Đề Xuất 12/2022 # Liễu Hạnh Công Chúa « Thư Viện Đất Việt / 2023 # Top 15 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 12/2022 # Liễu Hạnh Công Chúa « Thư Viện Đất Việt / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Liễu Hạnh Công Chúa « Thư Viện Đất Việt / 2023 mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tiếp nữa là sự tích Thần Tản Viên, chép trong sách Lĩnh Nam Chích Quái như sau:

Truyện Núi Tản Viên

Núi Tản Viên ở phía tây kinh thành Thăng Long nước Nam Việt. núi cao một vạn hai ngàn ba trăm trượng, chu vi chín vạn tám nghìn sáu trăm trượng. Ba núi xếp hàng, đỉnh tròn như cái tán cho nên có tên ấy. Theo sách Ai Châu Tự của Đường tăng thì đại vương núi này là Sơn Tinh họ Nguyễn, vô cùng linh ứng. Khi hạn hán, lụt lội cầu đảo để phòng tai trừ hoạn lập tức có ứng nghiệm. Kẻ thờ cúng hết lòng thành kính. Thường thưòng vào những ngày quang đãng như có bóng cờ xí thấp thoáng trong hang núi. Dân trong vùng nói rằng đó là Sơn Thần hiển hiện. […]

Xưa kia Đại Vương thấy phong cảnh núi Tản Viên đẹp đẽ, bèn làm một con đường từ bến Bạch Phiên, đi lên phía Nam núi Tản Viên, qua động An Vệ. Ở các nguồn lạch suối đều dựng điện để nghỉ ngơi. Rồi lại đi qua ria núi đến chỏm núi có mây che thì định cư tại đó. Đôi lúc rong chơi trên sông Tiểu Hoàng Giang xem đánh cá. Phàm đi qua làng xóm đều cho dựng điện để nghỉ chân. Về sau người dân theo dấu vết các điện đó mà lập đền thờ.

Theo truyện cũ ở sách Giao Châu Ký của Lô Công, tương truyền rằng đại vương Sơn Tinh họ Nguyễn, cùng vui với loài thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện Phong Châu. Thời vua Chu Noãn Vương, vua Hùng Vương thứ XVIII đến ở đất Việt Trì, Châu Phong, lấy Quốc hiệu là Văn Lang. Vua có ngưòi con gái tên là Mỵ Nương có sắc đẹp lộng lẫy. Thục Vương Phán cầu hôn, nhà vua không đẹp ý, còn muốn kén rể hiền.

Ít lâu sau, bỗng thấy hai người xưng là Sơn Tinh và Thủy Tinh cùng đến cầu hôn. Hùng Vương truyền tỷ thí pháp thuật. Sơn Tinh chỉ núi núi lở, ra vào trong núi đá như không có gì trờ ngại. Thủy Tinh phun nước lên trời thành mây thành mưa. Vua nói:

– Hai vị đều giỏi phép thần thông, nhưng ta chỉ có một con gái, vậy ai mang sính lễ tới trước ta khắc gả cho

Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang ngọc quý, vàng bạc sơn cầm dã thú… các lể vật đến tiến vua, vua y cho. Thủy Tinh đến sau, không thấy Mỵ Nương, cả giận đem loài thủy tộc định đánh cưóp lại. Sơn Tinh bèn sai lấy lưới sắt ngăn ngang sông huyện Từ Liêm. Thủy Tinh bèn mở một giải sông Tiểu Hoàng Giang từ Lý Nhân ra Hát Giang, vào Đà Giang để đánh tậo hậu núi Tản Viên. băng qua Cam Giá, Xa Lâu, Cổ Hào, Ma Sá ở khoảng ven sông đánh sụt thành một cái vũng lớn để mở lối cho quân thủy tộc. Lại làm mưa gió mịt mù, dâng nước lên đánh Sơn Tinh. Dân ở trên núi thấy thế dựng một hàng rào đón đỡ, đánh trống gõ cối reo hò cứu viện. Thấy củi cành trôi ngoài hàng rào bèn bắn, thủy tộc chết biến thành xác ba ba thuồng luồng, trôi tắc cả khúc sông.

Về sau, hàng năm, vào khoảng tháng bẩy tháng tám, vẫn thường như vậy. Dân vùng chân núi hay bị gió to nước lớn, thiệt hại lúa má mùa màng. Người đời tương truyền rằng đó là Thủy Tinh tái dấu Sơn Tinh để trả hận xưa.

Sơn Vương được bí quyết trường sinh của thần tiên nên rất hiển linh. Đó là vị đệ nhất phúc thần của nước Đại Việt vậy.

Sách Việt Điện U Linh chép truyện Sơn Tinh theo sách Giao Chỉ Ký của Tăng Công, có nhiều chi tiết khác với bản chép trong Lĩnh Nam Chích Quái. Truyện mượn tước phong cho thần Tản Viên làm tựa đề:

Tản Viên Hựu Thánh Khuông Quốc Hiển Ứng Vương

Xét sách Giao Chỉ Ký của Tăng Công thì Vuơng là Sơn Tinh cùng với Thủy Tinh kết bạn ở ẩn trong động Gia Ninh, thuộc về Phong châu. Khi ấy, vua Hùng Vưong có một người con gái tên là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Vua nước Thục sai sứ sang cầu hôn, Hùng Vương định gả. Có quan đại thần là Lạc Hầu tâu rằng:

– Không nên! Họ định mưộn cớ cầu hôn để nhòm ngó nước ta đó!

Hùng Vương e không gả sẽ gây hiềm khích. Lạc Hầu lại tâu:

– Đại vương trị một nước đất rộng dân đông, nay kén lấy một người có tài cao thuật lạ, cho là rể, rồi đặt binh mai phục để đợi, thì còn chi lo!

Hùng vương nghe lời, không gả con gái cho vua Thục, rồi cho đi khắp nơi trong nước kén người có thuật lạ. Vương và Thủy Tinh cùng ra ứng tuyển. Hùng Vương sai thử phép thuật hai người. Vương thì trông suốt qua được ngọc đá, Thủy Tinh thì xuống nước vào lửa đều được cả. Thấy hai người cùng có thuật tinh thông, vua lấy làm mừng, bảo Lạc Hầu rằng:

– Hai người cùng đáng làm rể, nhưng ta chỉ có một công chúa, biết gả cho ai?

Lạc Hầu tâu:

– Xin vua hẹn: ai dẫn lễ cưới tớùi trước thì gả cho người ấy.

Vua nghe theo, hẹn hai người về sửa lễ. Vương vềâ, ngay đêm đò sửa soạn đủ càc thứ vàng bạc, ngọc quí, sừng tê, ngà voi cùng các giống chim muông, mỗi thứ hàng trăm, sớm hôm sau đem đến dâng vua. Hùng Vương mừng, gả luôn Mỵ Nương cho Vương, Vương đón về nghỉ tại Lôi Sơn. Đến buổi chiều, Thủy Tinh cũng sắm đủ thứ trân châu, đồi mổi, san hô, và các giống cá lạ, mỗi thứ cũng đến hàng trăm. Nhưng đến nơi thì Sơn Tinh đã đón Mỵ Nương về Lôi Sơn rồi. Thủy Tinh nổi giận sua quân đuổi theo, định phá tan Lôi Sơn. Nhưng bấy giờ Vương đã dời lên đỉnh núi Tản. Thủy Tinh không làm gì nổi. Từ đó căm thù mãi, hàng năm đến mùa thu lại dâng nước lên đánh núi Tản Viên. Dân ờ vùng ấy cùng nhau kết gỗ thành hàng rào để làm viện trợ, giữ chân núi. Thủy Tinh không sao phạm tới được. Những dấu vết của Vương rất nhiều không thế nào kể hết.

Trùng Hưng năm thứ nhất, sắc phong Hựu Thánh Vương. Năm thứ tư, gia phong thêm hai chữ Khuông Quốc, rôi lại thêm hai chữ Hiển Ứng.

Đền chính thờ Tản Viên ở huyện Bất Bạt, Sơn Tây, nay là Hà Tây.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép truyện thần Tản Viên, trong Kỷ Hồng Bàng Thị, với đôi chút khác biệt như sau:

Cuối đời Hùng Vương, vua có con gái là Mỵ Nương, người xinh đẹp. Thục Vương nghe tiếng đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng Hầu can rằng:

– Họ muốn dòm nưóc ta, mượn việc hôn nhân làm cớ thôi.

Thục Vương vì chuyện ấy để lòng căm giận. Vua muốn tìm người đáng giá, bảo bề tôi rằng:

– Đứa bé này là giống tiên, người nào có đủ tài đức mới cho làm rể.

Bấy giờ có hai người từ ngoài đến, lậy ở dưới sân rồng để cầu hôn. Vua lấy làm lạ hỏi. Đáp rằng một người là Sơn Tinh, một người là Thủy Tinh, đều ở trong cõi nước, nghe nhà vua có thánh nữ, đánh bạo tới xin mệnh lệnh. Vua nói:

– Ta có một con gái, có thể gả cho cả hai vị thế nào được!

Mới hẹn đến ngày mai vị nào đem đủ sính lễ đến trước thì gả cho. Hai người nhận lời rồi lậy tạ ra về.

Ngày mai Sơn Tinh đem châu báu vàng bạc, chim núi thú rừng, đủ các thứ đến dâng. Vua y lời gà công chúa cho Sơn Tinh. Sơn Tinh đón vợ về núi Tản Viên. Thủy Tinh cũng đem sính lễ đến sau, tức giận kéo mây làm mưa, dâng nước lên tràn ngập, đem loài thủy tộc đuổi theo. Vua cùng Sơn Tinh lấy lưới sắt chăng ngang thượng lưu sông Từ Liêm để chặn. Thủy Tinh theo dòng sông khác từ Ly Nhân vào chân núi Quảng Oai, rồi dọc theo bờ lên cửa Hát, ra sông lớn mà rẽ vào sông Đà để đánh núi Tản Viên. Chỗ nọ chỗ kia đào chằm lằm vực, chứa nước để mưu đánh úp. Sơn Tinh có phép thần biến hóa, gọi người Man đan tre làm rào để chắn nước, lấy nỏø bắn xuống, các loài thủy tộc trúng tên đều chạy trốn cả. Rốt cuộc không sao xâm phạm vào núi Tản Viên được. […]

Mỵ Nương lấy Sơn Tinh, Thục Vương căm giận dặn con cháu phải kiêm tính lấy nước Văn Lang. Đến cháu là Thục Phán dùng qủøy lược mới thắng được nước ấy.

Tục truyền rằng từ đấy về sau, Thủy Tinh hàng năm vẫn dâng nuớc lên cao tính kế trả thù Sơn Tinh.

Tự Điển Di Tích Văn HóaViệt Nam chép thánh tích Thần Tản Viên với nhiều chi tiết. Theo Tản Viên Sơn Ngọc Phả thì:

Vào cuối thời Hùng Vương, có vợ chồng một vị trưởng lão ở Sơn Tây, cả đời sống hiền lành nhân đức. Một lần nhìn thấy rồng hiện xuống hút nước lão bà bỗng thấy trong người cảm động, mang thai và 14 tháng sau sinh con trai, đặt tên là Nguyễn Tuấn hay còn gọi là Nguyễn Tùng. Năm Nguyễn Tuấn lên sáu tuổi thì Nguyễn trưởng lảo qua đời. Hai mẹ con tới nương nhờ bà Ma Thị Cao, con gái thần núi Tản Viên. Bà Cao nhận Nguyễn Tuấn làn con nuôi. Thủa niên thiếu, Tuấn lên núi chặt cây gặp thần Thái Bạch, và được thần cho một cây gậy và dậy cho một câu thần chú để cứu đời. Sau đó, Tuấn lại cứu sống một con rắn, nguyên là con Long Vương, bị trẻ chăn trâu đuổi đánh,.Vi thế Tuấn được Long Vương cho một cuốn thiên thư, xem có thể hiểu thấu mọi việc trên trới dưới đất. Khi bà Cao sắp qua đới, bà phong cho Nguyễn Tuấn cai quản muôn vật trên núi Tản Viên, người đời gọi là Sơn Tinh… Gặp khi vua Hùng Duệ Vương kén chồng cho công chúa Mỵ Nương, Sơn Tinh thắng Thủy Tinh và được phong làm phò mã. […]

Về sau, vua Thục đem quân sang đánh Hùng Duệ Vương. Vua sai Sơn Tinh đi dẹp giặc, nhờ có gậy thần, Sơn Tinh phá được quân Thục. Nhân đó Sơn Tinh được vua Hùng trao quyền trị nước. Sơn Tinh chỉ nhận chức trong ít ngày rồi xin vua cho đi chu du khắp nơi trong nước. Về sau, vua Thục sang cầu hòa. Sơn Tinh nghĩ là vua Thục với vua Hùng cùng một dòng dõi, nên khuyên vua Hùng truyền ngôi cho vua Thục. Rồi đó vợ chồng Tản Viên cùng Hùng Duệ Vương cỡi mây bay về trời. Thục Vương nhớ ơn ấy bèn cho lập đền thờ. Đời sau người đời gọi Sơn Tinh là vị tổ của bách thần nước ta.

Qua sự tích Chử Đồng Tử, Phù Đổng Thiên Vương, Thần Tản Viên và công chúa Liễu Hạnh, người đọc thấy hình ảnh bất tử trong sự tích Chử Đồng TửÛ, Phù Đổng Thiên Vương cùng thần núi Tản Viên tức Sơn Tinh và công chúa Liễu Hạnh lần lượt là hình ảnh bốn vị thần linh này cùng bay lên trời. Hình ảnh bay lên trời này hẳn là một hình ảnh quan trọng, vì chính vì hình ảnh này mà vua Lý Nhân Tông đã gia phong thêm hai chữ Xung Thiên cho Phù Đổng Thiên Vương.

Trong tiếng Việt Nam, đại chúng có câu:

Tháng tám giỗ cha tháng ba giỗ Mẹ

Cha là tiếng đại chúng chỉ Đức Trần Hưng Đạo, giỗ nhằm ngày 20 tháng tám âm lịch, tín chúng đông đảo trẩy hội tại đền Kiếp Bạc, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương. Ngoài ra, ngày đó cũng là ngày hội lớn tại đền Bảo Lộc, ở làng Tức Mạc, tỉnh Nam Định, quê tổ của dòng họ Trần. Mẹ là Đức Thánh Mẫu Phủ Giầy, giỗ ngày 3 thàng 3 âm lịch.

Đức Trần Hưng Đạo, tên là Trần Quốc Tuấn, con của An Sinh Vương Trần Liễu tức anh vua Trần Thái Tôn. Dưới triều vua Trần Nhân Tôn, quân nhà Nguyên hai lần (1284-1285) và (1287-1288) sang xâm chiếm nước Đại Việt ta, ông đươc vua cử làm Tiết Chế thống lĩnh chư quân, dẹp tan quân Mông Cổ, và được phong là Hưng Đạo Đại Vương. Đức Thánh Trần Hưng Đạo, không những là một vị tướng đại tài, còn là một nhà quân sự xuất chúng sáng tác cuốn Binh Thư Yếu Lược, tóm tắt những điều cốt yếu về các sách dụng binh, ngoài ra ngài còn soạn bài Hịch Tướng Sĩ, một áng hùng văn không có áng hùng văn nào sánh kịp trong nền văn học nước nhà. Đằng khác, trong tín ngưỡng đại chúng, Sách Việt Điện U Linh của Lý Tế Xuyên, phần phụ lục do Ngô Giáp Đậu trùng bổ, chép truyện về Đức Thánh Trần Hưng Đạo, nguyên văn chữ nho, và Trịnh Đình Rư dịch như sau:

Trần Triều Hưng Đạo Đại Vương

Vương họ Trần, tên là Quốc Tuấn, con An Sinh Vương Liễu, được phong là Hưng Đạo Đại Vương.

An Sinh Vương với vua Trần Thái Tông có hiềm khích, khi sắp mất, cầm tay vương dặên rằng:

– Nếu con không vì cha mà lấy thiên hạ thì cha chết không nhắm mắt.

Vương suy nghĩ kỹ, hành động rất cẩn thận. Trong thời Trùng Hưng(1285-1292), đánh phá quân Nguyên hai lần, dựng nên vũ công bậc nhất thời ấy. Khi mất vua sai lập đền thờ.

Vềâ sau hễ có giặêc đến, rước kiếm trong đền ra trận tất đại thắng. Đền thờ Vương trị bệnh Phạm Nhan rất thần hiệu. Tục truyền: Nhan họ

Nguyễn, tự là Bá Linh, cha hắn là khách buôn ở Quảng Đông, mẹ là người làng An Bài nước ta. Nhan thi đậu tiến sĩ đời Nguyên, biết thuật phù thủy, thường lẻn vào hậu cung, bị bắt, sắp đem giết. Ngay khi đó, gặp lúc nhà Nguyên cất quân sang đánh nước ta, Nhan xin với vua Nguyên làm hướng đạo để chuộc tội. Vua Nguyên thuận cho.

Trong trận Bạch Đằng, Nhan bị Hưng Đạo Vương bắt sống, đem về hành hình tại làng mẹ, đầu vứt xuống sông.

Có hai người đánh cá vớt được, quằng đi mấy lần, đầu lại vào lưới.Thấy lạ, người đánh cá mới khấn rằng: Hồn có thiêng giúp bọn tôi đuợc nhiều cá, thờ sẽ mai táng cho. Hôm ấy quả được cá rất nhiều. Bèn mang đầu lên bờ mai táng. Hồn rất thiêng, thường hiện lên cùng bọn đánh cá chơi đùa, lâu ngày thành quen, mọi người lập đ mới khấn

Trước khi Nhan bị hành hình có hỏi Đại Vương rằng:

– Sau khi tôi chết Đại Vương cho ăn gì?

Đại Vương nổi giận nói:

– Cho mi ăn sản huyết đàn bà.

Sau đó hồn Nhan đi khắp trong nước, hễ thấy đàn bà đến kỳ thai sản thì đi theo, làm cho người ấy ốm đau liên miên không thuốc nào chữa khỏi. Nhưng hễ người nhà lên lễ đền Đại Vương, xin mảnh chiếu cũ trong đền đem về cho bệnh nhân nằm và lấy tàn hương ở đền, đem hòa nước cho uống thì liền khỏi bệnh. Có người vừa đem mảnh chiếu về đến nhà thì bệnh nhân đã khỏi bệnh. Sự anh linh ứng nghiệm kỳ lạ phần lớn là thế.

Trong Quyển V, Kỷ nhà Trần Thái Tôn Hoàng Đế, sử cũ ghi lại hình ảnh Trần Quốc Tuấn thời trẻ như sau:

Năm Tân Hợi (1251) , vua [Trần Thái Tôn] đem trưởng công chúa Thiên Thành gả cho Trung Thân Vương (không rõ tên). Con trai An Sinh Vương là Quốc Tuấn lập tâm cướp công chúa. Ngày 15 tháng ấy vua mở đại hội bẩy ngày đêm, bày các đồ làm lễ kết tóc cùng các trò chơi, cho người trong triều ngoài nội chơi xem, ý muốn cho công chúa Thiên Thành làm lễ kết tóc với Trung Thành Vương. Trước cho công chúa Thiên Thành ở nhà của Nhân Đạo Vương (Nhân Đạo Vương là cha sinh ra Trung Thành Vương). Quốc Tuấn muốn lấy công chúa Thiên Thành mà không làm sao được, nhân ban đêm lẻn vào phòng công chúa. Công chúa Thụy Bà (chị ruột vua Trần Thái Tôn, cô ruột của Quốc Tuấn, nuôi Quốc Tuấn làm con) liền đến gõ cửa điện cấp cáo. Người coi cửa vội vào tâu , vua hỏi chuyện gì. Thụy Bà trả lời: Không ngờ Quốc Tuấn điên cuồng càn giỡ, đang đêm vào chỗ Thiên Thành ở, Nhân Đạo Vương đã bắt giữ rồi, sợ bị giết, xin bệ hạ thương cho mà sai người đến cứu. Vua vội vã sai người tới nhà Nhân Đạo Vương. Đến nơi thấy im lặng, bèn tới chỗ công chúa Thiên Thành ở thì thấy Quốc Tuấn ở đấy. Nhân Đạo Vương bấy giờ mới biết truyện. Hôm sau Thụy Bà dâng mười mâm vàng sống tâu rằng: “Vì vội vàng không sắm đủ lễ vật.” Vua bất đắc dĩ đem công chúa Thiên Thành gả cho Quốc Tuấn, lấy 2000 khoảng ruộng Ứng Thiên để trả của cho Trung Thành Vươ trả

Nhưng 34 năm sau, nhằm năm ất dậu (1285) nhân kỳ quân Nguyên đánh vào bến Vạn Kiếp và núi Phả Lại, quan quân nhà Trần chạy tan tác. Sử cũ ghi lại một hình ảnh mô tả hành động cẩn thận của Trần Quốc Tuấn như sau:

Thế quân giặc bức bách, vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến nguồn Tam Trĩ, sai người chở thuyền ngự ra Ngọc Sơn để đánh lừa quân giặc. Lúc ấy xa giá nhà vua phiêu giạt, mà Quốc Tuấn vốn tự phụ kỳ tài, lại có mối hiềm của An Sinh Vương, mọi người có ý ngờ vực. Quốc Tuấn theo vua, tay cầm cái gậy, đầu có sắt nhọn, mọi người gườm mắt nhìn, Quốc Tuấn bèn vứt cái sắt nhọn đi, chì cầm gậy thôi.

Rồi chín năm sau, năm giáp ngọ (1294) dưới triều vua Trần Anh Tôn, nhân dịp Chiêu Minh Vương chết, sử cũ còn ghi thêm một hình ảnh khác biểu lộ hành động cẩn thận của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn như sau:

Trước kia, vua Trần Thánh Tôn thân đi đánh giặc, Quang Khải theo hầu, ngôi Từ Đồ bỏ chống. vừa gặêp sứ phương Bắc sang, thượng hoàng Trần Thái Tông gọi Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn bảo rằng: Thượng Tướng đng Quốc Tuấn bảo rằng: ?Thượng cho khanh làm Tư Đồ để tiếp ứng sứ phương Bắc. Quốc Tuấn trả lời: Việc tiếp ứng sứ phương Bắc, thần không dám từ chối, còn việc cho thần làm Tư Đồ thì thần không dám vâng chiếu. Quan gia đi đánh giặc xa, Quang Khải theo hầu, nay thượng hoàng phong cho thần chức ấy, thì tình nghĩa trên dưới sợ có chỗ chưa ổn, không được thỏa lòng quan gia và Bắc?. Quốc

Đối chiếu văn giáng bút của Thánh Mẫu Phủ Giầy với những hình ảnh đức Thánh Trần Hưng Đạo người đọc sử cổ không khỏi không nhận ra những hình ảnh đức Thánh Trần ghi chép trong sử cổ chẳng khác gì những tấm gương sáng biểu thị lời khuyến thiện trong văn giáng bút khiến người theo đạo Thánh theo đó tu thân sửa tính, buông danh bỏ lợi để cuộc sống thanh nhàn an lạc.

Đằng khác, bản văn nhấn mạnh về sự linh ứng trong việc đến lễ bái xin tàn hương nước thải chữa bệnh tại đền Kiếp Bạc, như vậy rõ là, theo tập tục của đại chúng, Thánh Mẫu Phủ Giầy cũng ban phép lạ cải tử hoàn sinh, tiêu trừ phiền não tựa như đức Thánh Trần Hưng Đạo cũng như Đạo Tổ Chử Đồng Tử vàTây Điện Thánh Mẫu.

Sự việc đại chúng còn tôn vinh công chúa Liễu Hạnh là Thánh Mẫu, hay vắn tắt là Mẹ ngang hàng với Đức Thánh Trần, một vị tướng lãnh hiểàn hách trong lịch sử dân tộc, mà người người gọi bằng Cha, khiến người Việt Nam không thể không nhận thấy cả nước là một nhà, cùng một cha một mẹ. Ngược lại tục gọi công chúa Liễu Hạnh là mẹ và đức Trần Hưng Đạo là cha dường như biểu thị lòng đại chúng sùng kính hai vị thánh này như lòng người người thờ kính cha mẹ ruột của mình.

Sự tích Công Chúa Liễu Hạnh, trong dòng văn học đại chúng, còn là đề tài của nhiều bài hát, kèm đàn họa, ca tụng thần thánh trong việc cúng bái hay hầu bóng, quen gọi là những bài chầu văn. Bài chầu văn ca tụng Công Chúa Liễu Hạnh phổ thông nhất là bài Địa Tiên Thánh Mẫu Văn gồm 152 câu. Bài chầu văn này không theo sát với sự tích Công Chúa Liễu Hạnh trong truyện truyền khẩu.

Muời câu mở đầu bài chầu văn:

1Bóng gương loan mẫu đơn một đoá Gió lay mành hương xạ thoảng đưa Có chầu nguyệt điện tiên xưa Lánh miền cõi tục phận ưa Nam Thành 5Kiếp giáng sinh vào nhà Lê thị Cải họ trần dấu khí thiên hương Vốn sinh vẻ có phi phương Giá danh đòi một hoa vương khôn bì Ngụ thai quê phủ Giầy Thiên Bản 10Phủ Nghĩa Hưng là quán Sơn Nam

giới thiệu gia đình cha đẻ và cha nuôi Công Chúa Liễu Hạnh, nhưng không nhắc tới giấc mơ lên thiên đình của Lê Thái Công. Tình tiết mối duyên trần giữa công chúa Liễu Hạnh và Đào Lang, và sự thương xót công chúa khi về chầu Ngọc Hoàng lầân thứ nhất, rồi lại giáng lâm xuống trần về thăm cha mẹ và Đào Lang, thu gọn trong 14 câu: từ câu 11 tới câu 24. Từ câu 25 tới câu 41 là đoạn mô tả mô tả cuộc vân du của Công Chúa Liễu Hạnh khắp vùng Đồi Ngang Núi Cát, ban phúc cho người lành trừng phạt kẻ ác. Đoạn tiếp, từ câu 42 tớùi câu 54, kể lại cuộc tái hợp tại trần gian với Đào Lang tại vùng Nghệ An. Điểm đáng chú ý là tác giả bài chầu văn lấy việc Công Chúa Liễu Hạnh bỏ chồng bỏ con còn nhỏ dại đi vân du làm hình ảnh cho chữ vô thường trong cõi trần gian:

Chữ sắc không xem thường mới biết Lấy của gì là kiếp là chăng

Mười câu tiếp, từ câu 55 tới câu 65, kể lại tình tiết công chúa Liễu Hạnh ra ân ra uy khiến dân vùng Đồi Ngang Phố Cát lập đền thờ và tiếng đồn vềâ công chúa ra tới kinh đô. Từ câu 66 đến câu 79, là đoạn tả cuộc hành quân cả quân vua lẫn âm binh tới đốt phá đền thờ công chúa Liễu Hạnh. Tiếp tới một đoạn dài 40 câu kể lại truyện Ngọc Hoàng phạt dân bất kính với công chúa và gây ra dịch tễ khiến dân chúng phải xin triều đình cho tái lập đền thờ và phong thần cho công chúa, từ đó dân gian mới thoát tai ách. 32 câu tiếp bài chầu văn ca tụng hình ảnh công chúa nhập vào người hầu bóng Thánh Mẫu.

Không những chỉ làm đầu đề cho những tác phẩm đại chúng, cũng như không những công chúa Liễu Hạnh đã được đại chúng tôn vinh ngang hàng với các vị thần linh bất tử có công mở nước, ngang hàng với các vị thánh có công giữ nưóc, lấy làm thần tượng tôn thờ để cầu xin phù hộ độ trì, mà công chúa Liễu Hạnh còn là nguồn cảm hứng của những văn nhân vốn được đại chúng ưa chuộng.

Một trong những văn nhân đó là Hồng Hà Phu Nhân, khuê danh Đoàn Thị Điểm, viết Vân Cát Thần Nữ Lục, trong tập Truyền Kỳ Tân Phổ. Năm 1914, Đào Thái Hanh viết La Déesse Liễu Hạnh trong tập san Bulletin des Amis du Vieux Huế, dựa trên sách của Đoàn Thị Điểm đồng thời tham khảo các sách Thanh Hoá Kỷ Thắng của Vương Duy Trinh, cùng Dã Sử, Đại Nam Nhất Thống Chí và Hoàng Việt Địa Dư. Năm 1944, Nguyễn Văn Huyên, viết sự tích Thánh Mẫu Phủ Giầy, dựa theo cuốn Hội Chân Biên, của Thanh Hòa Tử, xuất bản năm Thiệu Trị thứ 7, 1947. thành cuốn Le Culte des Immortels en Annam, tiếc rằng cuốn Hội Chân Biên này không còn thấy ghi trong thư mục các sách Hán Nôm của trường Viễn Đông Bác Co.ã Gần đây, Olga Dror viết luận văn Đoàn Thị Điểms ‘Story of the Vân Cát Goddess’ as a Story of Emancipation, trên tập san Journal of Southest Asian Studies, vol. 33, #1, tháng hai 2002. Mục đích của Olga Dror là phân tách truyện Vân Cát Thần Nữ của Đoàn Thị Điểm để chứng minh rằng Đoàn Thị Đểm viết truyện này với ước vọng giải phóng phụ nữ. Do đó, mặêc dầu Olga Dror đã xuất sắc phân tách Vân Cát Thần Nữ Tân Truyện cũng không cùng người đọc tìm hiểu trên các mặt truyền kỳ thần thoại cũng như tín ngưỡng bao gồm trong tác phẩm của Đoàn thị Điểm. Dựa theo cuốn Vân Cát Thần Nữ do Vũ Ngọc Khánh chủ biên truyện công chúa Liễu Hạnh tóm lược như sau:

Tại làng Vân Cát, huyện Thiện Bản tỉnh Nam Định, có nhà hằng tâm hằng sản Lê Thái Công, dốc lòng thờ Thượng Đế và chuyên lo làm phúc. Dầu tuổi đã quá bốn mươi, ông mới chỉ có một con còn nhỏ tuổi. Vào năm Thiên HựÏu đời Lê (1557) Thái Bà có tin mừng, nhưng gần tới cữ bỗng mang bệnh, mặc dầu nhiều thầy nhiều thuốc bệnh vẫn một ngày một thêm nặng, bỏ ăn bỏ uống chỉ còn thiết ngửi hương hoa.

Trung thu năm đó, tiết trời trong sáng. Một đêm, có người áo lá mũ rơm tới gọi cổng nhà Lê Thái Công, nói là muốn ra mắt gia chủ chữa bệnh cho Thái Bà. Ngưòi nhà không mở cổng. Người đó lớùn tiếng nói rằng:

– Ta từ cõi âm về đây, thấy gia chủ là người phúc thiện, muốn ra tay trợ giúp, cớ sao xua đuổi ta?

Lê Thái Công, nghe thấy vậy, thân ra mở cồng mời vào. Khách xõa tóc, niệm thần chú, rồi ném chiếc búa ngọc cầm trong tay xuống đất. Tức thời Lê Thái Công ngã xuống ngủ thiếp. Trong mơ, Lê Thái Công thấy như hồn lìa khỏi thân, bổng bay theo ba người dẫn đường. Quanh ông chỉ có ánh sáng bàng bạc như ánh trăng. Chẳng bao lâu bốn người tới một cổng thành vĩ đại. Qua cổng thành, ca bốn người cùng thay đổi áo quần, rối tiếp tục leo lên chín bậc cung trời.

Qua khe cửa sổ, Lê Thái Công nhìn thấy Ngọc Hoàng ngự trên ngai vàng, hai bên tả hữu có đủ mặt quần thần sắp hàng đứng chầu. Tất cả đều trang phục áo triều giát vàng đính ngọc, kim cương lộng lẫy.Trên mâm ngọc đặt trước ngai rồng có những trái đào mới hái tự Dao Trì, ăn vào sẽ trường sinh, lại có nậm rượu thần tiên uống vào sẽ bất tử. Theo tiếng nhạc Quân Thiều, một đoàn tiên nữ uyển chuyển múa khúc Nghê Thường. Rồi có một tiên cô, xiêm áo một mầu hồng, tay nâng chén ngọc tha thướt bước ra dâng rượu lên Ngọc Hoàng. Bỗng nhiên, chén ngọc rớt khỏi tay tiên vỡ tan trên thềm. Quần thần đều hướng mắt nhìn tiên cô áo hồng. Từ bên trái sân rồng tiến ra một vị thần, qùy trước ngai rồng, lên tiếng đọc một đoạn muời hai chữ trong một cuốn sách vàng. Không khí sân rồng căng thẳng sơ ï hãi. Rồi từ điện trên có lời phán:

– Ngươi thực không muốn ở chốn thượng giới đây nữa .

Tức thời có hai hộ sĩ cùng một bầy tiên nữ quây quanh tiên cô áo hồng, dẫn nàng đi ra khỏi sân rồng bằng lối cửa Bắc. Đi đầu đám quần tiên là một tấm bẳêng viết chữ thiếp vàng, nhưng từ xa Lê Thái Công chỉ đọc đươc hai chữ sắc giáng. Ông hỏi nhỏ người dẫn đường truyện gì vậy? Họ trả lời ông là Quỳnh Nương công chúa, lỡ đánh vỡ chén ngọc nên bị đầy xuống hạ giới. Liền đó có một vị thần bước ra khỏi điện lớn tiếng dọa nạt:

– Các người là ai? Sao dám đến đây xầm xì?

Ba người dẫn lối thưa:

– Chúng con là bọn ngũ lôi thần binh, đang đợi lệnh ngọc hoàng.

Nói đoạn, họ bèn kéo Lê Thái Công bay về hạ giới. Lê Thái Công bừng tỉnh, trong lòng khấp khởi mừng rỡ vì Thái Bà đã khỏi bệnh. Khắp nhà ngào ngạt hương thơm và lồng lộng ánh sáng như trên thượng giới. Người nhà báo tin Thái Bà hạ sinh con gái. Lê Thái Công sai tìm người khách lạ, nhưng khách đã biệt tăm cùng chiếc búa ngọc. Nhớ lại cảnh chính mắt nhìn thấy trên thượng giới, Lê Thái Công tin chắc là công chúa Quỳnh Nương vừa giáng lâm vào nhà ông, và ông đặt tên con là Giáng Tiên.

Đến tuổi dậy thì, Giáng Tiên mình thắt đáy lưng ong, da trắng như tuyết, tóc mây óng mưọt, mày ngài tựa liềm trăng, mắt sáng như nước hồ thu. Tóm lại nàng là một tuyệt sắùc giai nhân mà

không có bút thần nào tả trọn vẹn nổi. Nàng còn giỏi thơ phú xướng họa, đàn sáo ngũ cung chẳng món nào chẳng thạo. Tính tới truyện gả chồng cho con, Lê Thái Công cho Giáng Tiên sang làm con nuôi Trần Công, một ông bạn thiết ở cùng làng.

Giáp nhà Trần công, có một vị hưu quan hiếm muộn không có con trai. Tuy nhiên hai mươi năm về trước, quan ngài nhân dạo chơi trong vưòn thấy một đứa bé trai bỏ rơi dưới gốc đào, bèn bế về nhận làm con nuôi đặt tên là Đào Lang. Khi Giáng Tiên về làm con nuôi Trần Công, thời Đào Lang đã tới tuổi trưởng thành. Vị hưu quan trọng tài sắc cùng đức hạnh Giáng Tiên ngỏ ý cùng Trần Công xin cưới Giang Tiên cho Đào Lang. Lê Thái Công cùng Trần Công hoan hỉ gả Giáng Tiên cho người cùng làng.

Sau lễ cưới, Giáng Tiên cùng chồng sống trong cảnh hòa thuận tương kính. Cha mẹ đôi bên cùng khen đôi trẻ hiếu thảo. Năm sau Giáng Tiên sinh một con trai, rồi thấm thoăùt ba năm trôi qua kể từ ngày nàng về làm vợ Đào Lang. Tới ngày mùng ba tháng ba, không đau không ốm, Giáng Tiên, vừa tròn hai mươi mốt tuổi, bỗng đột ngột từ trần, để trống vắng thương nhớ cho chồng trẻ và cha mẹ già, nhưng riêng nàng thì thời hạn lưu đầy xuống trền thế đã mãn và được phép quay lại thượng giới.

Về tùới thượng giới, nhưng lòng Giáng Tiên còn vương vấn cõi trần, mặt ủ mày chau, lẹ rơi ướt má. Quần tiên không có cách nào hơn là xin Ngọc Hoàng cho Giáng Tiên tái giáng trần. Ngọc Hoàng ưng thuận và phong nàng làm Liễu Hạnh Công Chúa.Tiên Chúa vâng lệnh, trở lại trần gian đúng hai năm, vào kỳ mãn tang nàng và hiện về nhà cha mẹ ruột.

Từ ngày Giáng tiên về trời, Thái Bà không lúc nào không thương nhớ đứa con vắn số. Xế trưa đó, Thái Bà vào phòng riêng con gái khi xưa, bà thấy cây đàn của Giáng Tiên nay đầy mạng nhện, ống sáo của nàng mốc phủ xanh, mấy bài thơ đắc ý dán trên tường giấy đã vàng mực đã nhòe. Thái Bà mủi lòng thổn thức ngất xỉu. Tiên Chúa hiện ra trên ngưỡng cửa reo lên:

– Mẹ ơi! Xin mẹ đừng quá thương con. Con về với mẹ đây.

Thái Bà xửng xốt:

– Con từ đâu về đây? Con chưa chết thật sao?

Tiên Chúa, chan hoà nước măt, nhìn mẹ nói không ra lời. Lê Thái Công, cùng Trần Công và Đoàn Lang, người anh của Tiên Chúa, nghe tin

mừng mừng tủi tủi vội chạy tới. Tiên Chúa qùy xuống dưới chân cha mẹ và thưa:

– Con thật bất hiếu, để sầu khổ cho cha mẹ, chẳng phải con không muốn sống nơi đây trong sự nuông chiều của cha mẹ, nhưng mà trong cõi trần này ai tránh khỏi số. Xin cha mẹ đừng buồn và xin cha mẹ đừng thương nhớ con nữa.

Nói lời, rồi Tiên Chúa quay sang dặên dò anh phải hết lòng thờ phụng cha mẹ, rồi bước ra cửa. Trần Công, cha nuôi của Tiên Chúa, dơ tay giữ nàng lại và hỏi:

– Từ ngày con từ trần, cả nhà cùng thương nhớ con. Nay con về đây, hãy nán lại, đi đâu mà vội vàng thế?

Tiên Chúa thưa:

– Thưa thầy, con chẳng dám dấu thầy, con là con gái Ngọc Hoàng, vì lầm lỗi, bị giáng xuống trần, nay con mãn hạn lại phải quay về thượng giới. Hôm nay con về thăm thầy và cha mẹ con, vì con không quên được những ngày sống dưới gối cha mẹ con và thầy. Nay con chỉ là hồn không xác, không sao ở lâu trên dương trần này được. Thầy cũng như cha mẹ con đều là những người phúc thiện, con chắc là rồi còn được gặp lại thầy và cha mẹ nơi thượng giới.

Dứt lời Tiên Chúa biến mất.

Về phần Đào Lang, sau khi vợ chết ít lâu, chàng bỏ làng mang con về sống tại kinh đô. Chàng sống tại một nơi hẻo lánh, chẳng còn màng gì đến việc đèn sách học hành. Một đêm mùa thu, dưới mái nhà tranh, trong ánh đèn mờ, chàng ngâm hai câu thơ cám cảnh, ru con ngủ, bỗng nghe có tiếng gõ của. Đào Lang mở cửa và thấy người vợ vắn số hiện trưóc măt. Chàng nắm áo vợ và nói:

– Từ ngày âm dương đôi ngả, không những ta mất người vợ hiền, mà còn mất cả người cùng ta chia sẻ lẽ sống. Vết thương lòng không phương hàn gắn. Chẳng còn gì ràng buộc ta với cõi đời này nữa. Không có nàng ta sống cũng như chết trong sầu thương.

Tiên Chúa đáp lời

– Xin chàng chớ nhầm. Lòng vả cũng như lòng sung. Chẳng ai chôn vùi tương lai trong cảnh góa bụa. Chàng còn cha mẹ già để thờ phụng, còn đứa con thơ để nuôi dậy cho nên người. Trách nhiệm đó trao cho ai mà chàng tính truyện đi theo thiếp. Chẳng dấu gì chàng, thiếp vốn là công chúa con Ngọc Hoàng, và chàng vốn là Đế Sở Tinh Tào. Sách trời đã định là cuộc xum họp giữa đôi ta đến đây tạm ngưng, hai chục năm nữa chúng mình lại tái hợp xin chàng đừng quá lo.

Tiên Chúa ở lại bên Đào Lang hết đêm đó. Sáng sớm hôm sau, sau khi nhắc nhờ Đào Lang phải giữ tròn chữ hiếu với cha mẹ già, Tiên Chúa bay bổng biến mất trong mây.

Từ bữa đó, Tiên Chúa vân du khắp chốn, biến hiện khôn lường. Đôi khi hiện làm cô gái đẹp thổi sáo dưới trăng. Có lần hiện làm bà lão ngồi kề bóng tre bên vệ đường. Bất kỳ ai lên tiếng trọc ghẹo đều mang vạ.Vàng lụa do người được Tiên Chúa phù hộ tiến dâng, Tiên Chúa thường mang về kính biếu đỡ đần cha me. Hai năm sau, cha mẹ ruột cùng cha nuôi lần lượt qua đời. Năm sau đến lượt Đào Lang. Chỉ còn người anh Tiên Chúa trông nom đứa con nhỏ của Tiên Chúa.

Từ đó không còn ràng buộc với cõi trần, Tiên Chúa vân du khắp chốn danh lam thắng cảnh khắp nơi trong nước. Tiên Chúa lên vùng Lạng Sơn thăm chùa cổ trong động đá. Tiên Chúa viếng cảnh núi sông rộng, cùng chốn chợ búa đông đúc, như chợ Hoà Nhai, thành Hoành Đình, tháp Báo Thiên, bến Đông Tân Nơi nơi Tiên Chúa đều giáng bút lưu niệm. Một ngày nọ, Tiên Chúa hiện làm chủ quán rượu bên Hồ Tây, trong một buổi xế trưa cùng Phùng Sinh, Ngô Sinh và Lý Sinh làm thơ liên hoàn vịnh cảnh hồ. Sau đó ba nhà thơ quay lại chốn cũ, thì chằng còn thấy quán hôm trước mà chỉ còn nghe tiếng ve than trên cây tiếng ếch kêu ven nước. Đọc lại bài thơ liên cú cùng làm bữa trước ba người nhận ra cô chủ quán không phải là nàng Thơ, không phải là nữ thần Hồ Tây mà chính là Công Chúa Liễu Hạnh.

Ít năm sau Tiên Chúa hiện ra tại làng Sóc Hương, thuôc tỉnh Nghệ An. Sóc Hương có cảnh thanh tú. Mạn Bắc có một giải núi, trong thung lũng có một con suối uốn khúc, hai bên bờ suốiø là một vườn đào cành lá xum xuê.Đang giữa mùa hè, trời nắng trang trang nung nóng cát mà vẫn thoang thoảng gió mát. Tiên Chúa ngồi dưới gốc đào, tầm mắt đảo từ rặng núi xa, về dòng suối trong vắt và rặng đào lá xanh hoa thắm. Trên cành ríu rít tiếng chim, dưới khe tung tăng cá lội, hoa đào từng cánh từng cánh rụng xuống lòng suối chẩy triền miên. Cảnh xinh làm Tiên Chúa nhớ lại những ngày sống trên thượng giới, Để xua đuổi nỗi nhớ, Tiên Chúa dạo bước trong rừng đào. Vừng ô dần khuất sau núi, và bóng chiều dần xuống mỗi lúc một dầy. Tiên Chúa trầm mình trong cõi mộng. Bỗng nhiên, tới cuối đường mòn Tiên Chúa găp một nho sinh, tuổi chừng đôi mươi, hình dáng nho nhã, tay cắp sách, đang rảo bước về xóm Đoài. Tiên Chúa lên tiếng hỏi thăm đường. Chàng thư sinh dường không nghe thấy tiếp tục tiến bước không trả lời. Tiên Chúa nhận ra chàng thư sinh là hoá thân của Đào Lang, bèn rút trâm vạch trên thân cây một bài thơ tặng chàng. Chàng nho sinh chính là Đào Lang tái sinh vào một gia đình nề nếp, nhưng chẳng may loạn lạc đã khiến thành một chàng trai mồ côi không còn nơi nương tựa. Tuy nhiên trong cảnh bần hàn, chàng vẫn theo học mấy vị túc nho trong làng. Chiều đó, từ trường về chàng đã gặp Tiên Chúa.

Mấy bữa sau, cũng từ trường về, Đào Lang chợt dừng bước tại khúc đường mà bữa trước chàng gặp người phụ nữ hỏi thăm đường. Chàng chợt thấy bài thơ khắc trên thân cây đào. Đọc kỹ bài thơ chàng chắc chắn là tác giả bài thơ đó không ai khác là thiếu phụ hỏi đường bữa trước. chàng liền họa nguyên vận và khắc bài họa cạnh bài xướng. Rồi chàng thơ thẩn quên về dầu trời chiều đã nhọ măt người. Liền mấy ngày sau, trời mưa không dứt, khiến Đào Lang buồn bực chịu trói chân ở nhà. Khi trời mới hừng nắng, chàng vội chạy ra gốc đào thăm hai bài thơ khắc trên cây sau trận mưa ngâu. Thấy hai bài thơ khắc trên cây, nét chữ còn tươi khiến chàng mừng trong dạ, nhưng đồng thời như mê mẩn không muốn dời bước. Chợât chàng nghe tiếng bước chân tới gần sau lưng, quay lại thì chàng nhìn thấy Tiên Chúa. Sau lời chào hỏi thường lệ, cùng lời khen tụng hai bài thư xướng họa, câu truyện giữa hai người quay về buổi gặp gỡ lần đầu.

Tiên chúa nói:

– Thiếp là con là khoa hoạn, ở cách đây không xa. Cha mẹ khuất núi, thiếp dời về đây.

Đào Lang trả lời:

– Ta cũng cùng một cảnh côi cút như nàng, và chưa tính tới truyện tạo đoan. Ta ước ao cùng nàng kết nghĩa.

Tiên Chúa nhìn xuống, đỏ mặt không đáp. Thế rồi, đêm đó trời sáng sao, giải Ngân Hà rực rỡ như chưa từng thấy; gió mát hây hẩy, bụi hồng ngát hương. Tiên Chúa và Đào Lang thành vợ thành chồng. Một năm sau Tiên Chúa hạ sinh con trai.

Từ ngày lấy vợ Đào Lang sao lãng việc học mà chỉ mê mải làm thơ. Rồi tới một chiều, Đào Lang về tới nhà chậm hơn mọi ngày, cháng đưa roi thơ cho Tiên Chúa đang ngồi dệt bên khung cửu. Tiên Chúa dịu dàng nói:

– Thơ chàng thật chẳng ai sánh kịp. Nhưng không phải vì thơ mà chàng mài miệt bút nghiên bấy lâu nay. Nhưng xin chàng nghe thiếp phận trai là thờ vua trị nước giúp dân. Vậy phải dùi mài kinh sử hơn là chau chuốt vần thơ để nổi danh thi bá

Nghe vợ nói, Đào Lang nghiêng mình hứa cùng vợ là chàng sẽ chiếm bảng vàng trong khoa tới. Như lới hứa, Đào Lang thi đậu liền ba khoa thi hương thi hội thi đình, và được bổ vào làm tại viện Hàn Lâm.Từ ngày đại đăng khoa, Đào Lang và vợ sống một chuỗi ngày đầy hạnh phúc. Thế rồi một chiều mùa đông, Tiên Chúa, mắt nhòa lệ nói với chồng:

– Thiếp không phải là ngưởi dương thế mà vốn là con Đức Ngọc Hoàng, thiếùp lỡ tay làm vỡ chén ngọc nên mói bị giáng xuống trần gian. Còn chàng vốn là một vị tinh tào. Trước đây đôi mình đã có một thời làm vơ. làm chồng, mối tơ duyên đó đã đứt khi thiếp hết hạn lưu đầy trở lại thượng giới. Rồi đôi mình lại có dịp tái hợp. Nay lại tới ngày thiếp phải về thượng giới, dầu không muốn cũng không sao khác được.

Đào Lang nghe truyện, xửng xốt hồi lâu nói không ra lời, rồi bật lên khóc nức nở. Chàng năn nỉ vợ giáng ở lại cùng nhau thêm ít năm tháng nữa. Nhưng có ai thoát khỏi số trời. Trống sang canh ba Tiên Chúa bồng con trao cho chồng, rồi xụp lậy giã từ. Đào Lang nắm tay Tiên Chúa như không muốn dời. Nhưng ngoài cửa đã có một cỗ xe loan cùng một đoàn tiên nữ đứng đợi. Tiên Chúa nhẹ rút tay khỏi tay Đào Lang, lẹ bưóc lên xe. Cỗ xe cùng bầy tiên và Tiên Chúa biến mất dạng trong bóng đêm. Đào Lang xúc động ngất xỉu.

Từ ngày đó Đào Lang không màng tới việc quan. Khoa hoạn chỉ còn là hai chữ vô nghĩa. Chàng làm sớ từ quan khi tròn ba mươi tuổi. Quay về cõi vườn đào, chốn xưa chàng gặp gỡ Tiên Chúa, Đào Lang sống đời ẩn dật, vui cùng bầu rượu túi thơ và chú tâm rèn luyện cho đứa con theo sở nguyện của Tiên Chúa. Người con Đào Lang cũng đền đáp công ơn cha mẹ học hành đỗ đạt vinh hiển.

Tiên chúa khấu đầu trước ngai rồng. Ngọc Hoàng phán hỏi:

– Giáng lâm cõi Nam chuyến này hẳn con được toại ý.

Tiên Chúa nói:

– Sau năm con giáp lưu đầy hạ giới, con xin tâu lên vua cha là lòng con còn quyến luyến dám trời Nam, và con lại xin vua cha cho con được xuống cõi Nam thêm một lần nữa.

Suy nghĩ hồi lâu, Ngọc Hoàng chấp thuận, và truyền cho Hồng Nương và Quế Nương theo hầu Tiên Chúa, giáng lâm giữa ban ngày xuống vùng Phố Cát, thuộc tỉnh Thanh Hoá.

Phố Cát là một vùng đồi núi trùng trùng, đất cát mầu mỡ, rừng rậm sông sâu. Tiên Chúa và hai vệ nữ ban ân cho người lành, hành tội kẻ dữ. Dân chúng trong vùng chung nhau lập dền thờ tráng lệ. Tiếng đồn vang tới kinh đô.

Năm Cảnh Trị đời Lê (1662), triều đình sai quân phá đền. dẹp tà thần. quân vua trảy về Phố Cát còn có nhiểu phương sĩ cao tay ấn từ khắp nơi trong nưóc theo phò. Tới nơi, quan quân dán bùa trừ tà, dẹp âm binh, rồi tiến về đền. Tiếng chiêng tiếng trống thúc quân, tiếng tên bay, tiếng ngựa hí, tiềng voi gầm, tiếng người reo ho, tiếng súng thần công vang dộâi khắp vùng đồi núi. Rồi mưa như thác đổ, xấm chớp liên hồi. Cuối cùng quân vua đốt trọn ngôi đền thành tro.

Kết quả là chiến trận làm sinh linh tan tác, cả chim trời cá biền cũng lâm cành lầm than, và làm Tiên Chúa nổi giận. Thế rồi dịch tễ lan tràn, người vật chết như ngả rạ. Người Phố Cát đều tin là Tiên Chúa tác oai. Hào lý trong vùng dâng sớ về kinh báo tin và đồng thời xin triều đình tìm cách cứu dân.

Trước oai linh Tiên Chúa, triều đình cho phép xây đền Phố Cát và sắc phong Tiên Chúa làm Mã Cái Công Chúa. Mã Cái là danh hiệu thời nhà Lê có nghĩa là Thánh Mẫu. Từ đó dân vùng Phố Cát mới khỏi nạn dịch tễ. Sau đó lại tấn phong la Chế Thắng Hòa Diệu Đại Vương. Sang đời nhà Nguyễn, năm Thiệu Trị thứ sáu (1845) sắc phong lên hàng Thượng Đẳng Thần. Rồi vua Tự Dức (1853), vua Đồng Khánh (1887) và vua Thành Thái (1903) lần lượt tái phong Tiên Chúa làm Thượng Đẳng Thần.

Đông đảo người Việt Nam sùng tín Thánh Mẫu Liễu Hãnh. Hầu hết đền chùa đều có điện thờ Thánh Mẫu. Tại đền Phủ Giầy hàng năm còn mở hội vào ba ngày mùng bẩy mùng tám và mùng chín tháng ba.

Người đọc tìm thấy tung tích Đào Lang và người con trai qua thần tích Thường Lạc Sơn Nguyễn Đại Vương, tại đền thờ ở thôn An Trí, xã Nội Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An. Tự Điển Di Tích Văn HóaViệt Nam của nhóm Ngô Đức Thọ, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1993, chép theo sách can Lộc Huyện Phong Thổ Chí:

Tương Truyền ở bản thôn có Nguyễn Phán là người tài hoa, khi du học phương xa gặp chúa Liễu Hạnh ở vùng Quỳnh Lâm, kết làm đôi lứa. Sau ba năm sinh được hai trai: trưởng là Nguyễn Cả, thứ là Nguyễn Hai. Sau đó Phán thi đậu, được bổ chức Thị Nội Văn Hàn. Bấy giờ tiên nữ cưỡi mây về trời. Phán buồn rầu, xin nghỉ việc quan, trở về nhà lấy sơn thủy làm vui. Nguyễn Cả, Nguyễn Hai lớn lên thông minh tuấn tú, tài năng hơn người. Năm Hồng Đức thứ hai, Cả và hai chừng 16, 17 tuổi, gặp lúc Chiêm Thành cho quân ra quấy phá biên địa, vua Lê Thánh Tông hạ chiếu xuất binh. Cả và Hai xin phép cha cho về kinh giúp vua dẹp giặc. Vừa lúc ấy ở chân núi Thường Lạc, xuất hiện hai con voi trắng, bên cạnh mỗi con đều có sẵn một chiếc roi sắt, người làng đến dụ, voi nằm yên không động. Nhưng khi Cả và Hai đến, hô một tiếng voi liền thuần phục. Hai người cỡi voi về kinh. Dọc đường gặp quan quân nhà vua Nam chinh, hai ông vào yết kiến, vua phong cho làm tiên phong. Chưa đầy nửa năm, dẹp yên quân giặc, hai ông được phong chức Đại Tướng Quân. Năm Hồng Đức thứ sáu, nguyễn Phán qua đời, hai ông xin về quê chịu tang cha. Trong thời gian ở quê nhà, hai ông cho đào một hồ lớn, tục gọi là Hồ Dài, chiêu mộ quân lính tập thủy trận. người làng theo đông. Vua nghe tâu cho rằng hai ông mưu khởi loạn, bèn triệu về kinh rồi sai đi trấn giữ ở nơi quan ải, không cho về quê quán. hai ông đành tuân lệnh ra đi, rồi mất ở nơi đồn trú. Trước khi mất, ông dặn các con đóng thuyền, đặt quan tài và hộp bài vị ghiđầy đủ tên họ, quê quán, chức tước, trồi thả cho trôi theo dòng sông. các con y theo lời dặn. Thuyền xuôi ra biển, rồi giạt vào cửa biển Cương Gián, huyện Nghi Xuân. Dân xã thấy vậy cho là điềm gở, đẩy cho trôi ra khơi. Nhưng chiếc thuyền trôi ra rồi lãi giạt vào. Người làng Đông Gián lấy làm lạ, mở hộp đựng bài vị ra xem mới hay sự việc, bèn cho người sang xã An Trí báo tin. Dân bản xã đến rước quan tài hai ông về an táng, xây lăng, lập đền thờ phụng. Vua nghe tâu, sắc phong làm trung đẳng thần. Nhưng thần tỏ ý không ưng, nổi cơn giông tố, kinh sư giữa ban ngàytrời đất tối đen. Vua gia phong cho làm thượng đẳng thần, mưa gió mới tạnh. Khi đoàn phụng sắc, đi qua đền Tiên Mẫu ở Phố Cát, tiên mẫu hiển ứng ban cho một đôi long bàn để dân làng rước về thờ phụng. Đền hằng được coi là ngôi đền thiêng trong bản huyện.

Tóm tắt Vân Cát Thần Nữ Truyện để viết sự tích Công Chúa Liễu Hạnh, người viết đã tạm lược bỏ một đọan dài trong nguyên bản nói về mối duyên bút mực giữa Công Chúa Liễu Hạnh và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Mối duyên bút mực này dường biểu thị thi tài của Đoàn Thị Điểm khởi hứng từ văn học truyền miệng trong đại chúng. Mối duyên bút mực đó như sau.

Phùng Khắc Khoan (1528-1613) tự Hoằng Phủ, hiệu Nghị Trai, người làng Phùng Xá, tên nôm là làng Bùng, huyện Thạch Thất tỉnh Sơn Tây. Theo truyền thuyết, Phùng Khắc Khoan là em cùng mẹ khác cha của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ( 1491-1585). Ông thi đậu hương cống thì gặêp cảnh nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê, ông vào Thanh Hóa theo giúp vua Lê. Đến năm ông 53 tuổi, dưới triều vua Lê Thế Tôn, Quang Hưng thứ 3 ông mới đậu tiến sĩ. làm quan đến Hộ Bộ Thượng Thư, tước Mai Quân Công. Năm 70 tuổi ông đi sứ sang Trung Quốc. Ông để lại hơn mười thi tập, trong số đó có hai tập Phùng Sứ Thần Thi Tập và Phùng Thái Phó thi có lời đề tựa của sứ thần Triều Tiên Lý Thúy Quang viết vào năm 1597. Nhân dịp đi sứ này Phùng Khắc Khoan mang từ Trung Quốc về những hạt giống ngô đậu. Ông còn có công truyền cho đại chúng nghề dệt the lụa, cùng khai mương dẫn nưóc tư ønúi Thầy về cánh đồng Đặng Xá. Hoàng Xá, Phùng Xá. Nhớ những công ơn ấy, đại chúng gọi ông là ông Trạng Bùng. Hàng năm tổ chức ngày giỗ ông tại đền thờ nhằm ngày hai mươi bốân tháng chín âm lịch. Quanh Phùng Khắc Khoan có nhiều truyền thuyết chép thành sách như cuốn Mai Lĩnh Hầu Thánh Mẫu Chi Truyện, chép sự tích bà mẹ sinh ra Phùng Khắc Khoan, hoặc nhiều truyện khác chép trong sách Công Dư Tiệp Ký của Vũ Phương Đề.

Dựa trên sách Mai Lĩnh Hầu Thánh Mẫu Chi Truyện Trần Lê Sáng viết:

Thân phụ Phùng Khắc Khoan, người Thạch Thất, Sơn Tây, đậu tiến sĩ triều Lê, rất giỏi nghề địa lý. Buồn vì thời thế, ông đi ngao du sơn thủy, tìm đất tốt.

Một lần ông đến vùng Từ Sơn, Kinh Bắc, bỗng gặp một phụ nữ trên đường. Nguời phu ï nư õ này mày thanh mắt sáng, da trắng tựa đánh phấn, môi đỏ tựa thoa son, dáng người óng ả tha thướt, ăn mặc giản dị.

Hai người tình cờ gặp nhau và đi cùng một đường. Đi được một đoạn đường ông hỏi:

– Sao nương tử đi một mình? Nương Tử từ đâu tới?

Người phụ nữ dịu dàng nhìn ông. Thấy dáng mạo ông trang nhã, mặt có phúc tướng, nghĩ ngợi một lát rồi nói:

– Thiếp người Hải Dương. Có mối thù mà sức mình không trả được. Thiếp mong có đứa con trai, nuôi dưỡng cho thành tài để trả thù cho mình.

Ông nghe nói cảm kích tiếp lời:

– Nương tử là bậc nữ lưu mà còn có chí lớn như vậy. Tôi là kẻ mày râu nam tử, từng mặc áo đội mũ triều cũ, làm sao có thể làm tôi tớ cho bọn phản nghịch!

Hai người nói chuyện tâm đầu ý hợp, rồâi cùng về Sơn Tây kết làm vợ chồng. Năm sau sinh con trai, tiếng khóc to, mắt sáng, gân cốt khác thường. Đó là Phùng Khắc Khoan.

Khi Phùng Khắc Khoan năm, sáu tuổi đã có khí vụ trượng phu. Phu nhân nói với chồng:

– Nhờ trời sinh con trai. Xem ra có nét phi phàm, ông nên dậy con học hành, may trời không phụ thì sau này nó có thể hoàn thành chí nguyện của thiếp.

Từ đó ông đem hết sở học dậy con. Đến năm 15 tuổi, không còn đủ sức dậy con, ông bèn gửi sang Hải Dương theo học Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Theo sách Công Du Tiệp Ký của Vũ Phương Đề, và do Trần Lê Sáng viết lại thì:

Mẹ Phùng Khắc Khoan ngưòi Hải Dương, con gái thượng thư Nhữ Văn Lan, thông minh xuất chúng, giỏi dịch số và địa lý. Hơn hai mươi năm kén chồng, có chí lớn, mãi sau bà mới lấy

Nghiêm Quân Công Nguyễn Văn Định.

Bà sinh ra Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm còn nhỏ ông Văn Định nói với con nguyệt treo cung, nguyệt treo cung. Bà giận lắm, cho rằng nguyệt là trăng biểu tượng kẻ làm tôi, bèn bỏ ông Văn Định đi ngao du sơi với

Khi đến Thạch Thất, gặêp một người hiền lành, có tướng sinh qúy tử, kết làm vợ chồng và sau sinh ra Phùng Khắc Khoan.

Năm Khắc Khoan bẩy, tám tuổi, đang chơi ở sân đình thì có người khách lạ đi qua cứ nhìn khắc Khoan. Khắc Khoan cũng nhìn lại chằm chằm. Người khách hỏi Khắc Khoan sao cứ nhìn vậy. Khắc khoan nói:

– Tôi thấy ông hơi lạ. Nếu là quan thì sao không có người theo hầu. Nếu là dân sao không có bắp tay bắp chân của thợ cầy?

Người khách nghe nói cười lớn. Người khách đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm Phùng Khắc Khoan mười lăm tuổi, cha ông gửi sang Hải Dương học với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hai anh em một mẹ khác cha rất là tâm đắc.

Cũng theo truyền thuyết, Phùng Khắc Khoan gặp công chúa Liễu Hạnh hai lần; lần thứ nhất trên đường đi sứ về tới Lạng Sơn, lần thứ hai tại Tây Hồ gần kinh đô. Truyện do Trần Lê Sáng chép như sau về chuyến gặêp gỡ giữa công chúa Liễu Hạnh và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tại Lạng Sơn:

Lúc Phùng Khắc Khoan đi sứ về tới Lạng Sơn, ông thấy một cô gái xinh đẹp ngồi dưới ba cây thông, trước sân chùa, vừa đàn vừa hát. Ông lên tiếng:

Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Câu này có nghĩa là: ba cây che sân, cô gái đẹp ngồi đó, nhưng đồng thời chơi trò chiết tự: tam mộc là ba chữ môc ghép lại thành chữ sâm; chữ hảo do chữ nữ đăt cạnh chữ tử mà thành. Người con gái nghe vậy bèn đối:

Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Câu này nghĩa là: núi non mở đường, sứ giả đi đến là ông quan, đồng thời cũng chơi trò chiết tự: Trùng sơn là hai chữ sơn chồng lên nhau thành chử xuất, chữ sứ do chữ nhân và chữ lại ghép thành.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc vì sự đối đáp thông minh và mau lẹ của cô gái. Ông bèn tiếp:

Sơn nhân bằng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ lâm phàm.

Nghĩa là: cô sơn nữ ngồi ghế phải chăng là tiên nữ giáng trần. Nhưng lắt léo ở việc chiết tự: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên; chữ bằng có bộ kỷ, chữ nhất và chữ kỷ ghép thành chữ phàm. Cô gái không cần nghĩ ngợi đáp ngay:

Văn tử đới trường căn, tất thị học sinh thị trướng

Nghĩa là: nhà văn chít khăn dài, đích thị học trò nhìn trướng. Câu đáp lịch sự dí dỏmvà chiết tự cũng rất tinh tế. Chữ văn và chữ tử ghép thành chữ học, Dưới chữ đới có bộ cân, chữ trường và chữ cân ghép thành chữ trướng.

Phùng Khắc Khoan vô cùng khâm phục cô gái. Ông cúi đầu làm lễ, lúc ngẩng lên thì cô gái đã biến mất, chỉ còn thấy trên cây gỗ viết bốn chữ: Mão Khẩu Công Chúa, cạnh đó treo tấm biển cũng có bốn chữ: băng mã dĩ tẩu.

Những người đi cùng sứ đoàn chẳng ai hiểu câu đó như thế nào, hỏi Phùng Khắc Khoan thì ông từ tốn đáp:

– Cây gỗ là mộc, mộc thêm chữ mão là chữ liễu; mộc thêm chữ khẩu là chữ hạnh, người con gái vừa rồi là Liễu Hạnh công chúa. Còn bộ băng đi với chữ mã, chính là họ Phùng của ta. Chữ dĩ cạnh chữ tẩu chính là chữ khởi. Có lẽ Liễu Hạnh công chúa dặên họ Phùng ta phải khởi công sửa lại ngôi chùa này.

Sau đó Phùng Khắc Khoan đã cho người tu sửa lại ngôi chùa. Trên cổng chùa ông treo tấm hoành phi có bẩy chữ:

tùng lâm tịch mịch phất nhân gia

Nghĩa là: Rừng thông vắng vẻ không phải nhà người thường. Nhưng câu này cũng chơi triết tự tinh vi: chữ phất đi với chữ nhân là chữ Phật. Phất nhân gia còn hiểu là Phật gia, là nhà Phật.

Giai thoại kể lại cuộc gặp gỡ lần thứ hai giữa công chúa Liễu Hạnh và Phùng Khắc Khoan như sau:

Về kinh đô Thăng Long, một bữa Phùng Khắc Khoan cùng hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi hồ Tây. Ba người lững thững đến một quán rượu bên hồ, ngoài cửa quán thấy đề bốn chữ lớn: Tây Hồ Phong Nguyệt. Có cô gái xinh xắn ra chào nói:

– Đây là quán hàng mới của Liễu Nương, xin quí ông vào sơi rượu làm thơ tự nhiên.

Ba người đi vào, thấy trên tường có dán bài thơ, nét mực còn tươi:

Điếm phương môn nội chiếu minh nguyệt Thời chính nhân bàng lập thổ khê Khách hữu tâm linh cầu nguyệt đới Huệ nhiên nhất mộc lưỡng nhân đề

Bài thơ có nghĩa là;

Cửa quán là đây trăng sáng soi Bên mành ai đứng đợi chờ ai Khách đến ba người thừa đội nguyệt Một cây huệ mọc giữa hai ngài.

Phùng Khắc Khoan đọc bài thơ ngẫm nghĩ. Người bạn họ Lý chiết tự nói: Điếm phương nhàn tức quán đang vắng, thời chính giai tức được buổi đẹp, Khách hữu tâm tức khách có lòng; huệ nhiên lai tức mời vào chơi. Bỗng ngưới hầu gái thưót tha bưng ra một cái khay, trên khay có tấm thiếp viết câu:

Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên

Ba người hết sức ngạc nhiên, biết đây là câu mở của một bài thơ liên cú. Lý, Phùng, Ngô liền theo câu đó, mỗi người lần lượt làm một hai câu thành bài thơ như sau:

Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên Túng mục kiền khôn tận khoát nhiên Cổ thụ nhiễu trang thanh tịch mịch Kim ngưu khoát thủy lục quyên quyên Hoạt kế thùy gia nhất chích thuyền Cách trúc sơ ly văn khuyển phệ Phanh trà bại bích thấu trù yên Khinh khinh quế trạo thứ trung đãng Đoản đoản xoa y thân thượng xuyên Phảng phất Động Đình du Phạm Lãi Y hy bích hán phiếm Trương Khiên Thiên tầm hiệu đãng am thâm thiển Tứ ccá vi mang điệt hậu tiên Ải nãi vãng lai hồng liễu bạn Âu a xuất nhập bạch lư biên Sa trung hiệp hý vong cơ lộ Vân ngoại nhàn khan xuất tính diên Kỷ khúc thương ca văn thủy quốc Nhất song bạch nhãn ngạo trần huyên Giao đầu đối thoại y hà cát Thân thủ tương chiêu hý khiếm tiền Lạp phong thiên gian tàng thái nỗn Lam trần sao để dưỡng ngư tiên Hoặêc tương đạm tửu hoa tùng chước Thời chẩm trường cao liễu ánh niên Túy hậu linh tinh phao thủy diện Dục dư hiệu liễu bộc phong tiền An hoa mục tử thân bàng kết Thượng uyển tiều phu cựu ước kiên Bão tất từ ngô quan bạng thế Thám hàm tiều bị một long uyên Võng sơ mỗi tỵ thế đồ hiểm Câu trục tu tương lợi nhĩ huyền Hàn chử hạ lai do át nhật Trường an đông tận vị trì niên Tam công khẳng bả thiên hà hoán Bán điểm ninh dung lục lự khiên Vị thủy nhậm phù băn bá bốc Đào nguyên hào phoóng Vũ Lăng duyên Văn chung sạ giác tâm vi Phật

***

Đến đây bỗng từ trong nhà vọng ra tiếng chủ nhân họ Liễu ngâm:

Đắc nguyệt ưng tri ngã thị tiên

Lý, Phùng, Ngô không hẹn mà cùng vỗ tay khen câu kết. Nếu cắt câu mở ghép với câu kết, hai câu ấy sẽ là:

Tây Hồ biệt chiếm nhất hồ thiên Đắc nguyệt ưng tri ngã thị tiên

Rõ là hai câu thơ của cùng một người thơ. Lời thơ, ý thơ, tâm tình nhà thơ đều nhất quán.

Hồ Tây riêng chiếùm trọn một miền Đất trời ngon mắt cảnh thiên nhiên Cổ thụ làng bên xanh ngắt ngắt Trâu vàng đầm rộng nước mông mênh Sinh nhai lác đác vài gian cỏ Kiếm sống nhà ai một mái thuyền Giậu trúc khó ngăn tiếng chó sủa Vách xiêu không cản khói vươn lên Chèo quế tay đưa khua nhè nhẹ Áo tơi sột soạt khoác lưng bên Thấp thoáng Động Đình thuyền Phạm Lãi Dập dềnh Sông Hán bè Trương Khiên Ngàn trùng nào biết đâu nông cạn Bốn mặt khó phân nẻo hậu tiền Chèo đưa bến lác lùa lau lách Câu hát bờ lau khúc triền miên Đánh bạn cồn ngoài cùng cò cốc Mắt dõi mây xa cánh quạ đen Giọng hát đục trong vang đáy nước Tròng mắt trắng xanh cuộc đảo điên Long hà đầu gối truyện không dứt Giữ thân tay trắng cười không tiền Mặt hồ thả nón hái rau búp Đáy nước thả câu đợi phao chìm Dưới hoa rượu chuốc say túy lúy Bóng liễu gác chèo tạm buộc thuyền Say rồi cởi áo thả theo sóng Tắm đọan buông quần hóng gió lên Thượng uyển tiều phu y hẹn cũ Yên hoa mục tử kết bạn hiền Bụi rậm rình cò tài ẩn núp Hàm rồng mò ngọc khéo bon chen Lưới trời thưa mắt mà không sót Lưỡi câu danh lợi thoát đòi phen Hè về bến mát còn ham nắng Tràng An đông tận năm chưa tàn Tam Công chẳng sánh vui khói ráng Thanh cao nào nhuốm nửa bụi trần Sông Vỵ há tin lời bói toán Đào Nguyên ước nối Vũ Lăng duyên Nghe chuông chợt nhớ tâm là Phật Nhìn trăng soi bóng ta là Tiên.

Ít lâu sau, Phùng, Lý, Ngô lại tới quán nàng họ Liễu. Nhưng đến nơi thì quán cũ không còn. Trên cây chốn cũ ve sầu kêu ra rả. Ba người nhìn thấy trên thân cây có bốn câu chữ triện

Vân tác y thường phong tác xa Tiên du Đầu Suất mộ yên hà Thế nhân dục thức ngô danh tính Nhất đại sơn nhân Ngọc Quỳnh hoa.

Lý và Ngô hỏi Phùng Khắc Khoan về ý bài thơ trên. Ông trẫm ngâm một lát rồi nói: – Ba câu đầu thì quý bạn đã rõ:

Lấy mây làm áo gió làm xe Sáng chơi Đầu Suất xế yên hà Người đời muốn hỏi ta tên tuổi

Câu chót thì chữ nhất trên chữ đại là chữ thiên, chữ sơn bên chữ nhân là chữ tiên, vậy là

Rằng tiên thượng giới Ngọc Quỳnh hoa

Không một ai thắc mắc truyện thâït giả của những giai thoại gặêp gỡ giữa công chúa Liễu Hạnh và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Nhưng ai ai cũng thấy đó là hình ảnh công chúa Liễu Hạnh trong dòng thơ Việt Âm, chẳng khác gì hình ảnh Tây Vương Mẫu trong văn học Trung Quốc qua các áng thơ của Lý Bạch, Vương Duy cũng như Lý Thương Ẩn, đời Đường.

Sự Tích Công Chúa Liễu Hạnh / 2023

1. Trong phần kho tàng truyện cổ tích trình bày sau đây, chúng tôi đã gắng chọn lọc lấy những truyện tiêu biểu, sắp xếp theo thột hệ thống nhất định, bỏ bớt đi một số những truyện hoặc không phải là truyện cổ tích Việt-nam, hoặc không có giá trị tiêu biểu cho truyện cổ tích Việt-nam. Nói chọn lọc không phải những truyện được đem vào đây là hoàn toàn có tư tưởng tiến bộ. Chúng tôi cũng đem vào một số truyện lạc hậu về phương diện này hay phương diện khác: để bạn đọc thấy được toàn diện truyện cổ tích nước nhà.

2. Phương pháp kể chuyện của chúng tôi là không đơn giản hóa, cũng không tiểu thuyết hóa. Chúng tôi cố gắng kể theo thột hình thức riêng, để vẫn giữ được ít nhiều phong vị và không khí cổ của câu chuyện; tất nhiên sẽ vẫn dùng một số từ ngữ quen dùng trước đây. Trừ những truyện cần kể một cách vắn tắt trong mục Khảo dị chúng tôi sẽ chú ý không thêm hoặc bớt những tình tiết quan trọng trong khi xây dựng từng truyện một.

3. Những tài liệu mà chúng tôi sử dụng có hai phần:

– Tài liệu trong các báo chí sách vở (một số lớn là do nhớ lại hoặc do ghi được từ trước, chứ không có trong tay khi viết bộ sách này, cho nên hầu hết các đơn vị không ghi chú được đầy đủ các chi tiết, ví dụ số bài, số trang…). Xem Thư mục tham khảo ở cuối tập V.

– Tài liệu do các người thân và quen biết kể lại (trong đó có một số do phụ thân của chúng tôi lưu lại).

Những tài liệu trên có truyện kể rất vắn tắt, có truyện kể hơi khác nhau về chi tiết. Trong khi xây dựng lại từng truyện, chúng tôi sẽ căn cứ ở tài liệu nào đầy đủ hơn và được nhân dân truyền tụng nhiều hơn, nhưng vẫn không quên tóm tắt dị bản ở các Khảo dị.

4. Chúng tôi có ý tập hợp những truyện giống nhau về một mặt nào đấy vào từng mục riêng như. Nguồn gốc sự vật; Sự tích các câu ví; Thông minh tài trí và sức khỏe, v.v… để tiện cho việc sắp xếp bộ sách, chứ không phải phân loại truyện cổ tích.

SỰ TÍCH CÔNG CHÚA LIỄU HẠNH

Ngày xưa, ở trên thiên đình có cô con gái Ngọc Hoàng tên là Liễu Hạnh. Tính tình cô phóng túng ngang bướng, không chịu theo khuôn phép nhà trời. Ngọc Hoàng hết lòng dạy dỗ nhưng vô ích, cô chứng nào vẫn giữ tật ấy. Giận vì trong nhà có con gái hư không thể làm vì cho thiên hạ, Ngọc Hoàng quyết trị tội để cho con tu tỉnh. Nhân một lần Liễu Hạnh phạm lỗi, Ngọc Hoàng bèn đày nàng xuống trần trong ba năm. Sau khi xuống trần, Liễu Hạnh hóa thân thành một cô gái đẹp, dựng một cái quán ở chân núi đèo Ngang. Đây là nơi rừng núi vắng vẻ nhưng cũng là nơi con đường thiên lý từ Bắc vào Nam vắt qua, nên hàng ngày không bao giờ ngớt bộ hành đi lại. Từ xưa đến nay, vì sợ giặc cướp và thú dữ, không ai dám đến đó mở quán bán hàng. Vì vậy ngôi hàng độc nhất của Liễu Hạnh ngày nào cũng đông khách. Bất kỳ ai lên đèo xuống đèo, đã đi qua quán không thể không ghé lại nghỉ chân, huống gì trong quán lại có cô gái tuyệt sắc.

Từ khi bị đày, Liễu Hạnh vẫn chưa bỏ được nết cũ, khinh mạn và trêu chọc mọi người. Cho nên, hễ ai vào quán ăn bánh uống nước rồi tiếp tục ra đi thì không sao. Nhưng hễ thấy chủ quán xinh đẹp mà giở thói cợt nhả, hoặc có ý cậy sức, cậy thế, cậy thần làm điều bất chính thì nàng quyết trị tội không tha: lúc trở về nếu không lăn ra chết cũng trở thành điên rồ ngây dại.

Hồi ấy là thời vua Lê Thái Tổ trị vì thiên hạ. Tiếng đồn về một cô gái đẹp một mình mở quán ở đèo Ngang không mấy chốc lan truyền rất rộng. Khắp nơi bàn tán xôn xao. Người thì nói chủ quán là một cô gái võ nghệ hơn đời, mình nàng địch nổi trăm người một lúc. Kẻ thì cho cô là một ả giang hồ thành thạo, không những giỏi quyến rũ trai tơ mà còn làm nhiều nghề không lương thiện khác. Cũng có người cho cô là một nàng tiên xuống thử người phàm trần. Mỗi người nói một phách không biết thế nào mà tin. Nhưng tiếng đồn xa gần về cô chủ quán đèo Ngang cũng thu hút vô số chàng trai vô công rồi nghề từ làng quê đến kẻ chợ. Hoàng tử con vua Lê bấy giờ đang trẻ người non dạ, nghe tin ấy bụng cũng say mê. Hoàng tử muốn sai ngay quân lính đi bắt người con gái kia về, nhưng vốn biết tính vua cha rất nghiêm khắc, làm náo động cả một phương là chuyện không bao giờ nhà vua cho phép. Vả lại nghe nói người con gái ấy đã giỏi võ nghệ lại có nhiều phép thuật nên cũng ngần ngại.

Sau cùng không ngăn nổi lòng ao ước và trí tò mò, một hôm, hoàng tử giấu vua cha và hoàng hậu, sắm sửa cáng xá hành lý, đóng vai một nhà quý tộc trẻ tuổi dẫn đoàn thị vệ cải trang ra đi. Sau hơn mười ngày đường, hoàng tử vượt qua sông Lam, rồi núi Nam-giới, và sắp bước chân lên đèo cao nhất.

Từ trên đèo Ngang, Liễu Hạnh đã biết có hoàng tử đến tìm mình, lại cũng biết đó là một chàng trai tầm thường, không có bản lĩnh gì, nhưng lại kiêu căng, dật lạc. Để ngăn cản, nàng hóa phép thành một cây đào tiên mọc ở vệ đường, chỗ hoàng tử đang nghỉ chân; trên cây có một quả chín mọng rất đẹp mắt. Hoàng tử vừa chợt thấy quả đào đã thèm rỏ giãi, bèn không đợi sai lính hầu, vội trèo lên ngắt xuống toan ăn. Quả đào đang thơm ngát và ngon lành, bỗng đâu khi sắp bỏ vào miệng thì trở nên mềm nhũn trên tay hoàng tử, rồi thu nhỏ, cuối cùng mất biến không còn tý gì nữa. “Quả đào này có ma?”. Bọn thị vệ kinh hãi la lên và khuyên hoàng tử hãy nên cẩn thận. Hoàng tử cũng cảm thấy rờn rợn. Nhưng vì vẫn không thể hiểu được ý nghĩa răn đe kín đáo của Liễu Hạnh, nên một chốc sau chàng lại giục phu cáng tiếp tục đi nhanh đến chân đèo.

Khi giáp mặt Liễu Hạnh quả nhiên cả thầy lẫn tớ ai nấy đều thảng thốt sững sờ. Chưa bao giờ hoàng tử lại mê mẩn đến như thế. Người con gái này có nhan sắc kiều diễm đúng như lời đồn, trong cung đình vua cha dễ không có người nào sánh kịp. Hoàng tử bèn kín đáo hạ lệnh cho cả đoàn dừng chân ở quán, lân la hết ăn đến uống kéo dài đến tận chiều, rồi khi mặt trời gần lặn, bảo với chủ nhân:

– Đường xa trời tối. Chúng ta muốn nghỉ lại ở đây một đêm. Chẳng hay nữ chủ nhân có bằng lòng không?

Liễu Hạnh đã thừa rõ tâm tư của hoàng tử, bèn khước từ:

– Thưa công tử, ở đây hàng quán chật chội, vả lại chỉ có mấy chị em là đàn bà con gái, công tử và các vị ở lại sợ không tiện. Cách đây nửa dặm về phía Đông có làng xóm. Các vị đến đó trú sẽ có sẵn nhà cửa và dân phu phục dịch.

– Chúng ta chỉ cần nghỉ ở đây thôi! Nữ chủ nhân đừng lo. Chỉ cần một chỗ trong quán để căng màn là đủ. Ngoài ra xin hứa là không làm gì phiền đến nữ chủ nhân cả.

– Nếu thế thì công tử cứ tùy tiện.

Tối lại, mọi người ăn cơm xong sửa soạn đi ngủ. Những phu cáng và lính hầu trải chiếu nằm la liệt giữa sân. Riêng hoàng tử đã có hai thị vệ căng màn trướng ở trong quán. Trời mùa hè mát mẻ, trăng gió hữu tình. Dưới ánh đèn dầu, hoàng tử dựa cột trò chuyện với nữ chủ quán không rời. Liễu Hạnh vẫn chịu khó ngồi nán lại tiếp. Mỗi lời nói của nàng đều đẹp lòng khách làm cho hoàng tử càng thêm mê hồn. Chàng quên mất lời hứa, đánh rơi cả vẻ đạo mạo lúc mới tới và bắt đầu tả lơi. Liễu Hạnh cự tuyệt và chạy vào buồng. Trong cơn si mê, hoàng tử không cần gì thể diện nữa, bèn chạy theo vào. Có ngờ đâu chỉ trong nháy mắt, Liễu Hạnh đã biến hình, phi thân lên núi bắt một con khỉ cái về cho hóa thành một cô gái đẹp để đánh lừa hoàng tử. Không thấy chủ quán đâu nhưng thấy một cô gái khác trong buồng, hoàng tử liền cầm lấy tay dắt tới trước đèn. Nhìn thấy cô gái này cũng đẹp không kém gì cô chủ, hoàng tử liền giở trò suồng sã. Nhưng bỗng chốc hắn rú lên một cách dễ sợ làm cho bọn lính hầu đều tỉnh dậy. Trong tay hoàng tử không phải là một cô gái nõn nà nữa mà là một con khỉ cái lông lá đầy người. Bọn lính hầu xông lại. Vụt một cái, con khỉ lại biến thành một con rắn hổ mang hoa từ trên người hoàng tử vươn lên kèo nhà, há miệng phun lửa phì phì, rồi biến mất. Khi bọn lính hầu thắp được đèn lên thì hoàng tử đã ngã vật ra quán mê man, mặt cắt không còn giọt máu.

Nửa đêm hôm đó người ta cắt ngựa trạm đưa hoàng tử về kinh. Về đến cung, hoàng tử trở nên mất trí, ai hỏi cũng không trả lời, chỉ cười nói một mình. Hoàng hậu và phi tần hết sức lo sợ. Một mặt, Hoàng hậu cho giấu kín chuyện “vi hành” khinh suất đó, mặt khác cho mời các bậc ngự y và thầy thuốc giỏi khắp kinh thành. Tuy nhiên, các danh sư được đón vào chữa chạy cho hoàng tử đều lắc đầu bó tay. Trong cung càng thêm bối rối hoảng hốt. Sau cùng, có người mách nên vào xứ Thanh xin bùa phép ở tám vị Kim Cang họa may mới khỏi.

Lại kể chuyện một ngàn năm về trước, Phật bà Quan âm một hôm hiện ra ở biển Đông hóa phép thành hai cái túi: một nổi lên ở giữa biển, còn một, ở trên núi Ói làng An-đông xứ Thanh. Sau một thời kỳ lâu dài, hai cái túi nở ra hai đóa hoa, và từ trong mỗi đóa hoa hiện ra bốn vị tướng có phép biến hóa cực kỳ huyền diệu. Theo lệnh của Phật bà, tám vị tướng thân chinh đi tám phương đánh dẹp tà ma quỷ quái đang hoành hành quấy nhiễu. Dẹp xong, Phật bà gọi họ về ở lại chỗ cũ. Người ta quen gọi là Bát bộ Kim Cang.

Lập tức bọn thị vệ được lệnh vua vào Thanh-hóa để xin bùa phép của tám vị Kim Cang. Nhờ có bùa phép, hoàng tử dần dần khỏi bệnh. Sau khi bình phục, hoàng tử cúi đầu nhận tội với vua cha, kể lại cho vua nghe tất cả câu chuyện gặp gỡ giữa mình với nữ chủ quán ở đèo Ngang. Vua Thái Tổ hết sức giận dữ, vì hoàng tử đã dám khinh thường lệnh vua, bỏ phủ đi chơi, hãm mình vào cảnh thân tàn ma dại, nên xuống chiếu cất ngôi hoàng tử mà lập con thứ lên thay. Nhưng vua còn hết sức giận dữ vì ở trên bờ cõi mình trị vì lại có một người con gái dám khinh nhờn phép nước. Vua bèn ban lệnh hỏi quan trấn thủ xứ Nghệ về lai lịch nữ chủ quán đèo Ngang. Sau một thời gian cho người cất công dò la, quan trấn thủ mới gửi sớ về tâu bày, trong sớ nói đó là một nữ yêu không biết từ đâu đến, hay bắt hồn đàn ông con trai, nếu không có phép cả tài cao thì khó lòng khuất phục.

Vua lại lệnh cho với các pháp sư phù thủy cao tay đi trừ yêu. Nhưng chẳng bao lâu họ đã trở về triều xin chịu tội vì chẳng những không trị nổi yêu mà mọi phép giở ra đều bị Liễu Hạnh thu mất cả. Vua lại đành phải cầu cứu tám vị Kim Cang. Nhận lời vua, tám vị phi thân vào đèo Ngang. Được tin chẳng lành, Liễu Hạnh ra ứng chiến. Cuộc chiến đấu dần dần trở lên dữ dội. Mới đầu Tám vị Kim Cang làm một trận bão lớn, mưa dồn gió giật khủng khiếp, cây đổ khắp lượt, nước tràn vào vây lấy đèo Ngang. Liễu Hạnh cũng hóa phép chống lại. Nàng làm cho cây rừng đã đổ lại đứng dậy cùng với đất đá bay rào rào vào kẻ thù. Thấy Liễu Hạnh pháp thuật cao cường, tám vị Kim Cang lại hóa phép thành thú dữ tập hợp nhe nanh múa vuốt xông vào hàng đàn toan xé cắn, nhưng Liễu Hạnh đã kịp thời bay lên không trung, rồi dùng phép tiêu diệt hết bầy mãnh thú.

Trận đánh diễn ra ba ngày ba đêm. Đèo Ngang trở thành một bãi chiến trường rùng rợn. Mọi phép thuật của hai bên lần lượt giở ra mà chưa phân thắng phụ. Về sau tám vị Kim Cang biết mình bất lực, bèn bay lên trời cầu khẩn Phật bà. Phật bà ném cho họ một cái túi. Nhờ đó nên cuối cùng Liễu Hạnh sa vào túi của Phật bà. Tám vị Kim Cang mang túi về kinh báo tiệp.

Vua lập tức ra sân điện tra hỏi.

– Ngươi là ai?

– Tâu bệ hạ, là con gái Ngọc Hoàng bị đày xuống cõi trần, lấy vùng đèo Ngang làm nơi trú ngụ.

– Là con Ngọc Hoàng sao lại phá phách dân sự và làm hại hoàng tử con ta?

– Việc trừng trị bọn con trai chòng ghẹo nhi nữ, ăn hiếp người cô đơn là tuân theo phép nước, không phải phạm phép nước.

Thấy Liễu Hạnh nói là con Ngọc Hoàng, lại thấy nàng đối đáp khôn ngoan, vua đổi giận làm vui. Cho nên sau cuộc thẩm vấn, vua hạ lệnh tha bổng, chỉ khuyên nàng đừng gây náo động và tàn hại dân lành.

Ít lâu sau Liễu Hạnh sinh một đứa con trai, mỗi bàn tay có sáu ngón, nàng mang con đến ngôi chùa trên núi Hồng-lĩnh gửi cho một nhà sư nuôi dạy, dặn nhà sư hãy giúp cho con mình được lừng danh trong nước. Rồi đó, đủ ba năm. Liễu Hạnh trở về trời.

Nhưng không bao lâu Liễu Hạnh lại bị Ngọc Hoàng đày xuống trần một lần nữa. Lần này Liễu Hạnh đến đèo Ba-dội cũng là nơi vắng vẻ, rồi dựng lên ở đây một cái lầu ba tầng, bốn bên có thành bao bọc. Trong thành có vườn, đủ các thứ hoa thơm cỏ lạ. Trong vườn tập hợp đủ các giống chim. Cạnh vườn có ao, thả đủ các giống cá. Hàng ngày nàng sai mở cửa cho khách bộ hành đi qua về lại được tự do vào nghỉ chân và nhìn ngắm. Ở đây có quán xá, và cũng như lần trước, Liễu Hạnh thường hóa mình cô gái bán hoa quả, quà bánh, trầu nước và đồ chơi. Ai ăn uống mua bán rồi đi thì không sao, nếu giở chuyện trộm cướp trăng hoa, lập tức bị nàng trừng trị.

Ở được mấy năm, Liễu Hạnh lại sinh một con trai thứ hai. Đứa bé thiếu mất ở mỗi bàn tay một ngón. Nàng đem con gửi cho một sư nữ ở chùa Bà-đỏ, bảo sư rằng:

– Ta hai lần xuống trần đẻ được hai đứa con, cũng định cho chúng trở thành vương giả nhưng không đạt, vì một đứa quá thừa, một đứa lại quá thiếu. Hãy làm cho nó được nổi tiếng, ít nhất cũng trở thành Trạng.

Rồi đó, hết hạn ở trần. Liễu Hạnh đốt tất cả lâu đài mà trở về trời.

Những đứa con của Liễu Hạnh về sau quả nhiên nổi tiếng, trong đó có một đứa tên là Trạng Quỳnh. Chỗ di tích ngôi đền của Liễu Hạnh xây lên ở xứ Thanh và ở xứ Nghệ, người ta dựng thành đền thờ trên núi. Không một ai dám động đến một vật gì ở các ngôi đền này cả, vì sợ Liễu Hạnh báo thù.

KHẢO DỊ

Sau ba năm nhớ cõi trần, Liễu Hạnh lại xin vua cha cho xuống trần một lần nữa. Lần này có đem theo hai người thị nữ. Họ trú ngụ ở phố Cát (Thanh-hóa) về sau được dân địa phương ở đây lập đền thờ. Triều đình sau một thời kỳ sai thuật sĩ tiễu trừ mà không xong, đành thừa nhận và sắc phong là Mã hoàng công chúa.

Sách vở của phái Nội đạo tràng miêu tả cuộc chiến tranh giữa Tiền quan với Liễu Hạnh như sau:

Khi đày Liễu Hạnh xuống trần, Ngọc Hoàng thấy chân bên tả của con đi dón gót, biết là xuống dưới ấy sẽ thành yêu, liền sai Tiền quan giáng sinh luôn để kịp thời ngăn chặn.

Có thói tàn nhẫn, Liễu Hạnh đi đến đâu gặp điều không vừa ý thì ra tay sát hại. Cho nên ở đâu nàng cũng làm cho người và vật tử thương. Thành hoàng phải “xuất ngoại”. Người ta sợ nàng đến nỗi bỏ công ăn việc làm, ban ngày đóng cổng không dám lên tiếng hoặc phải bày đàn ở ven đường cúng lễ.

Về sau đến Sùng-sơn (Thanh-hóa) thấy cảnh đẹp, Liễu Hạnh báo mộng cho hào trưởng vùng ấy phải lập cung miếu. Thấy họ còn dùng dằng, nàng làm cho trong năm ngày chết hơn một nửa dân. Khi cung miếu dựng xong, nàng thường hoá thành gái đẹp bán hàng, hễ bọn trai trẻ và nho sĩ trêu ghẹo thì tâu về triều. Vua sai các vị pháp sư nổi tiếng đến trị, nhưng họ không trở về được. Có lần chúa Trịnh vào Lam-sơn. Liễu Hạnh cùng bộ hạ đón đường quấy phá. Chúa trở về giận lắm, sai người mời tất cả pháp sư phù thủy và hội tất cả thành hoàng vào đánh nhưng họ chỉ chuốc lấy thất bại.

Lại nói chuyện vị Tiền quan được giáng sinh làm con trai thứ ba một vị Thượng sư – là tổ sư phái Nội đạo tràng – cả ba anh em đều được Phật tổ truyền cho phép thuật, hai anh là Tả quan và Hữu quan tu tại Côn-sơn, còn Tiền quan thì ở ngay lại làng quê, tức là làng Từ-minh (Thanh-hóa) luyện đạo và truyền đạo cho học trò. Sau lần thất bại của các pháp sư phù thủy, nhà vua sai sứ đi triệu Tiền quan về kinh phong làm Thượng tướng cầm ba vạn quân đi đánh Liễu Hạnh.

Đến Tam-điệp. Tiền quan sai đóng quân lại, còn mình thì cải trang làm dân thường, cưỡi ngựa trắng tìm đến Sùng-sơn. Gặp Liễu Hạnh, Tiền quan làm bộ thân mật: – “Ta báo cho biết sắp sửa có nạn lớn vì nàng đã trêu chọc vua chúa. Họ sắp cử đến đây một pháp sư cao cường. E rằng nàng không địch nổi, nên ta đến xem nàng có phép gì, nêu thiếu ta sẽ dạy cho”. Liễu Hạnh không ngờ gì cả, giở tất cả ba ngàn phép cho khách xem. Tiền quan hết lời ca ngợi, nói: – “Như thế này thì không cần phải học gì nữa”. Khi Tiền quan về rồi, Liễu Hạnh mới biết là mình bị mắc mưu, nhưng đã muộn. Cuộc giao chiến bắt đầu. Bên Liễu Hạnh có các thần bộ hạ đến giúp. Bên phía Tiền quan có hai ông anh cùng với bát bộ Kim Cang làm tiên phong, hai bên tả hữu có hắc hổ, bạch xà, trung tâm có lục đinh lục giáp. Sau ba ngày ba đêm chiến đấu, trời nổi mưa to lớn, bụi cát mù mịt, sấm sét đùng đùng, cây cối nhà cửa tơi tả, người vật chết khắp nơi, nước sông đỏ như máu. Cuối cùng, quân của Liễu Hạnh thất bại. Quỳnh Hoa, Quế Hoa bỏ chạy. Tiền quan ngồi trên voi chín ngà giục thần tượng đem lưới sắt vây bọc. Liễu Hạnh hóa làm một đứa trẻ nhưng bị đuổi kíp quá, lại hóa thành con rồng trốn trong một cái giếng. Tiền quan bắt được trói bằng dây đồng giải về kinh đô. Vua chúa đang ngồi trong điện bỗng thấy một đám mây đen đầu rồng đuôi lân, rơi xuống văng lên ba lần ở sân điện, biết là Tiền quan đã thắng trận.

Nhưng Phật tổ không muốn để con gái Ngọc Hoàng chịu sự trừng phạt của người trần, nên đã kịp thời xuống gặp ba anh em, bảo họ giao cho mình làm cho nàng cải tà quy chính.

Có người kể thêm đoạn kết như sau:

Khi Liễu Hạnh bị bắt thì Phật tổ hiện ra giải cứu. Ngọc sư (tức Tiền quan) vâng lời Phật tổ cho nàng một bộ áo cà sa, một cái mũ ni-cô để quy phật. Vì vậy, ngày nay ở nhiều chùa có dựng thêm điện ở phía sau để thờ Liễu Hạnh.

Ở vùng Hà-tĩnh, Quảng-bình trước đây, dân gian thường lưu truyền nhiều mẩu chuyện về một cô gái thỉnh thoảng hiện hình trêu ghẹo những khách bộ hành đàn ông, nhất là các thầy khóa, thầy cử đi lại trên đường quốc lộ. Ví dụ truyện Cô Doạt (Hà-tĩnh). Nàng Ha (Quảng-bình). Có người nói những mẩu chuyện ấy vốn xuất phát từ Sự tích công chúa Liễu Hạnh mà phát triển ra. Lưu Trọng Lư đã từng viết một truyện lãng mạn nhan đề là: Người nữ tỳ của bà chúa Liễu có lẽ cũng hư cấu từ những truyện loại ấy.

Ở vùng Hà-đông cũng có lưu truyền nhiều mẩu chuyện về Liễu Hạnh, ví dụ một mẩu chuyện sau đây:

Liễu Hạnh bị một pháp sư lừa bắt được bỏ vào một cái lọ nút kín, phía ngoài dán bùa rồi treo lên cây đa ở rừng vắng trên đường đi Vạn-phúc. Có hai vợ chồng đi bán dâu qua đó, nghe tiếng nói văng vẳng phát ra: – “Các con đến đây cứu mẹ, mẹ sẽ hậu tạ”. Hai vợ chồng trước sợ hãi, nhưng sau đánh bạo trèo lên cây, đưa lọ xuống. Khi đập vỡ lọ thì thấy có một con bướm trắng bay ra, tự xưng là Liễu Hạnh, rồi biến mất.

Ở nhà mình, pháp sư, do tín hiệu riêng, biết giờ chết đã đến vì Liễu Hạnh đã trốn thoát và sẽ báo thù. Bèn sai con đem tro sàng khắp nền nhà, đoạn tắm rửa sạch sẽ rồi lên giường nằm, đóng cửa lại, dặn vợ con đến giờ ngọ hãy mở ra. Khi vợ con mở cửa thì thấy pháp sư đã chết, trên nền nhà có dấu bàn chân đi lại chi chít, v.v….

Công Chúa Tóc Vàng / 2023

Công chúa tóc vàng là truyện cổ tích Tiệp Khắc, ca ngợi Aroka – một chàng trai dũng cảm và tốt bụng, luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người, từ việc thả con cá kì dị đến việc cứu cô công chúa khỏi con yêu tinh độc ác, anh đều không quản ngại.

1. Ngày xưa có một chàng trai thông minh, dũng cảm và tốt bụng tên là Aroka.

Một hôm Aroka câu được một con cá hình thù lì dị. Anh không biết làm gì, liền thả cá xuống nước. Lạ thay, cá cất tiếng nói với anh:

– Cảm ơn anh đã thả tôi ra. Xin biếu anh viên ngọc này, nó sẽ giúp anh hiểu được tiếng nói của tất cả loài vật trên đời.

Aroka vui sướng mang viên ngọc về nhà. Đang bữa cơm, anh thấy hai con chim mỏ ngậm một sợi tóc vàng óng ánh đậu trên cửa sổ. Chúng bàn tán sôi nổi về chuyện nàng công chúa[1] tóc vàng xinh đẹp đang bị giam hãm trong tòa lâu đài bằng pha lê ở cạnh rừng bên. Nghe thế, Aroka liền lên đường cứu người con gái xấu số. Anh vừa tới khu rừng thì trông thấy hai con chim đang bay lượn nháo nhác vì chim con bị gió hất rơi khỏi tổ. Aroka nhặt chú chim non đặt vào chỗ cũ và tiếp tục đi. Được một quãng, anh lại cứu bầy kiến đang bị lửa vây, một con ong vàng vướng vào mạng nhện và chú cá chép bị mắc cạn. Tất cả các con vật được cứu đều cám ơn Aroka và nhận đưa đường cho anh đến chỗ nàng công chúa tóc vàng bị giam.

2. Khi anh đến lâu đài thì yêu tinh đã hiện ra đón đường. Nó cười khà khà và nói với Aroka:

– Chàng trai trẻ định đến cướp công chúa tóc vàng xinh đẹp của ta ư? Hãy làm cho được ba điều sau, anh sẽ toại nguyện[2], bằng không thì đừng nghĩ đến việc trở về!

Thoạt đầu yêu tinh bắt anh nhặt tất cả những viên ngọc trai trong chuỗi hạt của nó vừa bị rơi vãi trên đám cỏ rậm. Aroka lo lắng tìm kiếm. Anh chợtt nhìn xuống đất và thấy một bầy kiến không biết từ đâu đến, đã nhặt gọn giúp anh đầy đủ, không sót một viên nào.

Đến việc thứ hai, yêu tinh bảo anh xuống đáy hồ mò cho nó chiếc nhẫn quý rơi. Việc này Aroka được cá chép giúp.

Việc cuối cùng, yêu tinh bắt anh vào lâu đài nhận mặt công chúa đang đứng lẫn trong năm mươi cô giái giống hệt nhau, trên mặt mỗi cô đều có một tấm lụa phủ kín. Aroka đang băn khoăn thì chú ong vàng xuất hiện. Chú bay lượn trước mặt cô gái và hát:

Công chúa tóc vàng đây; Anh hãy đến ngay Đem nàng đi khỏi nơi này!

Aroka vội chạy lên đón công chúa và đặt nàng lên mình ngựa, phóng một mạch về cung vua.

Từ đó, Aroka trở thành con rể nhà vua và anh được sống hạnh phúc với nàng công chúa tóc vàng kiều diễm[3] đó.

Theo truyện dân gian Tiệp Khắc (Báo Thiếu niên tiền phong)

Công chúa: con gái vua.

Toại nguyện: được như mong muốn.

Kiều diễm: chỉ người phụ nữ dịu dàng, đẹp đẽ.

Câu hỏi gợi ý trong truyện Công chúa tóc vàng

Câu được con cá lạ Aroka đã làm gì?

Nhờ đó, Aroka đã biết được điều gì?

Trên đường đi cứu công chúa, Aroka đã cứu được những con vật nào?

Gặp yêu tinh, Aroka phải đối phó với nó như thế nào? Kết quả ra sao?

[alert style=”success”]Đừng quên kể cho bé nghe những câu chuyện hấp dẫn về các nàng công chúa

Công Chúa Mỵ Châu / 2023

Trọng Thuỷ đã ở rể tại Cổ Loa, đánh cắp nỏ thần của thần kim Quy ban cho vua Thục mang về. Triệu Đà tấn công vào Cổ Loa, vua An Dương Vương bị thua chạy về Đền mộ Dạ Sơn thì cùng đường, thần Kim quy hiện lên báo vua “kẻ ngồi sau ngựa chính là giặc đấy, sao không giết đi”. An Dương Vương liền chém công chúa Mỵ Châu, máu chảy loang mặt nước, loài trai nuốt vào bụng hóa thành hạt minh châu.

Sau khi mất, theo truyền thuyết được Trọng Thủy đưa về mai táng ở Cổ Loa hóa thành hòn đá ngọc. Tại làng Cổ Loa hiện còn lăng bà Chúa (ở đông bắc xóm Vang, phía nam khu đầm Cả).

Tuy nhiên, ở Cổ Loa còn lưu truyền một truyền thuyết khác về Mỵ Châu và bức tượng đá.

“Một thời gian sau khi Mỵ Châu mất, tự nhiên ở khu Đầm Cả xuất hiện một hòn đá lạ. Có người đánh dậm, đánh cả ngày mà không được gì, chỉ thấy trong dậm có một hòn đá, vứt xuống nước nhiều lần mà không được cuối cùng phải vớt hòn đá lên bờ.

Trẻ chăn trâu thấy hòn đá lấy làm vui thích trèo lên nghịch ngợm, sau về nhà đều bị ốm. Từ đó dân làng biết hòn đá là linh thiêng nên dân mấy làng cùng đến rước, nhưng tất cả các làng xung quanh đều không làng nào rước được về, chỉ khi dân Cổ Loa mang võng đào ra khiêng, cử hai cụ đám đến thì hòn đá lập tức lăn vào võng và dân Cổ Loa khiêng về được. Đi đến vị trí nay là am Mỵ Châu thì võng bị đứt, không cách nào mang đi được nữa, dân làng bèn lập am thờ tại đó. Tảng đá Mỵ Châu ban đầu có kích thước nhỏ, sau cứ lớn dần mãi. Đến khi nhân dân phải khấn xin tảng đá mới không lớn nữa. Tương truyền trong đá có ngọc quý nên ngày một lớn và rất linh thiêng, cho đến khi quân giặc kéo sang, lấy ngọc mang đi, tảng đá mới thôi không lớn nữa. Chỗ mà hòn đá được vớt lên được nhân dân gọi là Lăng Bà Chúa”.

Những câu chuyện dân gian qua nhiều thời kỳ lịch sử phản ánh một dấu ấn sâu đậm của Mỵ Châu trong đời sống tâm linh của nhân dân với một sự linh thiêng thành kính.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Liễu Hạnh Công Chúa « Thư Viện Đất Việt / 2023 trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!