỹ thôi ta đành lép vế Đành ngu ngơ đành nhẫn nhục chờ thời , Nhưng càng lâu ta càng thấy ..hết thời , Cho đến lúc tự nhiên đâm ra nhát

Để giờ đây những đêm trường ngao ngán Ta lâu ngày… phở tái vẫn thèm ăn, Vẫn đợi chờ gió đến để ..bẻ măng , Nằm phục kích ..chờ nai vàng nộp mạng ????

Ta nhớ lại những ngày xưa ngang dọc Mà giờ đây ôm hận suốt đêm thâu Hãy vùng lên có chỗ đứng ngẩng đầu Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt.

Hãy vươn lên dù chỉ còn chút sức, Hãy la to cho chằng lửa giật mình… …………………………………………………. Nói cho đã rồi sao lại nín thinh Vì vợ mới kêu ta ….đi rửa chén Thì rửa thôi (Dzậy thâu)!!!

Tác gỉả:  không Biết

PHỤ LỤC

Nhớ Rừng

Tác giả:

Thế Lữ

Tặng Nguyễn Tường Tam (Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt, Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua. Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ, Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi. Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi, Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ, Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa. Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già, Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi, Với khi thét khúc trường ca dữ dội Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng, Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc. Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc Là khiến cho mọi vật đều im hơi. Ta biết ta chúa tể muôn của loài Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối, Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu Ghét những cảnh không đời nào thay đổi, Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối: Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng; Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng Len dưới nách những mô gò thấp kém; Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ! Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị, Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa Nơi ta không còn được thấy bao giờ! Có biết chăng trong những ngày ngao ngán Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn Để hồn ta phảng phất được gần ngươi Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

1936 THẾ LỮ

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Nghị Luận Xã Hội: Bài Thơ ”Khi Con Tu Hú” Của Tố Hữu Thể Hiện Sâu Sắc Lòng Yêu Cuộc Sống Và Niềm Khát Khao Tự Do Mãnh Liệt Của Người Chiến Sĩ. Em Hãy Làm Sáng Tỏ Ý Kiến Trên

Nhan đề bài thơ là một sự diễn đạt chưa trọn ý một cách kì lạ. Kì lạ bởi chính chỗ chưa trọn vẹn đó đã mở ra bao nhiêu liên tưởng. Giờ đây, người ta không còn thấy bóng dáng cô đơn, nặng nề của người tù Tố Hữu mà chỉ nghe tiếng lòng nhà thơ đang rộn ràng, ngân vang khi đón nhận lấy tiếng chim tu hú từ xa rộn về. Tu hú gọi bầy là âm thanh hết sức quen thuộc ở chốn làng quê Việt Nam, báo hiệu cho sự chuyển mình của sự sống – mùa hè về. Lúc này, khi con tu hú gọi bầy, trong hoàn cảnh tách biệt với cuộc sống bên ngoài, người chiến sĩ cách mạng càng cảm thấy ngột ngạt hơn, tù túng hơn, vì vậy mà càng thêm khát khao cháy bỏng hướng đến cuộc sống tự do tươi đẹp bên ngoài:

“Khi con tu hú gọi bầy

Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần

Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào

Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không.”

Phải có một sự tưởng tượng lãng mạn, bay bổng và một tâm hồn mến yêu sự sống sâu sắc mới có thể vẽ lại toàn bộ bức tranh phong cảnh mùa hè sống động đến vậy. Thiên nhiên hiện lên tuyệt đẹp kia không phải là hiện thực, tất cả chỉ là sự tưởng tượng của một tâm hồn mơ mộng khi căng tất cả các giác quan để nghe, để nhìn, để ngửi, để cảm nhận không khí hè qua tiếng gọi bầy của tu hú. Chỉ bằng vài đường nét, màu sắc, âm thanh, nhà thơ đã phơi bày một bức tranh đầy nhựa sống với cánh đồng lúa chiêm quen thuộc của quê hương đã bao lần đi vào thơ Tố Hữu:

“Đây từng ô mạ xanh mơn mởn

(…)

Ôi ruộng đồng quê hương thương nhớ ơi!”

Giờ đây lại hiện về trong trạng thái căng đầy nhất, viên mãn nhất, lúa ngả vàng, ngả sang màu niềm vui, là màu vàng rực rỡ của mùa hè, của mồ hôi kết tinh thành hạt thóc.

Với một tâm hồn lãng mạn tinh tế, Tố Hữu đã cảm nhận sự thay đối của màu nắng với nhiều góc độ: từ ánh nắng của “đôi ánh lạt ban chiều” (Tâm tư trong tù), ánh nắng yếu ớt dễ bóp nghẹt bởi bóng tối tới một “ánh nắng đào” giữa mùa hè, lấp đi dấu ấn của “vườn râm”. Câu thơ là một không gian thoải mái với sắc hồng kì lạ. Đó là thứ ánh sáng êm dịu, hiền hậu, vỗ về cho con người trước những mất mát, đau khổ trong cuộc đời. Có lẽ từ chính sự gặp gỡ tuyệt diệu của chàng thanh niên trẻ tuổi:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim”

đã khiến cho ánh nắng mùa hè có sự thay đổi tinh tế đến vậy. Và sự xuất hiện của bầu trời trong vắt như mặt nước yên bình nâng tầm bay cho các cánh diều đã đẩy tầm nhìn, tầm nhận thức của nhà thơ lên đến độ sâu nhất, xa nhất, cao nhất:

“Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”

Thấp thoáng trong ánh nhìn người tù, là một không gian mở rộng đến vô cùng vô tận. Mặc dù có thể lúc ấy ánh nhìn của nhà thơ – chiến sĩ có phần bị che khuất đi bởi chấn song nhà tù chật hẹp. Trên bầu trời lúc này không phải là một mình lẻ loi, con sáo diều cũng có đôi, có cặp, có được sự tự do bay lượn trong vùng trời riêng kia. Huống chi là con người. Vậy mà, thực tế thì sao? Con người cô đơn, cô đơn hơn bao giờ hết, và mất tự do.

Không ngẫu nhiên mà bài thơ có sự bổ đôi của hai câu thơ lục bát. Nhà thơ diễn tả bức tranh mùa hè sống động đối lập với cảnh mùa đông trong ngục tối đã làm nổi bật lên khát vọng cháy bỏng của người chiến sĩ trên con đường tìm đến tự do. bốn câu thơ kết đã lắng lại cho tiếng lòng náo nức bật lên:

“Ta nghe hè dậy bên lòng

Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!

Ngột làm sao, chết mất thôi

Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”

Từ trong sâu thẳm tâm tư mình, người tù đã nhận ra tất cả cuộc sống náo nức, vui tươi bên ngoài lúc chỉ là tưởng tượng, bởi đó là tất cả những hình ảnh tồn tại trong trí nhớ của nhà thơ. Đó là những cánh đồng, những vườn cây trái, những vườn râm. Còn hiện tại, kẻ thù đang giày xéo quê hương, đã biến bao đồng quê thành hoang mạc và thực chất không gian tự do mà nhà thơ khát khao bên ngoài kia cũng chỉ là một không gian tù hãm, một cái lồng to giam chí lớn, như chụp lên cuộc sống con người, lên quê hương. Cho nên, khổ thơ là sự bừng tỉnh của lí trí, là tâm trạng uất ức, ngột ngạt muốn đạp bỏ tất cả, tìm đến không gian tự do, tự tại thật sự. Bằng cách ngắt nhịp mạnh kết hợp với những từ ngữ mạnh mẽ: “đạp tan”, “chết uất”, câu thơ đã tập trung cao độ tinh thần yêu đời, yêu người cháy bỏng.

Tiếng kêu tu hú cứ day đi day lại cả bài thơ, như thúc giục, như lời thôi thúc người tù vượt thoát cảnh giam cầm, tìm về với tự do. Có lẽ vì vậy mà ba năm sau, Tố Hữu đã vượt ngục và quay về đội ngũ, để làm tròn ước nguyện cống hiến tất cả cuộc đời cho cách mạng.

“Khi con tu hú” là một bài thơ kết hợp hài hoà của cảnh và tình. Cảnh mở ra rạo rực, tha thiết, tình lắng đọng da diết, trầm buồn. Với tâm hồn dân tộc, ngòi bút linh hoạt, mềm mại, Tố Hữu xứng đáng với danh hiệu con chim đầu đàn trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam.

Bức Tranh Tứ Bình Trong Bài Thơ “Nhớ Rừng ” Của Thế Lữ

Bức tranh tứ bình trong bài thơ “Nhớ rừng ” của Thế Lữ

          Bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ không chỉ là một “khúc trường ca dữ dội” thể hiện tâm trạng vĩ đại của chúa sơn lâm mà còn là một họa phẩm hoành tráng từng bước làm nổi hằn lên trên mặt bằng của câu chữ hình tượng vị “chúa tể cả muôn loài”. Tính tạo hình được thể hiện rất đặc sắc trong bài thơ đặc biệt là thông qua bức tranh tứ bình.

Tứ bình là một lối tạo hình quen thuộc từ cổ điển. Người xưa thường khái quát một hiện thực toàn vẹn nào đó vào bộ tranh gồm bốn bức. Cho nên tự thân tứ bình là một cấu trúc, một chỉnh thể, một thế giới. Thời gian thì Xuân Hạ Thu Đông, thảo mộc thì Tùng Trúc Cúc Mai, nghề nghiệp thì Ngư Tiều Canh Mục, nghệ thú thì Cầm Kỳ Thi Họa.v.v… Nảy sinh từ hội họa, về sau tứ bình xâm nhập vào nhiều nghệ thuật khác. Người đọc thơ có thể thấy ở Chinh phụ ngâm, những đoạn như nỗi nhớ chồng của nàng chinh phụ diễn ra trọn vẹn khi “trông bốn bề”, mỗi bề là một phía, một cung bậc, một nông nỗi của nhung nhớ. Tâm trạng buồn nản, hãi hùng của Thuý Kiều trước lầu Ngưng Bích cũng diễn thành tứ bình với điệp khúc “ buồn trông”… Vậy, dùng tứ bình thì chưa phải là gì thật đáng nói. Đáng nói là: cả bốn bức tứ bình ở đây đều là những chân dung tự họa khác nhau của cùng một con hổ. Nó đã khái quát trọn vẹn về cái “thời oanh liệt” của chúa sơn lâm.

                                  Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối                                   Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?                                   Đâu những chiều mưa chuyển bốn phương ngàn                         &nbsp 2000 ;         Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới ?                                   Đâu những bình minh cây xanh nắng gội                                   Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng ?                                   Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng                                   Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt                                   Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật ?           Đọc đoạn thơ ta dễ thấy đây là đoạn tuyệt bút của “ Nhớ rừng” mà tiêu biểu nhất là lối tạo hình bằng thơ. Bốn bức là bốn nỗi hoài niệm đầy tiếc nuối, uất hận. Đồng thời, là bốn câu hỏi mà giọng điệu càng lúc càng dữ dằn. Mỗi bức một khung cảnh, một gam màu, một dáng điệu của vị “chúa tể cả muôn loài”.

           Bức thứ nhất thật thi vị :                           Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối                          Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Gam màu vàng lóng lánh của ánh trăng in trên suối vắng. Đối với con hổ giờ đang bị giam cầm trong cũi sắt, đó không chỉ là những kỷ niệm lấp lóa trăng vàng, mà thực sự là những “đêm vàng” – những kỷ niệm được đúc bằng vàng ròng – không bao giờ còn có lại. Chúa sơn lâm hiện ra như nhà thi sĩ của chốn lâm tuyền, với cử chỉ uống ánh trăng tan đầy thơ mộng.    Bức thứ hai, chúa sơn lâm hiện ra như một minh đế trước giang sơn của mình :                         Đâu những chiều mưa chuyển bốn phương ngàn

                        Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới? Đêm trăng đã nhường chỗ cho chiều mưa. Gam vàng đã chuyển qua gam xám bạc điểm ánh tươi xanh. Đấng vương chủ của chốn rừng già đang phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh vương quốc đương thay da đổi thịt dưới sự trị vì của mình. Trang nghiêm, ưu tư, và đầy kiêu hãnh.            Bức thứ ba, chiều mưa đã chuyển sang rạng đông, nền tranh đã rạng rỡ cái gam màu thắm nắng bình minh. Chúa sơn lâm hiện trong dáng điệu một lãnh chúa cứ nghiễm nhiên ườn mình trong giấc ngủ trễ tràng khi ngày đã lên mà thụ hưởng cái lạc thú cung – đình – rừng – xanh của mình:                         Đâu những bình minh cây xanh nắng gội                         Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đọc câu thơ ta có thể hình dung: cây xanh nắng gội là màn trướng, còn chim chóc như những bầy cung nữ đang hân hoan ca múa quanh giấc nồng của hổ vương .             Bộ tứ bình khép lại bằng bức cuối cùng, cũng là bức ấn tượng hơn cả :                         Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng                         Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt                         Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? Giọng điệu không còn là thở than, mà đã thành chất vấn đầy giận dữ và oai linh đối với quá khứ mà cũng là đối với hiện tại. Tương ứng với giọng điệu, chúa sơn lâm hiện ra cũng với một tư thế hoàn toàn khác: tư thế kiêu hùng của một bạo chúa. Nền cảnh thuộc gam màu máu. Mấy chữ “lênh láng máu” thật dễ sợ! Qua cảm nhận của chúa sơn lâm, ánh mặt trời lúc hoàng hôn đỏ rực giống hệt sắc máu lênh l&aacu 2000 te;ng. Trong chốn thảo hoa không tên tuổi ấy dường như chỉ có mặt trời là đối thủ duy nhất và xứng đáng phô bày quyền uy sánh cùng với hổ. Nhưng mảnh mặt trời kia cũng đang hấp hối trong tư thế gục ngã, lênh láng máu. Dưới con mắt mắt ngạo mạn và khing bỉ của con mãnh thú, ngôi vị cao cả của mặt trời cũng không là gì, mặt trời kia củng chỉ là những mảnh vụn tầm thường. Quyền uy của chúa sơn lâm như càng bao trùm cả vũ trụ  mà mặt trời cũng phải dần lùi bước. Đến câu “Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”, bức tứ bình cuối cùng dường như đã thể hiện được bàn chân ngạo nghễ siêu phàm của con thú như dẫm đạp lên bầu trời, cái bóng của nó dường như đã trùm kín cả vũ trụ. Hình ảnh con hổ vờn bóng, như dẫm nát mặt trời là hình ảnh đẹp đẽ và dữ dội nhất diễn tả đỉnh điểm của quyền lực kẻ thống trị vũ trụ.

         Ghê gớm thật! Ngay đến mặt trời cũng trở nên tầm thường, thì xem ra sự phi thường đã tới vô biên rồi vậy! Sự hồi tưởng đã xong: thời oanh liệt của cái tôi – hùm thiêng đạt cực điểm !

         Một thi sĩ rình trăng chốn lâm tuyền. Một vương chủ say ngắm giang sơn. Một lãnh chúa rừng xanh giữa bầy ca điểu. Một bạo chúa ngạo mạn với mặt trời. Bốn kỷ niệm kiêu hùng, bốn khoảnh khắc hoành tráng!           Bộ tứ bình hoàn tất!

          Có ý kiến cho rằng: Thơ Thế Lữ tràn đầy chất lãng mạn, lời thơ giàu hình ảnh, màu sắc và nhạc điệu; câu thơ mở rộng, ào ạt như để chứa đựng mọi cung bậc của những cảm xúc phức tạp, tinh vi trong tâm hồn. Đọc “ Nhớ rừng” và đặc biệt cảm nhận bức tranh tứ bình thì thực sự thấy lời nhận xét trên hoàn toàn đúng!

                                                                       

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhớ Rừng Của Thế Lữ Mượn Lời Con Hổ Bị Nhốt Trong Vườn Bách Thú Để Diễn Tả Sự Sâu Sắc Nỗi Chán Ghét Thực Tại Tầm Thường, Giả Dối Và Niềm Khao Khát Tự Do Một Cách Mãnh Liệt trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!