Đề Xuất 2/2023 # Lớp Một Lên Thẳng Đại Học. # Top 6 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Lớp Một Lên Thẳng Đại Học. # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Lớp Một Lên Thẳng Đại Học. mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lớp một lên thẳng đại học.

Vova năm nay 6 tuổi học lớp 1. Học được một tuần thì Vova chán học không chịu làm bài vở nữa, cô giáo bèn hỏi nguyên nhân tại sao thì Vova nói là tại chương trình học quá thấp so với trình độ của Vova và Vova xin cô cho lên học bậc trung học. Cô giáo dẫn Vova lên văn phòng ông hiệu trưởng, trình bày đầu đuôi câu chuyện. Ông hiểu trưởng bán tín bán nghi, bàn với cô giáo là ông sẽ hỏi Vova một số câu hỏi về Khoa học còn cô giáo sẽ hỏi Vova về kiến thức tổng quát, nếu Vova trả lời đúng ông sẽ cho Vova lên lớp. Sau gần 1 tiếng “tra tấn” Vova bằng những câu hỏi về khoa học, câu nào Vova cũng đáp đúng hết, ông hiệu trưởng rất hài lòng và giao cho cô giáo hỏi về kiến thức tổng quát. – Cô giáo : Con gì càng lớn càng nhỏ? Ông hiệu trưởng hết hồn – Vova : Dạ con cua có càng lớn và càng nhỏ.

– Cô giáo : Cái gì trong quần em có mà cô không có? Ông hiệu trưởng xanh cả mặt. – Vova : Dạ là 2 cái túi quần.

– Cô giáo : Ở nơi đâu lông của đàn bà quăn nhiều nhất? Ông hiệu trưởng run lên. – Vova : Dạ ở Phi Châu.

– Cô giáo : Cái gì cô có ở giữa 2 chân của cô? Ông hiệu trưởng chết điếng người. – Vova : Dạ là cái đầu gối.

– Cô giáo : Cái gì trong người của cô lúc nào cũng ẩm ướt? Ông hiệu trưởng há hóc mồm ra. – Vova : Dạ là cái lưỡi.

– Cô giáo : Cái gì của cô còn nhỏ khi cô chưa có chồng và rộng lớn ra khi cô lập gia đình? Ông hiệu trưởng ra dấu không cho Vova trả lời nhưng Vova đáp ngay. – Vova : Dạ là cái giường ngủ.

– Cô giáo : Cái gì mềm mềm nhưng khi vào tay cô một hồi thì cứng lại? Ông hiệu trưởng không dám nhìn cô giáo. – Vova : Dạ là dầu sơn móng tay.

– Cô giáo : Cái gì dài dài như trái chuối, cô cầm một lúc nó chảy nước ra? Ông hiệu trưởng gần xỉu. – Vova : Dạ là cây cà lem. Ông hiệu trưởng đổ mồ hôi hột ra dấu bảo cô giáo đừng hỏi nữa và nói với Vova : – Thầy cho con lên thẳng đại học vì nãy giờ thầy đáp không trúng được câu nào hết !!!

Một Số Bài Cảm Thụ Văn Học Tham Khảo Lớp 3

MỘT SỐ BÀI CẢM THỤ VĂN HỌC THAM KHẢO LỚP 3

1. Viết về cửa sổ của ngôi nhà thân thương, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn có những câu sau:Của số là mắt của nhàNhìn lên trời rộng, nhìn ra sông dài.Cửa số là bạn của ngườiGiơ lưng che cả khoảng trời gió mưa.Hãy cho biết: Đoạn thơ đa sử dụng biện pháp nghệ thuật gì nổi bật ? Biện pháp nghệ thuật đó đa giúp em cảm nhận được điều gì ?Bài làm:Đoạn thơ trên nhà thơ đa sửng dụng biện pháp nghệ thuật nổi bật là so sánh và nhân hóa. Bằng biện pháp nghệ thuậtđó tác giả đa nói lên ý nghĩa đẹp đẽ của ngôi nhà thân thương: giúp em được sống gần gũi, chan hòa với thiên nhiên, đấtnước(“Nhìn lên trời rộng, nhìn ra sông dài”), luôn sẵn sàng giúp em vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống (“Giơlung che cả khoảng trời gió mưa”)2. Trong bài Cô Tấm của mẹ, nhà thơ Lê Lam Sơn có viết:Bao nhiêu công việc lặng thầmBàn tay của bé đỡ đần mẹ chaBé học giỏi, bé nết naBé là cô Tấm, bé là con ngoanĐoạn thơ giúp em thấy được những điều gì đẹp đẽ ?Bài làmĐoạn thơ trên đa giúp em cảm nhận được những điều đẹp đẽ của cô bé đáng yêu là: cô bé đa âm thầm lặng lẽ làm nhiều công việc đỡ đần cho mẹ cha, học hành giỏi giang, cư xử tốt với với mọi người (tính nết na). Cô bé xứng đáng là cô tấm ngoan của cha mẹ, luôn đem niềm vui, hạnh phúc đến cho mọi người.3. Trong bài Tiếng chim buổi sáng, nhà thơ Định Hải viết:Tiếng chim lay động lá cànhTiếng chim đánh thức chồi xanh dạy cùngTiếng chim vỗ cánh bầy ongTiếng chim tha nắng rải đồng vàng thơmTheo em, nhà thơ đa sử dụng biện pháp nghệ thuật gì để miêu tả tiếng chim buổi sáng ? Biện pháp nghệ thuật đó giúp emcảm nhận được tiếng chim buổi sáng có ý nghĩa như thế nào ?Bài làmTác giả đa sử dụng biện pháp nhân hóa để miêu tả tiếng chim buổi sáng. Biện pháp nhân hóa giúp ta cảm nhận được tiếng chim buổi sáng có ý nghĩa thật sâu sắc: Tiếng chim không chỉ làm cho mọi vật xung quanh trở nên tràn đầy sức sống (lay động lá cành, đánh thức chồi xanh) mà còn thôi thúc chúng đem lại lợi ích thiết thực cho mọi người (vỗ cánh bầy ong đi tìm mật cho đời, tha nắng rải đồng vàng thơm – làm nên những hạt lúa vàng nuôi sống con người).4. Nghĩ về người bà thân yêu của mình, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha có viết:Tóc bà trắng tựa mây bôngChuyện bà như giếng cạn xong lại đầy.Hãy cho biết: phép so sánh được sử dụng trong hai dòng thơ trên giúp em thấy được hình ảnh người bà như thế nào ?Bài làmPhép so sánh được sử dụng trong hai dòng thơ trên giúp em thấy: Mái tóc của bà được so sánh với hình ảnh đám “mây bông” trên cho thấy bà có vẻ đẹp hiền từ, cao quý và đang trân trọng. Chuyện của bà kể cho cháu nghe được so sánh với hình ảnh cái giếng thân thuộc ở làng quê Việt Nam cứ cạn xong lại đầy, ý nói: Kho chuyện của bà rất nhiều, không bao giờ hết, đó là những câu chuyện dành kể cho cháu nghe với tình yêu thương đẹp đẽ.

5.BÓNG MÂYHôm nay trời nắng chang changMẹ em đi cấy phơi lưng cả ngàyƯớc gì em hóa đám mâyEm che cho mẹ suốt ngày bóng râm(Thanh Hào)Đọc bài thơ trên, em thấy được những nét đẹp gì về tình cảm của người con đối với mẹ ?Bài làmQua hai câu thơ: “Hôm nay trời nắng chang chang/Mẹ em đi cấy phơi lưng cả ngày”, em thấy để nuôi con khôn lớn người mẹ đi làm trong hoàn cảnh thời tiết thật khác nghiệt (nắng chang chang) chính trong cảnh thời tiết khắc nghiệt đó em bé đa ước muốn mình làm đám mây (ước gì em hóa đám mây) để che bóng mát cho mẹ. Ước muốn đó của em bé thật hồn nhiên nhưng cũng thật cao đẹp và chứa đầy tình cảm của người con dành cho mẹ.6. Trong bài Tuổi Ngựa nhà thơ Xuân Quỳnh có viết:Tuổi con là tuổi NgựaNhưng mẹ ơi, đừng buồnDẫu cách núi cách rừngDẫu cách sông cách biểnCon tìm về với mẹNgựa con vẫn nhớ đường.Hãy cho biết : Người con muốn nói với mẹ điều gì ? Điều đó cho ta thấy tình cảm của người con đối với mẹ như thế nào ?Bài làmQua đoạn thơ, ta thấy người

Soạn Bài Bình Ngô Đại Cáo Lớp 10

(Soạn văn ) – Anh (Chị) hãy Soạn bài Bình Ngô Đại Cáo lớp 10 . ( Bài soạn của học sinh giỏi trường THPT Phan Bội Châu).

– Tác phẩm viết bằng chữ Hán: Bình Ngô Đại Cáo, ức trai thi tập.

– Tác phẩm viết bằng chữ nôm: Quốc âm Thi tập.

– Ngoài ra còn cuối: ” Dư địa chỉ” là sách địa lí cổ.

– Để lại khối lượng lớn văn chính luận.

– Với tư tưởng chủ đạo, yêu nước, thương dân.

– Tác phẩm văn chính luận đạt tới nghệ thuật mẫu mực.

– Các tác phẩm tiêu biểu: Ức trai thi tập, Quốc âm thi tập.

– Nội dung: Ghi lại chân dung Nguyễn Trãi người anh hùng vĩ đại.

. Lí tưởng cao cả: Hòa quyện nhân nghĩa, yêu nước thương dân.

. Phẩm chất, ý trí của người anh hùng.

. Sự cứng cỏi, thanh cao của người anh hùng.

– Ghi lại chân dung con người trần thế.

+ Tình yêu thiên nhiên, quê hương, gia đình, đất nước.

+ Biết đau thương trước thói đời đỏ đen.

Hoàn cảnh sáng tác: Sau khi quân ta đại thắng nhà Minh. Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết đại cáo Bình Ngô.

Thể loại: Cáo, viết theo thể văn biền ngẫu.

Mặt khác lại có sự sáng tạo Nguyễn Trãi.

– Mục đích: Công bố rộng khắp về việc dẹp yên giặc Ngô.

– Vốn là quan niệm của đạo nho, là mối quan hệ tốt đẹp, trên cơ sở tình thương đạo lí.

+ Một mặt, kế thừa, chắt lọc từ của đạo Nho.

+ Mặt khác, đêm đến một nd mới: Nhân nghĩa không chỉ là ” yêu dân” mà còn là ” trừ bạo”.

* Khẳng định chân lí độc lộc, chủ quyền của một dân tộc.

+ Phong tục, tập quán cũng khác.

+ Triều đại từng thời: Lịch sử riêng, chế độ riêng.

+ Cách sử dụng: ” Từ trước, đã lâu, đã chia”, ” đã khác…”

Sự tồn tại, hiển nhiên, vốn có lâu đời.

+ Nghệ thuật so sánh: Cùng với DC lịch sử chặt chẽ.

TL: Nêu nguyên lí chính nghĩa ở phần mở đầu bài cáo làm cơ sở, căn cứ vững chắc triển khai toàn nội dung bài cáo.

– Tố cáo âm mưu xâm lược của kẻ thù.

+ Luận điệu: Phú Trần, giệt Hồ.

+ Thực tế: Thừa cơ gây họa, mượn gió bẻ măng.

+ Hủy hoại môi trường sống.

Nội dung: Khốn khổ, điêu linh.

– Nghệ thuật viết cáo trạng:

+ Sử dụng hình ảnh có tính hình tượng:

+ Giọng văn: Nhân dân, thống thiết, uất hận.

+ Lấy cái vô hạn để diễn tả cái vô hạn ” Độc ác thay…sạch mùi”.

– Câu hỏi tu từ: ” Ai bảo thần nhân chịu được”.

Nỗi căm hờn chất chứa nhân dân.

TL: Bản cáo trạng tội ác được xây dựng trên cơ sở nhân nghĩa và lập trường dân tộc. Vì thế lời văn đanh thép, thống thiết, hùng hồn.

* Khắc họa hình tượng chủ Tướng Lê Lợi.

– Cách xưng hô ” ta đây” khiêm nhường.

– Dựa vào thiên nhiên đánh giá.

– Xuất thân: Chốn hoang dã.

– Căm giặc nước, đau lòng, nhức óc, nếm mật nằm gai, quen ăn vì giận…

– Thiếu người tài ” Tuấn kiệt…mùa thu”.

– Thiếu lương thực, lương hết mấy tuần.

– Trong khi quân địch là lúc đương mạnh.

– Cốt lõi: Sức mạnh đoàn kết.

– Đường nối chiến lược, chiến thuật, linh hoạt.

– Đề cao tư tưởng nhân nghĩa.

– Tư tưởng nhân văn tiến bộ với đương thời.

Nghệ thuật: Nhân hóa, phóng đại.

Khung cảnh chiến trường: ” Ghê gớm… phải mờ”.

– Kết quả: ” Ngày mười tám… cùng kế tự vận”.

– Phía kẻ thù: Ham sống, sợ chết, hèn nhát, thảm bại.

– Kết quả: Trí cùng lực kiệt.

– Nghệ thuật viết đoạn văn: Động từ mạnh, hình ảnh so sánh, câu văn dài ngắn.

– Đối với kẻ thù: Mở đường cứu sinh, cấp ngựa thuyền, lương thực về nước.

– Đối với quan ta: Nghỉ ngơi.

+ Muốn xác định nền thái bình vững chắc.

– Sự kết hợp sức mạnh truyền thống và sức mạnh thời đại.

Soạn Bài Tam Đại Con Gà Văn Lớp 10

I. Tiểu dẫn

Truyện cười có hai loại: Truyện khôi hài và truyện trào phúng

+ Truyện khôi hài chủ yếu nhằm mục đích giải trí (song vẫn có ý nghĩa giáo dục)

+ Truyện trào phúng: Có mục đích phê phán. Đối tượng phê phán phần lớn là các nhân vật thuộc tầng lớp trên của xã hội nông thôn Việt Nam xưa. Cũng có khá nhiều truyện cười phê phán những thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân.

_ “Tam đại con gà” và ” Nhưng nó phải bằng hai mày ” là những truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán thầy đồ dốt và quan lại tham nhũng.

II. Hướng dẫn đọc bài

1. Trong truyện “Tam đại con gà”. Nhân vật thầy liên tiếp bị đặt vào hai tình huống để bộc lộ cái dốt của mình:

+ Thầy đồ đi dạy học, khi được học sinh hỏi, vì thấy nhiều nét chữ rắc rối, không biết chữ gì nhưng vì học sinh hỏi dồn nên thấy cuống, nói liều…

Để giải quyết rắc rối, ông thầy nói liều, vì sợ sai nên bảo học trò đọc khẽ. Hài hước hơn nữa là ông thầy đồ còn viện đến sự trợ giúp của thổ công bằng cách xin đài.

+ Khi bị người nhà của học trò phát hiện thì thầy đồ ra sức chối tội, giấu cái dốt của mình bằng những lời lí luận hết sức hài hước.

Trong tình huống này, ông thầy đã chữa ngượng bằng cách lí sự cùn

Ta có thể thấy ở đây, mâu thuẫn trái tự nhiên của nhân vật thầy chính là nhân vật này dốt nhưng lại khoe giỏi, biện minh cho cái dốt của mình bằng mớ lí luận cùn, đầy hài hước.

2. Qua nhân vật thầy đồ trong truyện cười “Tam đại con gà” các tác giả dân gian đã phê phán một tật xấu trong xã hội, đó là sự dốt nát nhưng không chịu học hỏi, đó là sự giấu dốt, khoe mẽ dù không có thật. Cái dốt của nhân vật không che đậy được, càng giấu càng lộ ra, càng làm trò cười cho thiên hạ. Nghệ thuật gây cười cũng được khai thác từ chính mâu thuẫn trái tự nhiên này.

Theo chúng tôi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Lớp Một Lên Thẳng Đại Học. trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!