Đề Xuất 2/2023 # Làm Sáng Tỏ Nhận Định: Vào Thơ Hay, Dù Là Điệu Kiên Cường Hay Làn Êm Ái Đều Là Vào Thế Giới Của Cái Đẹp” # Top 4 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Làm Sáng Tỏ Nhận Định: Vào Thơ Hay, Dù Là Điệu Kiên Cường Hay Làn Êm Ái Đều Là Vào Thế Giới Của Cái Đẹp” # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Làm Sáng Tỏ Nhận Định: Vào Thơ Hay, Dù Là Điệu Kiên Cường Hay Làn Êm Ái Đều Là Vào Thế Giới Của Cái Đẹp” mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong cuốn “Đến với thơ hay”, Lê Chí Viễn cho rằng: “ Vào thơ hay, dù là điệu kiên cường hay làn êm ái đều là vào thế giới của cái đẹp”

Suy nghĩ của anh chị về ý kiến trên. Hãy làm sáng tỏ “thế giới của cái đẹp” trong tác phẩm “Đọc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du.

* Gợi ý làm bài:

* Giải thích nhận định:

– Thơ hay: hiểu chung là chỉnh thể thẩm mĩ, có khả năng khơi gợi ở người đọc những rung động thẩm mĩ, góp phần hoàn thiện con người, nâng con người lên…

– Điệu kiên cường hay làn êm ái: nội dung muôn màu muôn vẻ, phong phú vô cùng của thơ ca, “kiên cường”: thơ nói chí, tỏ lòng, trào phúng hay “làn êm ái”: thơ trữ tình, thơ lãng mạn.

– Thế giới của cái đẹp: “cái đẹp” là một phạm trù thẩm mĩ thể hiện ở nhiều phương diện: vẻ đẹp của tâm hồn, tấm lòng, tài năng người nghệ sĩ, cái đẹp toát lên từ nội dung và hình thức của thơ, cái đẹp khơi gợi những rung động thẩm mĩ, bồi đắp tâm hồn con người.

⇒ Cả nhận định: Khẳng định giá trị thẩm mĩ của thơ ca.

* Bàn luận:

Ý kiến đúng đắn vì:

– Đối tượng của văn học nói chung, thơ ca nói riêng là đối tượng thẩm mĩ, được khám phá ở chiều sâu thẩm mĩ (mỗi hiện tượng của đời sống bước vào thơ đều được nhìn, được miêu tả dưới góc độ thẩm mĩ – VD: con đường đi vào thơ Xuân Diệu “nhỏ nhỏ xiêu xiêu” của một chiều thu…)

– Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc thăng hoa mãnh liệt, được ý thức nhưng đó cũng là những tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ giàu chất nhân văn (niềm vui, nỗi buồn, khát khao, phẫn nộ …đều phải mang tính thẩm mĩ. VD: nỗi căm giận của con hổ trong vườn bách thú trong thơ Thế Lữ, nỗi buồn khi đứng trước cảnh sông nước trong thơ Huy Cận…)

– Thơ hay thực hiện được mục đích thiên chức của người nghệ sĩ là hướng con người tới chân, thiện, mĩ; nâng con người lên, làm cho lòng người phong phú thanh sạch hơn, khiến con người sống đẹp hơn, nhân văn hơn.

– Tiếp nhận văn học, trong đó có việc tiếp nhận thơ và thơ hay thực chất là tiếp nhận thẩm mĩ, lấy cái trong trẻo, tinh tế và tri âm mà cảm nhận, không bao giờ chấp nhận cái vụ lợi tầm thường, lấy hồn ta để hiểu hồn người.

* Chứng minh :

Cần làm rõ bài thơ “Đọc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du là “thế giới của cái đẹp”:

– Cái đẹp của cảnh vật, con người được miêu tả.

– Cái đẹp của tâm hồn, tình cảm của người nghệ sĩ

– Cái đẹp trong cấu tứ, cách cảm, cách nói, cách dùng từ ngữ…

– Cái đẹp ở khả năng gợi lên những rung cảm thẩm mĩ, khơi luyện những tình cảm thẩm mĩ trong lòng người đọc.

– Dẫn chứng mở rộng: Những tác phẩm khác của Nguyễn Du và tác phẩm của những nhà thơ khác như Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Nguyễn Đình Chiểu…

* Đánh giá:

– Thơ ca là thế giới của cái đẹp, đó chính là đặc trưng thẩm mĩ của thơ ca, cũng là nội dung mục đích của văn học nói chung: văn học cần hướng đến khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp con người cuộc sống, nhà thơ, nhà văn cũng cần viết về những điều tốt đẹp để khơi gợi tình yêu, lòng lạc quan cho người đọc.

– Không phải thơ ca lúc nào cũng miêu tả cái đẹp. Thơ ca có quyền miêu tả những cái xấu xa, độc ác, để sự thật cuộc đời được chân thực hơn.

– Nhà thơ phải là người sống sâu sắc, tinh tế để cảm xúc thăng hoa trên trang thơ, người đọc cũng cần rung động và hiểu đời, hiểu người để cảm nhận hết được thế giới cái đẹp mà nhà thơ miêu tả và muốn hướng tới.

Mở bài:

“Thơ đưa con người đến với cái đẹp”. Cái đẹp của muôn loài và vạn vật, cái đẹp của cuộc sống con người. Đến với cái đẹp của lòng đồng cảm và vị tha, của những phẩm chất nhân văn là đáng quý. Cái đẹp đó dù với cảm xúc mãnh liệt hay nhẹ nhàng, êm đềm cũng đều để lại cho người đọc những trăn trở, suy nghĩ và bâng khuâng. Bàn về thơ hay, trong “đến với thơ hay” Lê Chí Viễn đã cho rằng “Vào thơ hay, dù là điệu kiên cường hay làn êm ái đều là vào thế giới của cái đẹp”. “Cái đẹp” đó đã được thể hiện sâu sắc qua bài thơ “Độc tiểu thanh kí” của Nguyễn Du.

Thân bài:

Ý kiến của Lê Chí Viễn đã để lại cho người đọc nhiều băn khoăn và trăn trở, suy nghĩ. “Thơ” là những sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tình cảm, cảm xúc mãnh liệt thông qua ngôn từ cô đọng, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu. Một bài “ thơ hay” là một bài thơ phải sử dụng ngôn ngữ tinh vi và đặc sắc, hình ảnh gợi cảm, hàm xúc và đa nghĩa; một bài thơ xuất phát từ chính tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ, là bài thơ đã kiến người đọc đồng cảm với chính tác giả, thấu hiểu triết lý, hiện thực cả một tầng lớp, một giai đoạn dân tộc.

“Một câu thơ hay là một câu thơ giàu sức gợi” (Lưu Trọng lư). Hay nói cách khác một bài “thơ hay” là bài thơ phải kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp nội dung và vẻ đẹp đăc sắc nghệ thuật. “điệu kiên cường” và “làn êm ái” là những dọng điệu, tình cảm và cảm súc của tác giả gửi gắm trong bài thơ, một bài thơ hay, là chiếc cầu nối đồng điệu giữa tâm hồn độc giả với tiếng nói trái tim của người nghệ sĩ. Để rồi, qua đó, người đọc bước vào “thế giới của cái đẹp”, cái đẹp về tư tưởng, tình cảm, cái đẹp về nội dung và hình thức nghệ thuật được tác giả gửi gắm qua bài thơ. Có thể thấy, ý kiến của Lê Chí Viễn đã xuất phát từ đặc trưng và giá trị thẩm mĩ của thơ ca, tác động sâu sắc vào suy nghĩ và cách nhìn nhận của độc giả khi đến với vẻ đẹp tinh tế, đặc sắc của văn chương muôn đời.

Một “bài thơ hay” là bài thơ của tiếng nói tình cảm và tâm hồn của những triết lý nhân sinh và sâu sắc. Những gì đã đi vào trong thơ đều là những trăn trở, suy nghĩ chân thành, là những ấn tượng đặc sắc về thế giới quan của tác giả. Nó phải mạnh mẽ, thăng hoa và mãnh liệt đến nỗi nếu không bộc lộ, người nghệ sĩ sẽ trăn trở và băn khoăn, day dứt. Bởi vậy thế giới của cái đẹp mà nhà thơ sáng tạo lên không đơn thuần là hiện thực cuộc sống bàng quang và vô vị, mặt khác, thế giới đó phải là hình ảnh khách quan trong thế giới chủ quan, nghĩa là phải mang những cảm xúc mãnh liệt, những chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả.

Cái đẹp đó phải khiến độc giả phải đồng điệu trong từng tâm trạng, từng nhịp đập với nhà thơ. “Thế giới của cái đẹp” trong một bài thơ hay được kết nối đến người đọc qua những “điệu kiên cường”, là tình cảm mãnh liệt, lên án và phê phán đanh thép của tác giả, qua những “làn êm ái”, là sự vị tha, đồng cảm, tri tâm, là giọng thơ khắc khoải, ưu sầu của chính tâm hồn người nghệ sĩ. Bởi vậy, một bài “thơ hay” dù xuất phát hay thể hiện bằng bất kỳ ngôn ngữ hay giọng điệu nào để hướng người đọc đến cái đẹp, để cảm nhận “thế giới của cái đẹp”, nét đẹp về nội dung và nghệ thuật đặc sắc.

Nguyễn Du đã đưa người đọc đến với cái đẹp về nội dung bài thơ, cái đẹp của lòng đồng cảm và tri ân, cái đẹp của sự nhân đạo và xót xa cho bao kiếp người bạc mệnh.

“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”.

Tây Hồ là hình ảnh cụ thể, một địa danh có thật, tuyệt đẹp xuất hiện trong bài nhưng nay đã hoá thành gò hoang, trống vắng và hoang tàn. Từ hình ảnh cụ thể đó nhà thơ đã liên tưởng đến sự thay đổi khắc nghiệt của cuộc đời con người. Sự thay đổi giữa cảnh đẹp nay thành gò hoang, giữa hiện tại và quá khứ, giữa vẻ đẹp chỉ còn trong hoài niệm mà nay đã biến mất rồi. Để từ đó là sự thay đổi trong cuộc đời nàng Tiểu Thanh. Từ một người con gái nhan sắc đẹp đẽ, tài năng tuyệt diệu mà nay chỉ còn là một nấm mồ. Nàng chết trong cô đơn và lẻ loi, để lại những ước mơ và thanh xuân tươi đep. Một cuộc đời, một con người tài hoa mà bạc mệnh.

“Tẫn” là sự huỷ diệt, đổi thay đến triệt để và tận cùng của thời gian. Để từ đó nêu ra sự thay đổi đến khắc nghiệt của cuộc đời. Dường như trong câu thơ, người đọc vẫn bắt gặp sự ngậm ngùi, xót xa của Nguyễn Du cho người con gái, cho một số phận bạc mệnh, đắng cay. Qua đó, tấm lòng của Nguyễn Du đã được thể hiện qua tâm thế tri ân cùng nàng. Nhà thơ nhớ người xưa trong khung cảnh “độc điến”, một mình ngắm nàng. Hình ảnh đó như kéo ngắn lại không gian và thời gian, cho hai con người sống ở hai giai đoạn khác nhau cùng đồng cảm và tri ân. Hình ảnh đó là sự xót xa, là niềm cay đắng cho kiếp tài tử phong lưu, là tìm được một người bạn cùng thuyền, cùng sẻ chia và cùng tâm sự. Cái đẹp về nhân cách của tác giả chính là biểu hiện ở chỗ đó.

“Chi phấn hữu thần liên tử hậu Văn chương vô mệnh lụy phần dư”.

Hai câu thơ đã sử dụng nghệ thuật đối, làm lớp nghĩa được xét đa chiều suy nghĩ khác nhau. Son phấn có thần nên khi đốt vẫn ngậm ngùi, xót xa; văn chương không mệnh nhưng đốt vẫn để lại cho lòng người nhiều cay đắng. “Son phấn” là vẻ đẹp về nhan sắc, ngoại hình. “văn chương” là vẻ đẹp về tài năng và trí tuệ. “Son phấn” hay “văn chương” dù khi đã đốt vẫn để lại xót xa cho hậu thế. Là vẻ đẹp về tài năng và nhan sắc tồn tại vĩnh cửu, không bao giờ bị phai mờ. Dù khi đã hoá tro tàn nhưng luôn khiến những người đời sau phải đau đớn, trăn trở và suy nghĩ. Suy nghĩ cho người phụ nữ, tài hoa mà bất hạnh, suy nghĩ cho kiếp tài tử phong lưu đầy xót xa và cay đắng. Để rồi qua đó cái đẹp mà người đọc thấy được ở Nguyễn Du là cái đẹp của lòng đồng cảm, cái đẹp của sự thấu hiểu và tri ân, cái đẹp vẫn văng vẳng trong lòng độc giả.

“Cổ kim hận sự thiên nan vấn Phong vận kì oan ngã tự cư”.

Nỗi hận ở đây là nỗi hận không có lời giải đáp, nỗi hận mà trời cao cũng không thể trả lời: Tại sao kiếp “Tài tử giai nhân” luôn phải chịu những cay đắng, bi kịch, không bao giờ có lối thoát? Là sự xót xa cho một kiếp người. Nỗi hận đó không ai thấu hiểu, chỉ có những con người đồng cảnh ngộ mới có thể đồng cảm và sẻ chia. . Để rồi Nguyễn Du cũng thấu hiểu cái nỗi oan lạ lùng đó. Xót thương, cay đắng cho một kiếp người nay thành xót thương cho chính mình. Một kiếp người tài năng và trí tuệ nay cuối cùng phải chôn vùi trong tấm bi kịch, để rồi kết thúc là một nấm mồ hoang sơ, lẻ loi và cô đơn theo năm tháng. Nỗi hận đó của Nguyễn Du đã đi vào lòng người đọc, đầy u oán và trách cứ, làm cho tâm hồn phải thổn thức, làm trái tim độc giả phải băn khoăn và suy nghĩ.

“Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”.

Tác giả đã xưng tên mình vào trong thơ, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng và cảm xúc của mình. Câu hỏi tu từ vang lên không chỉ là nỗi cay đắng xót thương cho nàng Tiểu Thanh mà còn xót thương cho chính bản thân Nguyễn Du. Tiểu Thanh còn có người đồng cảm và tri ân vậy ba trăm năm nữa, ai sẽ rơi lệ mà đồng cảm mà xót xa cho kiếp người “Cánh bèo mạn nước” như Nguyễn Du. Câu hỏi u sầu đó như ám ảnh người đọc, như trăn trở và băn khoăn.

Nguyễn Du còn dẫn độc giả đến “thế giới của cái đẹp” và nghệ thuật qua thể thơ Đường luật đặc sắc, sử dụng thành công nghệ thuật đối, nhân hoá và câu hỏi tu từ. Ngôn ngữ và giọng thơ thấm đượm buồn bã, u sầu và xót xa như gieo vào tâm trí độc giả những bâng khuâng và trăn trở.

Kết bài:

Như vậy, một bài thơ hay sẽ đưa con người vào “thế giới của cái đẹp”, của những tình cảm, cảm xúc, của vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật đặc sắc. Thế giới đó sẽ là chiếc cầu nối giữa người nghệ sĩ và người đọc. Qua đó, người nghệ sĩ phải biết xây dựng lên những “thế giới cái đẹp” trong lòng người đọc, viết bằng cảm xúc chân thật nhất, còn người đọc phải biết mở rộng tâm hồn để thưởng thức cái đẹp. Có thể thấy, ý kiến của Lê Chí Viễn đã đưa người đọc đến giá trị và đặc trưng của thơ ca, đến với “thế giới của cái đẹp”.

Làm Sáng Tỏ Nhận Định “Vào Thơ Hay, Dù Là Điệu Kiên Cường Hay Làn Êm Ái Đều Là Vào Thế Giới Của Cái Đẹp”

Trong cuốn Đến với thơ hay, Lê Chí Viễn cho rằng: ” Vào thơ hay, dù là điệu kiên cường hay làn êm ái đều là vào thế giới của cái đẹp”

Suy nghĩ của anh chị về ý kiến trên. Hãy làm sáng tỏ “thế giới của cái đẹp” trong tác phẩm ” Đọc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du.

* Giải thích nhận định:

– Thơ hay: hiểu chung là chỉnh thể thẩm mĩ, có khả năng khơi gợi ở người đọc những rung động thẩm mĩ, góp phần hoàn thiện con người, nâng con người lên…

– Điệu kiên cường hay làn êm ái: nội dung muôn màu muôn vẻ, phong phú vô cùng của thơ ca, “kiên cường”: thơ nói chí, tỏ lòng, trào phúng hay “làn êm ái”: thơ trữ tình, thơ lãng mạn.

– Thế giới của cái đẹp: “cái đẹp” là một phạm trù thẩm mĩ thể hiện ở nhiều phương diện: vẻ đẹp của tâm hồn, tấm lòng, tài năng người nghệ sĩ, cái đẹp toát lên từ nội dung và hình thức của thơ, cái đẹp khơi gợi những rung động thẩm mĩ, bồi đắp tâm hồn con người.

⇒ Cả nhận định: Nói về giá trị thẩm mĩ của thơ ca.

* Bàn luận

Ý kiến đúng đắn vì:

– Đối tượng của văn học nói chung, thơ ca nói riêng là đối tượng thẩm mĩ, được khám phá ở chiều sâu thẩm mĩ (mỗi hiện tượng của đời sống bước vào thơ đều được nhìn, được miêu tả dưới góc độ thẩm mĩ – VD: con đường đi vào thơ Xuân Diệu “nhỏ nhỏ xiêu xiêu” của một chiều thu…)

– Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc thăng hoa mãnh liệt, được ý thức nhưng đó cũng là những tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ giàu chất nhân văn (niềm vui, nỗi buồn, khát khao, phẫn nộ …đều phải mang tính thẩm mĩ. VD: nỗi căm giận của con hổ trong vườn bách thú trong thơ Thế Lữ, nỗi buồn khi đứng trước cảnh sông nước trong thơ Huy Cận …)

– Thơ hay thực hiện được mục đích thiên chức của người nghệ sĩ là hướng con người tới chân, thiện, mĩ; nâng con người lên, làm cho lòng người phong phú thanh sạch hơn, khiến con người sống đẹp hơn, nhân văn hơn.

– Tiếp nhận văn học, trong đó có việc tiếp nhận thơ và thơ hay thực chất là tiếp nhận thẩm mĩ, lấy cái trong trẻo, tinh tế và tri âm mà cảm nhận, không bao giờ chấp nhận cái vụ lợi tầm thường, lấy hồn ta để hiểu hồn người.

* Chứng minh:

Cần làm rõ bài thơ “Đọc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du là “thế giới của cái đẹp”:

– Cái đẹp của cảnh vật, con người được miêu tả.

– Cái đẹp của tâm hồn, tình cảm của người nghệ sĩ

– Cái đẹp trong cấu tứ, cách cảm, cách nói, cách dùng từ ngữ…

– Cái đẹp ở khả năng gợi lên những rung cảm thẩm mĩ, khơi luyện những tình cảm thẩm mĩ trong lòng người đọc.

– Dẫn chứng mở rộng: Những tác phẩm khác của Nguyễn Du và tác phẩm của những nhà thơ khác như Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Nguyễn Đình Chiểu …

* Đánh giá:

– Thơ ca là thế giới của cái đẹp, đó chính là đặc trưng thẩm mĩ của thơ ca, cũng là nội dung mục đích của văn học nói chung: văn học cần hướng đến khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp con người cuộc sống, nhà thơ, nhà văn cũng cần viết về những điều tốt đẹp để khơi gợi tình yêu, lòng lạc quan cho người đọc.

– Không phải thơ ca lúc nào cũng miêu tả cái đẹp. Thơ ca có quyền miêu tả những cái xấu xa, độc ác, để sự thật cuộc đời được chân thực hơn.

– Nhà thơ phải là người sống sâu sắc, tinh tế để cảm xúc thăng hoa trên trang thơ, người đọc cũng cần rung động và hiểu đời, hiểu người để cảm nhận hết được thế giới cái đẹp mà nhà thơ miêu tả và muốn hướng tới.

“Thơ đưa con người đến với cái đẹp. Cái đẹp của muôn loài và vạn vật, cái đẹp của cuộc sống con người. Đến với cái đẹp của lòng đồng cảm và vị tha, của những phẩm chất nhân văn là đáng quý. Cái đẹp đó dù với cảm xúc mãnh liệt hay nhẹ nhàng, êm đềm cũng đều để lại cho người đọc những trăn trở, suy nghĩ và bâng khuâng. Bàn về thơ hay, trong “đến với thơ hay” Lê Chí Viễn đã cho rằng ” Vào thơ hay, dù là điệu kiên cường hay làn êm ái đều là vào thế giới của cái đẹp” “cái đẹp” đó đã được thể hiện sâu sắc qua bài thơ ” Đọc tiểu thanh kí” của Nguyễn Du.

Ý kiến của Lê Chí Viễn đã để lại cho người đọc nhiều băn khoăn và trăn trở, suy nghĩ. “Thơ” là những sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tình cảm, cảm xúc mãnh liệt thông qua ngôn từ cô đọng, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu. Một bài ” thơ hay” là một bài thơ phải sử dụng ngôn ngữ tinh vi và đặc sắc, hình ảnh gợi cảm, hàm xúc và đa nghĩa; một bài thơ xuất phát từ chính tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ, là bài thơ đã kiến người đọc đồng cảm với chính tác giả, thấu hiểu triết lý, hiện thực cả một tầng lớp, một giai đoạn dân tộc.

Hay nói cách khác một bài “thơ hay” là bài thơ phải kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp nội dung và vẻ đẹp đăc sắc nghệ thuật. “điệu kiên cường” và “làn êm ái” là những dọng điệu, tình cảm và cảm súc của tác giả gửi gắm trong bài thơ, một bài thơ hay, là chiếc cầu nối đồng điệu giữa tâm hồn độc giả với tiếng nói trái tim của người nghệ sĩ. Để rồi, qua đó, người đọc bước vào “thế giới của cái đẹp”, cái đẹp về tư tưởng, tình cảm, cái đẹp về nội dung và hình thức nghệ thuật được tác giả gửi gắm qua bài thơ. Có thể thấy, ý kiến của Lê Chí Viễn đã xuất phát từ đặc trưng và giá trị thẩm mĩ của thơ ca, tác động sâu sắc vào suy nghĩ và cách nhìn nhận của độc giả khi đến với vẻ đẹp tinh tế, đặc sắc của văn chương muôn đời.

Một “bài thơ hay” là bài thơ của tiếng nói tình cảm và tâm hồn của những triết lý nhân sinh và sâu sắc. Những gì đã đi vào trong thơ đều là những trăn trở, suy nghĩ chân thành, là những ấn tượng đặc sắc về thế giới quan của tác giả. Nó phải mạnh mẽ, thăng hoa và mãnh liệt đến nỗi nếu không bộc lộ, người nghệ sĩ sẽ trăn trở và băn khoăn, day dứt. Bởi vậy thế giới của cái đẹp mà nhà thơ sáng tạo lên không đơn thuần là hiện thực cuộc sống bàng quang và vô vị, mặt khác, thế giới đó phải là hình ảnh khách quan trong thế giới chủ quan, nghĩa là phải mang những cảm xúc mãnh liệt, những chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả.

Cái đẹp đó phải khiến độc giả phải đồng điệu trong từng tâm trạng, từng nhịp đập với nhà thơ. “Thế giới của cái đẹp” trong một bài thơ hay được kết nối đến người đọc qua những “điệu kiên cường”, là tình cảm mãnh liệt, lên án và phê phán đanh thép của tác giả, qua những “làn êm ái”, là sự vị tha, đồng cảm, tri tâm, là giọng thơ khắc khoải, ưu sầu của chính tâm hồn người nghệ sĩ. Bởi vậy, một bài “thơ hay” dù xuất phát hay thể hiện bằng bất kỳ ngôn ngữ hay giọng điệu nào để hướng người đọc đến cái đẹp, để cảm nhận “thế giới của cái đẹp”, nét đẹp về nội dung và nghệ thuật đặc sắc.

Nguyễn Du đã đưa người đọc đến với cái đẹp về nội dung bài thơ, cái đẹp của lòng đồng cảm và tri ân, cái đẹp của sự nhân đạo và xót xa cho bao kiếp người bạc mệnh.

“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư

“Chi phấn hữu thần liên tử hậu“Cổ kim hận sự thiên nan vấn“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. Theo chúng tôi Phong vận kì oan ngã tự cư”. Văn chương vô mệnh lụy phần dư”. Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”.

Tây Hồ là hình ảnh cụ thể, một địa danh có thật, tuyệt đẹp xuất hiện trong bài nhưng nay đã hoá thành gò hoang, trống vắng và hoang tàn. Từ hình ảnh cụ thể đó nhà thơ đã liên tưởng đến sự thay đổi khắc nghiệt của cuộc đời con người. Sự thay đổi giữa cảnh đẹp nay thành gò hoang, giữa hiện tại và quá khứ, giữa vẻ đẹp chỉ còn trong hoài niệm mà nay đã biến mất rồi. Để từ đó là sự thay đổi trong cuộc đời nàng Tiểu Thanh. Từ một người con gái nhan sắc đẹp đẽ, tài năng tuyệt diệu mà nay chỉ còn là một nấm mồ. Nàng chết trong cô đơn và lẻ loi, để lại những ước mơ và thanh xuân tươi đep. Một cuộc đời, một con người tài hoa mà bạc mệnh.

“Tẫn” là sự huỷ diệt, đổi thay đến triệt để và tận cùng của thời gian. Để từ đó nêu ra sự thay đổi đến khắc nghiệt của cuộc đời. Dường như trong câu thơ, người đọc vẫn bắt gặp sự ngậm ngùi, xót xa của Nguyễn Du cho người con gái, cho một số phận bạc mệnh, đắng cay. Qua đó, tấm lòng của Nguyễn Du đã được thể hiện qua tâm thế tri ân cùng nàng. Nhà thơ nhớ người xưa trong khung cảnh “độc điến”, một mình ngắm nàng. Hình ảnh đó như kéo ngắn lại không gian và thời gian, cho hai con người sống ở hai giai đoạn khác nhau cùng đồng cảm và tri ân. Hình ảnh đó là sự xót xa, là niềm cay đắng cho kiếp tài tử phong lưu, là tìm được một người bạn cùng thuyền, cùng sẻ chia và cùng tâm sự. Cái đẹp về nhân cách của tác giả chính là biểu hiện ở chỗ đó.

Hai câu thơ đã sử dụng nghệ thuật đối, làm lớp nghĩa được xét đa chiều suy nghĩ khác nhau. Son phấn có thần nên khi đốt vẫn ngậm ngùi, xót xa; văn chương không mệnh nhưng đốt vẫn để lại cho lòng người nhiều cay đắng. “Son phấn” là vẻ đẹp về nhan sắc, ngoại hình. “văn chương” là vẻ đẹp về tài năng và trí tuệ. “Son phấn” hay “văn chương” dù khi đã đốt vẫn để lại xót xa cho hậu thế. Là vẻ đẹp về tài năng và nhan sắc tồn tại vĩnh cửu, không bao giờ bị phai mờ. Dù khi đã hoá tro tàn nhưng luôn khiến những người đời sau phải đau đớn, trăn trở và suy nghĩ. Suy nghĩ cho người phụ nữ, tài hoa mà bất hạnh, suy nghĩ cho kiếp tài tử phong lưu đầy xót xa và cay đắng. Để rồi qua đó cái đẹp mà người đọc thấy được ở Nguyễn Du là cái đẹp của lòng đồng cảm, cái đẹp của sự thấu hiểu và tri ân, cái đẹp vẫn văng vẳng trong lòng độc giả.

Nỗi hận ở đây là nỗi hận không có lời giải đáp, nỗi hận mà trời cao cũng không thể trả lời: Tại sao kiếp “Tài tử giai nhân” luôn phải chịu những cay đắng, bi kịch, không bao giờ có lối thoát? Là sự xót xa cho một kiếp người. Nỗi hận đó không ai thấu hiểu, chỉ có những con người đồng cảnh ngộ mới có thể đồng cảm và sẻ chia.. Để rồi Nguyễn Du cũng thấu hiểu cái nỗi oan lạ lùng đó. Xót thương, cay đắng cho một kiếp người nay thành xót thương cho chính mình. Một kiếp người tài năng và trí tuệ nay cuối cùng phải chôn vùi trong tấm bi kịch, để rồi kết thúc là một nấm mồ hoang sơ, lẻ loi và cô đơn theo năm tháng. Nỗi hận đó của Nguyễn Du đã đi vào lòng người đọc, đầy u oán và trách cứ, làm cho tâm hồn phải thổn thức, làm trái tim độc giả phải băn khoăn và suy nghĩ.

Tác giả đã xưng tên mình vào trong thơ, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng và cảm xúc của mình. Câu hỏi tu từ vang lên không chỉ là nỗi cay đắng xót thương cho nàng Tiểu Thanh mà còn xót thương cho chính bản thân Nguyễn Du. Tiểu Thanh còn có người đồng cảm và tri ân vậy ba trăm năm nữa, ai sẽ rơi lệ mà đồng cảm mà xót xa cho kiếp người “Cánh bèo mạn nước” như Nguyễn Du. Câu hỏi u sầu đó như ám ảnh người đọc, như trăn trở và băn khoăn.

Nguyễn Du còn dẫn độc giả đến “thế giới của cái đẹp” và nghệ thuật qua thể thơ Đường luật đặc sắc, sử dụng thành công nghệ thuật đối, nhân hoá và câu hỏi tu từ. Ngôn ngữ và giọng thơ thấm đượm buồn bã, u sầu và xót xa như gieo vào tâm trí độc giả những bâng khuâng và trăn trở.

Như vậy một bài thơ hay sẽ đưa con người vào “thế giới của cái đẹp”, của những tình cảm, cảm xúc, của vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật đặc sắc. Thế giới đó sẽ là chiếc cầu nối giữa người nghệ sĩ và người đọc. Qua đó người nghệ sĩ phải biết xây dựng lên những “thế giới cái đẹp” trong lòng người đọc, viết bằng cảm xúc chân thật nhất, còn người đọc phải biết mở rộng tâm hồn để thưởng thức cái đẹp. Có thể thấy, ý kiến của Lê Chí Viễn đã đưa người đọc đến giá trị và đặc trưng của thơ ca, đến với “thế giới cái đẹp”.

Hỏi Thế Gian Tình Ái Là Chi !

Ảnh internet

Con người ai ai cũng vì cái tình mà sống. Yêu, hận, vui, buồn, hạnh phúc, đau khổ… mọi trạng thái cảm xúc của con người đều xuất phát từ tình.

Tình khiến con người ta si mê, chìm đắm trong hỷ lạc, bi ai.

Tình đem đến hạnh phúc thăng hoa nhưng cũng có những đau khổ tột cùng.

Sống làm một kiếp người thì ai ai cũng phải lẩn quẩn trong vòng xoáy tình của thế gian.

Ảnh internet

Ví như bài thơ trong truyện Thần Điêu Đại Hiệp của tác giả Kim Dung ở Trung Quốc, đã lột tả tâm trạng bi ai thống khổ vì tình của nhân vật Lý Mạc Sầu:

“Hỏi thế gian tình ái là chi

Mà đôi lứa thề nguyền sống chết

Nam bắc hai đàng rồi ly biệt

Mưa dầm dãi nắng hai ngả quan san

Thiếp nhớ chàng muôn ngàn đau khổ

Thiếp nhớ chàng khốn khổ xiết bao

Giờ chàng đang ở nơi nao

Nhấp nhô mây núi nao nao cõi lòng”

Tại sao con người phải vì tình mà thống khổ, bi ai, dằn vặt tâm can, sao ta không thể thoát khỏi được cái lưới tình bủa vây này, sao ta không thể buông bỏ cho tâm được an lạc, nhẹ nhàng.

Buông đi cho nhẹ cõi lòng

Buông đi để đón tấm lòng vị tha.

Buông đi cho hết sầu bi

Buông đi để đón từ bi vào lòng

Buông đi để được an vui

Buông đi để đón niềm vui ngập tràn.

Ảnh internet

Và cho dù tình là gì đi chăng nữa, thì sợi dây tình được gắn kết ta với những người ta gặp trong kiếp nhân sinh này, dù hữu duyên hay nghịch duyên tất cả đều được trời xanh an bài để giúp ta trả những nợ nghiệp đã mang (bao gồm cả nghiệp thiện và nghiệp ác) ta đã gây ra từ nhiều kiếp luân hồi.

Nhân sinh như mộng ảo vội đến rồi vội đi, trong cõi hồng trần này, dù gặp nhau hữu duyên hay nghịch duyên, chúng ta cũng phải trân quý mối quan hệ, trân quý thời gian được ở gần nhau và luôn dùng tâm thái hòa ái, từ bi để đối nhân xử thế. Sau này khi đã đi hết hành trình của kiếp nhân sinh, mỗi người sẽ về một phương trời nào đó thì ta vẫn có những ký ức đẹp lưu lại cho hậu thế mai sau.

Hương Liên

Hits: 313

Nghị Luận: Thơ Ca Là Cái Đẹp Đi Tìm

Nghị luận: “Thơ ca là cái đẹp đi tìm”

Thuở xa xưa, khi con người chưa biết gì đến thi ca và âm nhạc, họ thưởng thúc cuộc sống tươi đẹp qua những hình ảnh và tiếng vọng của thiên nhiên. Một hôm, họ thấy một con chim đang say sưa hót trên bầu trời. Tiếng hót trong trẻo vút cao lảnh lót. Bỗng con chim khép đôi cánh lại, bất ngờ lao vút vào bụi gai rậm và chết trên gai nhọn. Xúc động trước cảnh tượng đó con người cố tìm một cách biểu đạt thật cảm động những tình càm của mình. Và thế là, thơ ca ra đời từ đó.

Theo ý nghĩa đó, thơ ca chính là sự rung động của con người trước cái đẹp. Tiếng chim là âm thanh nổi bậc và quyến rũ nhất trong các âm thanh của tự nhiên. Tiếng chim réo rắt trên trời cao, tiếng chim thì thầm trong lá biếc đều mang đến cho ta cảm giác thanh bình thật dễ chịu, xua tan hết bao điều bực dọc và u uẩn đưa tâm hồn ta đến với sự thanh cao, giải thoát. Từ lúc biết lắng nghe tiếng hót của loài chim, con người mới cảm nhận được cái hay của âm thanh. Họ bắt đầu lắng nghe tiếng nước suối chảy và phát hiện ra ở đó một nhịp điệu. Họ cũng lắng nghe tiếng mưa rơi và cả những âm thanh dữ dôi nhất của tự nhiên và tìm thấy ở đó một niềm thích thú mạnh mẽ. Âm thanh đã thực sự thu hút con người và khiến họ biết rung cảm.

Thế nhưng, chỉ đến khi nhìn thấy con chim lao mình vào cành gai nhọn, cắt đứt sự sống và tiếng hót đầy say mê của nó, những rung động ấy mới chuyển hóa thành thơ. Thơ ca chính là nỗi đau thương của con người trước cuộc sống. Thơ ca là niềm cảm thông, đồng vọng, đồng cảm, xót thương, đau khổ,… kể cả niềm hụt hẫng của con người trước trước nghịch cảnh khổ đau, bất trắc.

Theo thần thoại Hy Lạp, Calliope được xem là nữ thần của thi ca. Bà là người đứng đầu trong 9 nữ thần nghệ thuật và khoa học. Calliope còn được xem là nữ thần của trí tệu, tri thức, hùng biện và giai điệu. Nghĩa là, người Hy Lạp cổ đại cho rằng thơ ca đứng đầu trong các ngành nghệ thuật và năng lực của rất nhiều nguồn sức mạnh.

Thơ ca tự nó khởi phát chứ không phải do một năng lực được kí thác. Con người tự biết rung động  trước thiên nhiên và tìm cách biểu đạt nó ra bằng ngôn từ. Và từ muôn đời nay, dù xã hội có thế nào, thì thơ ca vẫn cất giữ trong nó ngọn lửa bất diệt sẵn sàng bùng cháy lên trong mọi hoàn cảnh.

Những thi sĩ luôn là những người được kính trọng trong xã hội. Họ xuất thân từ nhiều tầng lớp, nhiều hoàn cảnh nhưng đối với con người họ là những vị thần sáng tạo, mang đến cho cuộc sống những vần thơ êm dịu, giúp họ vơi bớt nỗi đau và tìm thấy mình ở đâu đó trong câu thơ.

Có thể nói, hầu hết các bộ sử thi vĩ đại của nhân loại đều viết bằng lời thơ. Hai bộ đại sử thi Ấn Độ Ramayana hay Mahabharata là những bài thơ bất tận, kết tinh trí tuệ của rất nhiều con người qua nhiều thời đại. Người ta ví hai bộ sử thi này là túi khôn của người Ấn và hằng ngày mỗi người Ấn đều ca tụng nó. Những gì có trên Ấn Độ đều có trong hai bộ sử thi vĩ đại này. Người ta cũng kinh ngạc là làm sao khi chưa có chữ viết mà người Ấn Độ có thể lưu lại hai bộ sử thi ấy một cách nguyên vẹn qua mấy ngàn năm. Đó cũng là một câu hỏi khiến các nhà nghien cứu phân vân. Một cách trả lời rất đơn giản đó là nó đã được viết bằng lời thơ chứ không phải là văn xuôi.

Tiếp đến là phải kể đến hai bộ sử thi cũng không kém phần đồ sộ của Hy Lạp: Odixe và Ilyat. Hai bộ sử thi đồ sộ thâu tóm toàn bộ cuộc chiến đấu của đoàn quan Hy Lạp chinh phục kẻ thù và cả những cuộc nội chiến. Odixe tiếp sau nội dung của Ilyat nhưng được viết dài hơn. ĐIểm chung nhất của các bộ sử thi là biểu hiện cái đẹp trong trạng thái rực rỡ nhất của con người và tự nhiên. Đó có thể là một vị anh hùng với sức khỏe và dáng dấp phi thường, trái tim bao dung, ý chí mãnh liệt, trí tuệ phi phàm. Đó có thể là một trận đánh vô cùng khốc liệt, diễn ra trong một thời gian dài ở thế trận dằng co, gây cấn và khi thắng bại phân tranh thì chiến trường hoang tàn đầy xác chết. Có thể nói ngôn ngữ sử thi luôn biểu hiện sự vật ở trạng thái tột bậc, phi thường, tráng lệ.

Người đời sau đọc sử thi, họ lại tiếp tục đi tìm cái đẹp được ẩn giấu sau lớp ngôn từ mềm mại ấy. Đã qua biết bao thời gian, biết bao cái mới được hình thành nhưng những giá trị cũ xưa luôn gây cho ta niềm hứng thú, say mê đến bất tận. Ta càng đọc càng thấy cha ông vĩ đại, thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn trong nhiệm vụ giữ gìn, phát huy tiếp biến những giá trị vĩnh hằng ấy.

Đang Ăn Cắn Vào Lưỡi Là Điềm Gì? Điềm Hên Hay Xui

Đang ăn cắn vào lưỡi theo góc nhìn khoa học

Xét về mặt khoa học thì không cho rằng cắn vào lưỡi chính là một điềm báo mà đây chỉ là dấu hiệu của sự rối loạn thần kinh. Điều này sẽ nhẹ thôi, đừng lo.

Khi hai hàm răng của bạn khép lại thì hệ thần kinh tự động ra lệnh cho lưỡi lập tức thu lại. Tuy nhiên thỉnh thoảng lệnh này bị lỗi. Chính vì thế, bạn hoàn toàn không có gì phải lo ngại về vấn đề này, ai cũng sẽ có thể gặp phải sự cố cắn dính lưỡi khi bạn đang ăn hoặc khi nói chuyện do bạn bị mất tập trung, vội vàng hoặc là căng thẳng về mặt suy nghĩ nên đã không phản xạ kịp. Vậy kiến cánh bay vào nhà là điềm gì

Xét về câu hỏi cắn vào lưỡi có chết hay không thì nếu như bạn cắn đứt lưỡi hiển nhiên sẽ chết. Ngày xưa có nhiều người chọn cách tự tử bằng việc cắn lưỡi để quyên sinh và kết liễu mình. Tuy nhiên còn cắn phải lưỡi với vết xước nhỏ thì sẽ không lo bị chết, một lúc sau là máu không chảy ra nữa và nước bọt ở lưỡi đã có tính sát trùng nên bạn không phải lo.

– Cắn vào lưỡi bị sưng báo hiệu có người đang nhớ và nhắc tới bạn, có người đến thăm bạn vào một vài ngày tới. Còn nếu như bạn lập gia đình và gặp hiện tượng này điềm báo may mắn dành cho bạn là vợ bạn sắp có bầu.

– Nếu đang ăn mà vô tình cắn vào lưỡi dẫn đến chảy máu, thì đây là một lời nhắc nhở dành cho bạn. Máu thường được quan niệm là điều xui, không tốt. Vì vậy nếu cắn vào lưỡi chảy máu nhiều thì rất có thể sức khỏe của bạn đang giảm sút do căng thẳng, stress trong công việc.

– Bạn mới lập gia đình mà cắn vào lưỡi thì đây là điềm báo bạn sắp có bầu, sắp chào đón một thành viên tí hon cho ngôi nhà bé nhỏ của mình. Hãy chăm sóc bản thân thật tốt, nghỉ ngơi và ăn uống điều độ hơn.

– Đang ngủ mà bạn vô tình cắn vào lưỡi thì sao? Đây là điềm báo cho rằng bạn đang rất mệt mỏi và áp lực trong cuộc sống. Điều cần làm là bạn nên giữ tinh thần thật thoải mái. Hãy thư giãn, trò chuyện với người thân yêu để giải tỏa căng thẳng.

– Trong giấc ngủ, nếu bạn mơ mình cắn vào lưỡi đến chảy máu thì có thể thời gian tới bạn sẽ gặp nhiều thử thách mới lạ. Mặc dù có chút khó khăn nhưng đây lại là cơ hội để bạn chứng minh được năng lực của bản thân.

Cắn vào lưỡi đánh con số nào?

Nhiều người tin rằng, điềm báo cắn vào lưỡi ẩn chứa ý nghĩa nào đó về con số may mắn, tài lộc. cũng tương tự làm vỡ lọ hoa đánh con gì. thì điềm báo căn vào lưỡi sẽ có những có số may mắn riêng.

Khi cắn vào lưỡi dẫn đến chảy máu đánh ngay số 53 hoặc 89.

Nếu cắn vào lưỡi bị sưng hoặc có vết đứt đánh ngay: Số 32 hoặc 12

Nếu cắn vào lưỡi lúc đang ăn đánh ngay: Số 16 hoặc 46

Bạn đang đọc nội dung bài viết Làm Sáng Tỏ Nhận Định: Vào Thơ Hay, Dù Là Điệu Kiên Cường Hay Làn Êm Ái Đều Là Vào Thế Giới Của Cái Đẹp” trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!