Đề Xuất 1/2023 # Ngữ Văn 10 Thể Loại Truyện Cười # Top 2 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Ngữ Văn 10 Thể Loại Truyện Cười # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Ngữ Văn 10 Thể Loại Truyện Cười mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lê Thị Thủy

Website Luyện thi online miễn phí,hệ thống luyện thi trắc nghiệm trực tuyến miễn phí,trắc nghiệm online, Luyện thi thử thptqg miễn phí

Truyện cười dân gian, Các tác phẩm văn học thuộc thể loại truyện cười, Nghệ thuật của truyện cười, Khái niệm truyện cười lớp 10, Truyện cười dân gian về thầy đồ, Truyện cười trào phúng, Đặc trưng của truyện cười, Truyện cười khôi hài.

Truyện cười dân gian, Các tác phẩm văn học thuộc thể loại truyện cười, Nghệ thuật của truyện cười, Khái niệm truyện cười lớp 10, Truyện cười dân gian về thầy đồ, Truyện cười trào phúng, Đặc trưng của truyện cười, Truyện cười khôi hàiTam đại con gà là truyện gì, Soạn văn Nhưng nó phải bằng hai mày, Tam đại con gà siêu ngắn, Giáo án Tam đại con gà, Tam đại con gà tóm tắt, Bộ cục Tam đại con gà, Kịch bản Tam đại con gà, Tam đại con gà violet

Thể loại Truyện cười

Thể loại Truyện cười là gì?

– Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống nhằm giải trí, phê phán.

– Đặc trưng của truyện cười:

    + Truyện cười luôn có yếu tố gây cười

    + Truyện cười xây dựng các tình huống đối thoại ngắn gọn.

– Phân loại truyện cười:

    + Truyện khôi hài: chủ yếu nhằm mục đích giải trí song vẫn có ý nghĩa giáo dục

    + Truyện trào phúng: chủ yếu nhằm mục đích phê phán, đối tượng phê phán phần lớn là các nhân vật thuộc tầng lớp trên trong xã hội Việt Nam xưa và các thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân.

I. Đôi nét về tác phẩm Tam đại con gà

1. Xuất xứ

    Tam đại con gà là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán thầy đồ dốt nát.

2. Bố cục (3 phần)

– Phần 1 (từ đầu đến “mời đón về dạy trẻ”): Giới thiệu mâu thuẫn trái tự nhiên

– Phần 2 (còn lại): Các tình huống mâu thuẫn gây cười

3. Tóm tắt

    Xưa có anh học trò học hành dốt nát nhưng lại hay khoe chữ. Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ. Một hôm, dạy đến chữ “kê”, học trò hỏi mà không biết, đánh nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Thầy sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ, dặn học trò đọc khẽ và đến bàn thờ thổ công xin ba đài âm dương. Xin ba đài được cả ba, thầy lấy làm đắc chí, hôm sau bảo trẻ đọc to lên. Người bố nghe được, phát hiện ra, thầy liền chống chế bằng cách lí sự cùn: dạy thế là để biết đến tam đại con gà.

4. Giá trị nội dung

– Từ tình huống mẫu thuẫn trái tự nhiên, truyện bật lên tiếng cười phê phán thói dấu dốt – một thói xấu trong nội bộ nhân dân

– Qua đó, khuyên mọi người không nên dấu dốt mà phải không ngừng học hỏi

5. Giá trị nghệ thuật

– Xây dựng các mâu thuẫn và đẩy các mâu thuẫn đó lên đến đỉnh điểm trong những tình huống kịch tính, giải quyết bất ngờ, hợp lí.

– Ngôn ngữ giản dị, có cả vần và nhịp.

– Sử dụng nhiều yếu tố gây cười khác nhau: hành động, cử chỉ, câu nói…có tác dụng gây cười.

II. Dàn ý phân tích Tam đại con gà

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về thể loại truyện cười: Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống nhằm giải trí, phê phán.

– Giới thiệu khái quát về truyện Tam đại con gà: Tam đại con gà là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán thầy đồ dốt nát.

II. Thân bài:

1. Cách giới thiệu nhân vật và mâu thuẫn trái tự nhiên:

– Giới thiệu nhân vật chính – anh học trò dốt nát nhưng thích khoe chữ, “đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt”

– Có người mời anh ta về dạy trẻ

        → Mâu thuẫn trái tự nhiên: dốt nhưng dấu dốt, thích khoe chữ.

2. Tình huống mâu thuẫn gây cười

– Tình huống 1:

    + Gặp chữ “kê”, thấy mặt chữ nhiều, không biết chữ gì, học trò hỏi gấp, thầy nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”

    + Sợ sai, bảo học trò đọc khẽ

    + Thầy khấn thầm xin ba đài âm ở bàn thờ thổ công

    + Thổ công cho ba đài âm, thầy lấy làm đắc chí, hôm sau ngồi bệ vệ trên giường, bảo trẻ đọc cho to.

        → Thầy đồ vừa dốt vừa mê tín, lừa bịp trẻ con. Tiếng cười bật ra từ chính sự ngu dốt, sĩ diện, thích khoe khoang của thầy đồ. Đồng thời, qua đó phên phán sự dốt nát của thầy đồ.

– Tình huống 2:

    + Khi bị bố học trò phát hiện, chất vấn, suy nghĩ của thầy đồ: “Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”

        → Lời tự nhủ hài hước, biết mình dốt nhưng không chịu thừa nhận.

    + Lời ngụy biện của thầy: Dạy cho cháu biết đến tận tam đại con gà, “Dù dì là chị con công, con công là ông con gà” để gỡ bí, lí sự cùn.

        → Tiếng cười bật lên từ sự vô lí, láu cá của thầy đồ.

       

Thầy đồ bộc lộ rõ bản chất là một kẻ dốt nát nhưng thích giấu dốt, thích khoe khoang, láu cá, sĩ diện.

3. Ý nghĩa tiếng cười

– Phê phán những kẻ dốt nát nhưng lại dấu dốt, thích khoe khoang

– Phê phán thực trạng xã hội: dốt nát lại làm thầy

– Khuyên nhủ mọi người không nên dấu dốt mà phải không ngừng học hỏi

4. Nghệ thuật

– Xây dựng các mâu thuẫn và đẩy các mâu thuẫn đó lên đến đỉnh điểm trong những tình huống kịch tính, giải quyết bất ngờ, hợp lí.

– Ngôn ngữ giản dị, có cả vần và nhịp.

– Sử dụng nhiều yếu tố gây cười khác nhau: hành động, cử chỉ, câu nói…có tác dụng gây cười.

III. Kết bài

– Khát quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật

– Bài học rút ra cho bản thân: Truyện vừa đem lại tiếng cười giải trí cho con người, đồng thời mang lại bài học sâu sắc, mỗi người phải không ngừng học hỏi để nâng cao hiểu biết của mình, không được dấu dốt, sĩ diện.

I. Đôi nét về tác phẩm Nhưng nó phải bằng hai mày

1. Xuất xứ

    Nhưng nó phải bằng hai mày là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán bọn quan lại tham nhũng.

2. Tóm tắt

    Cải và Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện. Cải lót trước cho thày lí năm đồng, Ngô biện những mười đồng. Khi xử kiện, Cải bị phạt chịu roi. Nó vội xoè năm ngón tay cho ra hiệu cho thày lí rằng mình là phải. Thầy lí cũng xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, nói: “…Nhưng… nó lại phải… bằng hai mày!”.

3. Giá trị nội dung

    Truyện phê phán bản chất tham nhũng, xử kiện vì tiền của quan lại địa phương trong xã hội Việt Nam. Đồng thời, phê phán hành vi tiêu cực của một bộ phận nhân dân lao động xưa khi mắc vào vòng vây kiện tụng

4. Giá trị nghệ thuật

– Cách tạo tình huống gây cười khéo léo, bất ngờ

– Miêu tả ngôn ngữ và hành động của nhân vật vừa gây cười vừa ẩn ý

– Sử dụng cách chơi chữ

– Lối kể chuyện tự nhiên, dễ hiểu.

II. Dàn ý phân tích Nhưng nó phải bằng hai mày

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về thể loại truyện cười: Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống nhằm giải trí, phê phán.

– Giới thiệu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện Nhưng nó phải bằng hai mày: Nhưng nó phải bằng hai mày là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán bọn quan lại tham nhũng.

II. Thân bài

1. Trước khi xử kiện

– Viên lí trưởng nổi tiếng là người xử kiện giỏi

– Cải và Ngô đánh nhau, mang nhau đi kiện, Cải lót trước cho thầy lí năm đồng, Ngô biện chè lá những mười đồng.

2. Trong lúc xử kiện

– Lí trưởng không cần điều tra, không cần xét hỏi mà ngay lập tức phán xét: “Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi”

        → Kết quả xử kiện của lí trưởng phụ thuộc vào số tiền đút lót của Cải và Ngô, ai đút nhiều hơn thì người ấy sẽ là người thắng kiện

– Cải: xòe bàn tay phải năm ngón

        → Ý nói con đã đút cho thầy năm đồng, thầy phải xử con thắng kiện mới đúng

        → Phê phán hành động đút lót của Cải. Đồng thời, tiếng cười cũng bật lên đầy chua chát khi Cải vừa mất tiền lại vừa phải chịu phạt.

– Lí trưởng:

    + Hành động: Xòe năm ngón tay trái, úp lên năm ngón tay phải trước mặt

    + Lời nói: “Tao biết mày phải…nhưng nó lại phải…bằng hai mày”

        → Câu nói và hành động của viên lí trưởng ngầm ý nó đút bằng hai mày nên xử nó thắng là điều tất nhiên. Tiếng cười bật lên từ chính hành động và lời nói của viên lí trưởng. Câu nói đã sử dụng hình thức chơi chữ với chữ “phải”.

       

Phê phán bản chất tham nhũng, xử kiện vì tiền của quan lại địa phương trong xã hội Việt Nam. Đồng thời, phê phán hành vi tiêu cực của một bộ phận nhân dân lao động xưa khi mắc vào vòng vây kiện tụng.

3. Nghệ thuật

– Cách tạo tình huống gây cười khéo léo, bất ngờ

– Miêu tả ngôn ngữ và hành động của nhân vật vừa gây cười vừa ẩn ý

– Sử dụng cách chơi chữ

– Lối kể chuyện tự nhiên, dễ hiểu.

III. Kết bài

– Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện

 

Truyện Cười Là Gì, Phân Loại Truyện Cười

Truyện cười là gì? các thể loại và ý nghĩa của chúng ra sao? Mọi người thường nói “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, những câu chuyện cười trong cuộc sống hàng ngày mang lại những tiếng cười sảng khoái giúp xua tan mọi buồn đau, vất vả. Còn trong đời sống văn học thì sao?

Truyện cười tồn tại dưới nhiều hình thức. Chúng ta vẫn thường nghe những cái tên như Trạng Quỳnh (Truyện trạng), Truyện tiếu lâm, Truyện khôi hài hay Truyện trào phúng và các giai thoại hài hước…

Truyện cười mang hiện tượng cười

Hiện tượng cười trong truyện cười được hiểu đơn giản là hình thức gây cười của tiếng cười. Trong đó chia làm 2 gồm tiếng cười sinh học và tiếng cười tâm lý xã hội.

Tiếng cười sinh học là do bản thân con người tự phát ra, vì vậy mang tính bản năng, vô thức.

Tiếng cười tâm lý xã hội có thể nói là rất tinh tế và phức tạp. Nó mang hai kiểu cười gồm cười tán thưởng và cười phê phán. Trong đó tán thưởng thể hiện sự yêu thích, mến mộ, đồng tình và biểu dương thì cười phê phán lại là cười châm biếm ở những điểm họ phủ nhận và khinh ghét.

Chủ đề và mục đích truyện cười

Tiếng cười mua vui, giải trí

Nằm trong mục truyện khôi hài, yếu tố giải trí luôn được đặt lên hàng đầu, song song có lồng ghép một vài yếu tố phê phán nhưng rất nhẹ nhàng. Phê phán ở đây là nói về cái ngược đời trong xã hội, những cái lẽ trái tự nhiên của người dân trong thói xấu để lại những lầm lỡ, hớ hênh.

Một số truyện khôi hài được biết đến như Ăn vụng gặp nhau, Tay ải tay ai, Tam đại con gà…

Tiếng cười mang tính phê bình, giáo dục

Tính phê bình, giáo dục được thể hiện nhiều trong các câu chuyện trào phúng nhằm phê phán thói hư, tật xấu trong bộ phận nhân dân. Họ mang những bản chất khác (yếu tố trào phúng) ngoài những khía cạnh được khai thác trong các câu chuyện cổ tích hay ca dao.

Một số truyện cười có thể đọc như Áo mới lợn cưới, Sợ quá nói nhiều hay Hội sợ vợ…

Tiếng cười mang tính đả kích

Truyện cười có yếu tố phê phán cấp bậc cao hơn nhằm đả kích, vạch trần xấu xa, ác độc, thường là mang bản chất của giai cấp trong xã hội phong kiến xưa gọi là trào phúng thù.

Truyện trào phúng phát triển thời kì vua chúa, truyện cười của thầy chùa, thầy lang, thầy pháp… Đặc biệt là hệ thống truyện cười nổi tiếng được biết đến với tên gọi Trạng Quỳnh nhằm phê phán, lên án và mang yếu tố đả kích cao, chĩa mũi giáo vào chính bọn phong kiến vua chúa thối nát.

Một số truyện cười tiêu biểu là Quan huyện thanh liêm, Thần bia trả nghĩa, Chỉ có một con ma, trạng Quỳnh…

Dựa theo kết cấu mà phân chia truyện cười thành 2 loại là truyện cười kết chuỗi và truyện cười không kết chuỗi.

Truyện cười kết chuỗi

Trạng Lợn: các câu chuyện cười đa số xoay quanh nhân vật trung tâm, là đối tượng gây cười mang tính phê phán

Trạng Quỳnh: các câu chuyện của Trạng Quỳnh xoay quanh nhân vật chính là người mưu trí, nhanh nhẹn và thông minh. Qua các tình huống thì bộc lộ tiếng cười mang tính khen ngợi, tán thưởng, dũng cả đối đầu với cái ác.

Truyện cười không kết chuỗi

Chúng ta vẫn thường nghe đến 3 hình thức, tên gọi như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài hay truyện trào phúng. Đó đều là 3 loại nằm trong mục truyện cười không kết chuỗi. Đặc điểm để phân loại như sau:

Truyện tiếu lâm là những câu chuyện cười trong cuộc sống gây cười mạnh mẽ bởi có yếu tố tục (Đỡ đẻ giỏi nhất đời, Thơm rồi lại thối, Trời sinh ra thế, Đầy tớ…)

Truyện khôi hài chủ yếu đem lại tiếng cười mang tính giải trí (Tay ải tay ai, Ba anh mê ngủ…)

Truyện trào phúng lại thiên về phê phán những thói xấu, biểu hiện, hiện tượng xấu trong cuộc sống (Lạy cụ đề ạ, truyện Nam mô boong, Phú hộ ngã sông…)

Nhắc đến truyện cười ngoài yếu tố nội dung gây cười thì còn đặc biệt chú ý đến nghệ thuật của nó để thấy rõ được cái hay được lồng ghép trong mỗi câu chuyện.

– Nhân vật: trung tâm gây cười dựa vào các hành vi ứng xử trong hoàn cảnh cụ thể. Nhân vật không mang một cuộc đời số phận cụ thể như trong các câu chuyện cổ tích hay truyện ngắn mà chỉ là lát cắt trong cuộc sống biểu thị một hành động, thói quen nhỏ có thể gây cười. Vì vậy các câu chuyện cười thường ngắn. Nếu truyện cười xoay quanh một nhân vật trung tâm thì mỗi câu chuyện về họ cũng không cần sâu chuỗi, logic với nhau.

+ Nhân vật trong truyện cười không hẳn là nhân vật trung tâm gây cười mà có thể yếu tố cốt lõi gây cười lại là một nhân vật phụ nào đó.

– Cái hay trong một câu chuyện cười nằm ở kết cấu của nó. Thông thường gồm 3 phần như sau:

Phần 1: Giới thiệu về tình huống gây cười, nhân vật xuất hiện

Phần 2: Phát triển nội dung đỉnh điểm gây cười (Mâu thuẫn được đẩy lên cao trào)

Phần 3: Phơi bày cái đáng cười, câu chuyện kết thúc.

– Các phương pháp gây cười được sử dụng linh hoạt như lấy tiếng nói để gây cười, cử chỉ gây cười, hoàn cảnh gây cười, phóng đại sự việc hoặc sử dụng điều bất ngờ hay yếu tố ẩn dụ, nhân hóa…

Bệnh lải nhải (tìm trên mạng)

Câu chuyện gây cười được hé lộ ở câu nói cuối cùng của anh chồng. Tưởng chừng như chỉ là cuộc đối thoại bình thường của đôi vợ chồng nhưng tác giả muốn nhắn nhủ đặt địa vị của mình trong vị trí của người khác để hiểu rõ và thông cảm cho đối phương.

Trong cuộc sống phải nhìn nhận vấn đề ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Có như vậy mới tránh việc suy xét vấn đề một cách phiến diện, vội vàng.

Tam đại con gà (tìm trên mạng)

Câu chuyện cười được nhiều người biết đến. Nhắc đến sự dốt nát, không biết gì mà còn giấu dốt mọi người đều nghĩ ngay đến “Tam đại con gà”. Câu chuyện mở đầu giới thiệu một anh chàng dốt nát nhưng lại hay lên mặt. Yếu tố gây cười dần được hé lộ khi anh ta được dân làng mời về dạy trẻ. Đến chữ đơn giản nhất “Kê” là “gà” nhưng thầy lại không biết và dạy học trò là “dủ dỉ là con dù dì”.Thầy còn xin đài âm dương để chứng minh là mình dạy đúng. Đỉnh điểm gây cười ở chỗ đã sai còn ngụy biện, nói cùn “Dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công, con công là ông con gà”. Tam đại con gà vì thế mà ra đời.

Qua câu chuyện, tác giả muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng trong cuộc sống đừng quá đề cao bản thân mà giấu dốt sẽ gây tiếng cười mỉa mai, châm biếm.

Trong kho tàng văn học dân gian của nhân loại còn có rất nhiều câu chuyện cười, hài hước mang ý nghĩa sâu sắc khác. Mỗi một câu chuyện sẽ mang đến cho chúng ta những tiếng cười ẩn sau đó là bài học quý giá về cuộc sống. “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”.

Ngữ Văn 10 Đoạn Trích: Trao Duyên (Trích Truyện Kiều

Lê Thị Thủy

Website Luyện thi online miễn phí,hệ thống luyện thi trắc nghiệm trực tuyến miễn phí,trắc nghiệm online, Luyện thi thử thptqg miễn phí

Trao duyên, Giáo án bài trao duyên, Bài giảng Trao duyên, Giáo an trao duyên theo định hướng phát triển năng lực, Đọc hiểu văn bản Trao duyên, Giáo án hãy bài trao duyên lớp 10, Giáo án bài chí khí anh hùng, Trao duyên Giáo an word.

Trao duyên, Giáo án bài trao duyên, Bài giảng Trao duyên, Giáo an trao duyên theo định hướng phát triển năng lực, Đọc hiểu văn bản Trao duyên, Giáo án hãy bài trao duyên lớp 10, Giáo án bài chí khí anh hùng, Trao duyên Giáo an wordBài thơ Trao duyên lớp 10 SGK, Trao duyên” (Truyện Kiều), Chí khí anh hùng, Trao duyên 12 câu đầu, Vị trí đoạn trích trao duyên, Cảm nhận về đoạn trích Trao duyên, Kiến thức cơ bản đoạn trích trao duyên, Mở bài Trao duyên

Đoạn trích: Trao duyên (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Nội dung đoạn trích Trao duyên

I. Đôi nét về tác giả

II. Đôi nét về tác phẩm Trao duyên

1. Vị trí đoạn trích

    Đoạn trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều, là lời của Thúy Kiều nói với Thúy Vân

2. Bố cục (3 phần)

– Phần 1 (12 câu đầu): Kiều thuyết phục và trao duyên cho Thúy Vân

– Phần 2 (14 câu tiếp): Kiều trao kỉ vật và dặn dò

– Phần 3 (còn lại): Kiều đau đớn và độc thoại nội tâm

3. Giá trị nội dung

    Đoạn trích thể hiện bi kịch trong tình yêu của Thúy Kiều qua đó thể hiện tiếng kêu đau đớn của tác giả về số phận con người trong xã hội phong kiến

4. Giá trị nghệ thuật

    Bằng hình thức độc thoại và kết hợp sử dụng giữa ngôn ngữ trang trọng với lối nói dân giản dị, tác giả đã thể hiện đặc sắc diễn biến tâm trạng phức tạp và bế tắc của Thúy Kiều trong đêm trao duyên.

III. Dàn ý phân tích Trao duyên (Trích Truyện Kiều)

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều”

– Giới thiệu về đoạn trích Trao duyên

II. Thân bài

    1. Kiều thuyết phục và trao duyên cho Thúy Vân (12 câu đầu)

        a) Hai câu đầu: Lời nhờ cậy

– Lạy: trang nghiêm, hệ trọng

– Thưa: kính cẩn, trang trọng với bề trên hoặc người lớn tuổi hơn mình

        → Không khí trao duyên trang trọng, thiêng liêng.

        → Sự việc bất ngờ, phi lý mà lại hợp lý, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sắp nhờ, thấy được sự nhạy cảm, tinh tế và khôn khéo của Thúy Kiều.

        b) Mười câu còn lại: Lí lẽ trao duyên của Thúy Kiều

– Cảnh ngộ của Thúy Kiều:

    + “đứt gánh tương tư”: mối tình dở dang, đứt quãng.

    + “sóng gió bất kì”: tai họa ập đến gia đình nàng.

    + Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”: Lựa chọn giữa hiếu và tình.

    + “mối tơ thừa”: mối tình duyên Kim-Kiều; “chắp mối”: Thúy Vân là người nhận lại mối tình dang dở đó → cách nói nhún nhường, trân trọng vì Kiều hiểu rõ sự thiệt thòi của em.

    + “mặc em”: phó mặc, ủy thác → vừa có ý mong muốn vừa có ý ép buộc Thúy Vân phải nhận lời.

– Thúy Kiều kể vắn tắt mối tình với Kim Trọng

    + Khi gặp chàng Kim

    + Khi ngày quạt ước

    + Khi đêm chén thề

        → Mối tình còn giang dở, lời hẹn ước của Thúy Kiều với Kim Trọng vẫn còn đó

– Lời lẽ thuyết phục Thúy Vân

    + “ngày xuân”: Thúy Vân còn trẻ, còn có tương lai.

    + “xót tình máu mủ”: Tình chị em, tình ruột thịt thiêng liêng.

    + “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối”: Nàng tưởng tượng đến cái chết của mình để gợi sự thương cảm ở Thúy Vân.

        → Cách lập luận hết sức chặt chẽ, thấu tình cho thấy Thúy Kiều là người sắc sảo tinh tế, có đức hi sinh, một người con hiếu thảo, trọng tình nghĩa

       

12 câu thơ đầu là lời nhờ cậy, giãi bày, thuyết phục của Thúy Kiều với Thúy Vân trước một sự việc hệ trọng mà nàng sắp thực hiện.

   

 2. Kiều trao kỉ vật và dặn dò em (14 câu tiếp theo)

        a) Sáu câu thơ đầu: Kiều trao kỉ vật cho em

– Kỉ vật: Chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền

        → Những kỉ vật thiêng liêng, quan trọng đối với Thúy Kiều và Kim Trọng

– Cách sử dụng từ ngữ: Duyên nàu thì giữ, vật này của chung

    + Duyên này: tình riêng của Kiều với Kim Trọng

    + Vật này của chung: của kim,Kiều và của cả Vân nữa

    + Của tin: những kỉ vật gắn bó, chứng giám cho tình yêu của Kim, Kiều

        → Sự giằng xé trong tâm trạng của Thúy Kiều

        b) Tám câu còn lại: Lời dặn dò của Thúy Kiều

– Từ ngữ mang tính giả đinh: mai này, dù có

        → Kiều tưởng tượng về cảnh ngộ của mình trong tương lai

– Hình ảnh: lò hương, ngọn cỏ, lá cấy, hiu hiu gió, hồn, thân bồ liễu, đền nghì trúc mai, dạ đài, giọt nước, người thác oan

        → Gợi ra cuộc sống cõi âm, đầy thần linh, ma mị

– Nhịp điệu: chậm rãi, nhịp nhàng, thiết tha, tức tưởi như tiếng khóc não nùng, cố nén lại để không bật lên thành lời

        → Sự dằng xé, đau đớn và nhớ thương Kim Trọng đến tột cùng của Kiều

       

14 câu thơ tiếp là một khối mâu thuẫn lớn trong tâm trạng Thúy Kiều: trao kỉ vật cho em mà lời gửi trao chất chứa bao đau đớn, giằng xé và chua chát.

    

3. Kiều đau đớn và độc thoại nội tâm (còn lại)

– Sử dụng các thành ngữ chỉ sự tan vỡ, dở dang, bạc bẽo, trôi nổi của tình duyên và số phận con người: trâm gãy gương tan, hoa trôi lỡ làng, phận bạc như vôi

– Nghệ thuật đối lập giữa quá khứ và hiện tại gợi nên nỗi đau của Kiều ở hiện tại

– Nghệ thuật độc thoại nội tâm: Lời nói hướng đến Kim Trọng(người vắng mặt) nhưng lại là tự dằn vặt, dày vò chính mình

        → Tâm trạng của Thúy Kiều: vật vã, đau đớn rồi ngất đi trong tiếng kêu thảng thốt, ai oán.

       

Tâm trạng đau đớn đến cùng cực của Thúy Kiều khi hường về tình yêu của mình và Kim Trọng

III. Kết bài

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích

– Cảm nhận của bản thân: là đoạn trích giàu cảm xúc, cho thấy vẻ đẹp của Thúy Kiều và tài năng của Nguyễn Du.

 

Truyện Cười Song Ngữ Anh

Truyện cười song ngữ Anh – Việt (Phần 1)

Th.năm, 10/07/2014, 10:31

Lượt xem: 14499

1. Money And Friends

“Since he lost his money, half his friends don’t know him any more”

“And the other half ?”

“They don’t know yet that has lost it”

1.Tiền và bạn

– Từ ngày hắn mất tiền, phân nửa bạn bè của hắn không còn biết tới hắn nữa.

– Còn nửa kia ?

– Họ chưa biết là hắn đã mất tiền.

2. Father Wants To Go To Bed

Next-door Neighbor’s Little Boy : “Father say could you lend him your cassette player for tonight ?”

Heavy – Metal Enthusiast : “Have you a party on ?”

Little Boy : “Oh, no. Father only wants to go to bed “.

2.Bố cháu muốn đi ngủ

Chú bé hàng xóm cạnh nhà : – Bố cháu hỏi tối nay chú có thể cho bố cháu mượn cái cassette được không ạ ?

Người mê nhạc rock nặng : – Bộ nhà cháu có tiệc tùng gì hả ?

Chú bé: – Ồ không, bố cháu chỉ muốn đi ngủ.

3. The River Isn’t Deep

A stranger on horse back came to a river with which he was unfamiliar. The traveller asked a youngster if it was deep.

“No”, replied the boy, and the rider started to cross, but soon found that he and his horse had to swim for their lives.

When the traveller reached the other side he turned and shouted : “I thought you said it wasn’t deep ?”

“It isn’t”, was the boy””s reply : “it only takes grandfather’s ducks up to their middles !”

3.Dòng sông không sâu

Một lữ khách đi ngựa đến một dòng sông xa lạ. Ông ta hỏi một thiếu niên xem dòng sông ấy có sâu không.

– Không đâu, – chú bé đáp, và người kỵ mã bắt đầu vượt sông. Nhưng ngay sau đó ông nhận ra cả người lẫn ngựa đều phải bơi trối chết.

Khi người lữ khách đã tới bờ bên kia, ông quay lại hét lên : – Tao cứ tưởng mày nói là sông không sâu.

– Ðúng thế mà, – chú bé đáp, – nước sông này chỉ ngập ngang bụng lũ vịt của ông cháu thôi.

4. My Daughter’s Music Lessons

“My daughter’s music lessons are a fortune to me ?”

“How is that ?”

“They enabled me to buy the neighbors’ houses at half price”.

4. Giá trị của những bài học nhạc

– Những bài học nhạc của con gái tôi là cả một gia sản của tôi đó.

– Tại sao vậy ?

– Chúng giúp tôi mua được các ngôi nhà của hàng xóm chỉ bằng nửa giá tiền thôi.

5. A Policeman And A Reporter

Country Policeman (at the scene of murder) : “You can’t come in here”

Reporter : “But I’ve been sent to do the murder”

Country Policeman : “Well, you’re too late; the murder’s been done”.

5. Cảnh sát và phóng viên

Cảnh sát vùng quê (tại hiện trường một vụ án mạng) : – Anh không được vào đây.

Phóng viên : – Nhưng tôi được phái đến đây làm vụ án mạng này.

Cảnh sát vùng quê : – A, anh muộn mất rồi ; vụ án mạng đã làm xong.

6. A Cow Grazing

Artist : “That, sir, is a cow grazing”

Visitor : “Where is the grass ?”

Artist : “The cow has eaten it”

Visitor : “But where is the cow ?”

Artist : “You don”t suppose she’d be fool enough to stay there after she’d eaten all the grass, do you ?”

6. Bò ăn cỏ

Họa sĩ : – Bức tranh đó vẽ một con bò đang ăn cỏ đấy, thưa ông.

Khách : – Có thấy cỏ đâu ?

Họa sĩ : – Con bò ăn hết rồi.

Khách : – Thế còn con bò đâu ?

Họa sĩ : – Chứ bộ ông tưởng con bò lại ngu đến mức đứng ỳ ở đó sau khi đã ăn hết cỏ sao ông ?

7. Let’s Work Together

“Can you tell me how to get to the post office ?”

“That’s just where I want to go. Let’s work together. You go south, and I’ll go north, and we’ll report progress every time we meet” 7. Ta hãy phối hợp với nhau

– Nhờ anh chỉ cho đường đến bưu điện ?

– Chính tôi cũng muốn tới đó. Ta hãy phối hợp với nhau. Anh đi hướng nam, tôi đi hướng bắc, và chúng ta sẽ tường thuật lại tiến triển mỗi khi mình gặp nhau.

8. The French People Have Difficulty

“Did you have any difficulty with your French in Paris ?”

“No, but the French people did”

8. Người Pháp không rành tiếng Pháp

– Anh có gặp khó khăn gì với vốn tiếng Pháp của anh khi tới Paris không?

– Không có, nhưng người Pháp thì quả là có.

9. Great Mystery Newsboy : “Great mystery! Fifty victims! Paper, mister ?”

Passerby : “Here boy, I’ll take one” (After reading a moment) “Say, boy, there’s nothing of the kind in this paper. Where is it ?”

Newsboy : “That’s the mystery, sir. You’re the fifty first victim”.

9. Bí mật khủng khiếp

Chú bé bán báo : – Bí mật khủng khiếp đây! Năm mươi nạn nhân! Mua báo không, thưa ông?

Khách qua đường : – Lại đây, tao lấy một tờ. (Ðọc qua một hồi) – Này, thằng nhóc kia, trong báo có thấy tin nào như vậy đâu. Nó nằm ở chỗ nào chớ?

Chú bé bán báo : – Ðó chính là điều bí mật, thưa ông. Ông là nạn nhân thứ năm mươi mốt đấy.

10. Why Do They Have French Lesson?

“What’s the idea of the Greens having French lessons ?”

“They have adopted a French baby, and want to understand what she says when she begins to talk”. 10. Học tiếng Pháp để làm gì ?

– Vì cớ gì mà gia đình Green lại học tiếng Pháp chứ?

– Họ vừa nhận nuôi một bé sơ sinh người Pháp nên muốn hiểu nó sẽ nói gì khi bắt đầu tập nói.

Source: Suu tam

Bạn đang đọc nội dung bài viết Ngữ Văn 10 Thể Loại Truyện Cười trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!