Đề Xuất 1/2023 # Hướng Dẫn Trả Lời Câu Hỏi Trong Sách Giáo Khoa Bài: Bài Toán Dân Số Tài Liệu Học Tập # Top 2 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Hướng Dẫn Trả Lời Câu Hỏi Trong Sách Giáo Khoa Bài: Bài Toán Dân Số Tài Liệu Học Tập # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hướng Dẫn Trả Lời Câu Hỏi Trong Sách Giáo Khoa Bài: Bài Toán Dân Số Tài Liệu Học Tập mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đọc hiểu văn bản

Câu 1. Bố cục của bài văn gồm 3 phần

– Phần 1: Đoạn văn thứ nhất: Giới thiệu về bài toán dân số đã từng được đặt ra từ rất lâu, chứ không riêng gì hiện nay để nói rằng đây không phải là vấn đề mới.

– Phần 2: Ba đoạn văn tiếp theo: Nêu các phương pháp thuyết minh: giải thích, dùng số liệu, nêu ví dụ cụ thể… đê bài văn thuyết minh về “Bài toán dân số” dễ hiểu, sáng rõ. Phần 2 (thân bài) có ba luận điểm:

+ Kể về việc kén rễ của nhà thông thái qua câu chuyện từ một bài toán cổ trên một bài cờ tướng gồm 64 ô.

+ Theo bài toán cổ đó thì từ khi khai thiên lập địa đến năm 1995 dân số thế giới đạt đến ô thứ 30 với điều kiện mỗi gia đình chỉ có hai con.

+ Trong thực tế, một phụ nữ có thể sinh nhiều con. Tính theo bài toán cổ trên thì số dân đã mon men sang ô thứ 31 của bàn cờ.

– Phần 3 (kết bài): đoạn văn còn lại, báo động về con đường “tồn tại hay không tồn tại” của chính loài người.

Câu 2. Vấn đề chính mà tác giả muốn đặt ra trong văn bản này là đất đai không sinh thêm con, với lại dân số hiện nay càng ngày càng nhiều và hiện tại là gấp đôi. Cần hạn chế sự gia tăng dân số bởi điều đó sẽ làm hại đến chính mình.

Tác giả đã “sáng mắt ra” về từ thời cổ đại, cách chúng ta hiện nay hàng nghìn năm mà con người đã nhận ra vấn đề đó.

Câu 3: Câu chuyện kén rễ của nhà thông thái có vai trò và ý nghĩa trong việc làm nổi bật vấn đề chính mà tác giả muốn nói tới. Chúng ta cần phải liên tưởng và suy ngẫm về sự gia tăng dân số đáng lo ngại của thế giới, nhất là những nước chậm phát triển.

Câu 4. Việc đưa ra những con số về tỉ lệ sinh non của phụ nữ ở một số nước theo thông báo của hội nghị Cai-rô nhằm nói rằng một phụ nữ có khả năng sinh được rất nhiều con.

Trong số các nước kể tên trong văn bản thì ở châu Phi là Ru-an-đa và ở châu Á là Việt Nam có tỉ lệ sinh nhiều con ở mỗi phụ nữ là cao, tạo sự phát triển dân số ở nước mình nói riêng và ở hai châu lục này nói chung.

Từ đó, có thể rút ra kết luận là dân số càng tăng khi đời sống càng chật vật, gây khó khăn cho sự phát triển xã hội.

Câu 5. Văn bản này cho chúng ta những hiểu biết là:

– Đất không sinh sôi mà con người càng nhiều lên gấp bội sẽ tạo sự ô nhiễm môi sinh môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của chính mỗi người.

– Dân số nhiều mà xã hội chậm hoặc chưa phát triển sẽ gây nên đói khổ, bệnh tật cho mỗi người sống trong xã hội đó.

– Cần hạn chế sự gia tăng dân số vì chính cuộc sống của mỗi người và cho cộng đồng, cho thế giới có một môi trường trong sạch, không ô nhiễm, đẩy mạnh phúc lợi kinh tế và tiến bộ xã hội…

LUYỆN TẬP

Câu 1. Con đường tốt nhất để hạn chế sự gia tăng dân số là con đường

Đầu tư vào giáo dục đối với tương lai và nhân loại bởi vì:

– Đẩy mạnh giáo dục cho phụ nữ là hạ thấp tỉ lệ thụ thai, tỉ lệ tử vong…

– Sinh đẻ là quyền của phụ nữ, không ai cấm được, vì thế hạ thấp tỉ lệ gia tăng dân số chỉ có thể là kết quả của việc tuyên truyền giáo dục.

– Chỉ có ưu tiên đầu tư cho giáo dục thì mới làm giảm con số 900 triệu phụ nữ mù chữ và 29% em gái chưa được đến trường tiểu học.

Câu 2. Sự gia tăng dân số có tầm quan trọng hết sức to lớn đối với tương lai nhân loại, nhất là đối với các dân tộc còn nghèo nàn, lạc hậu vì:

– Ảnh hưởng đến môi sinh môi trường

chúng tôi

Phát Triển Câu Hỏi Sách Giáo Khoa Thành Câu Hỏi Giáo Viên Trong Dạy Học Tác Phẩm Trữ Tình Lớp 12

Phát triển câu hỏi Sách giáo khoa thành câu hỏi Giáo viên trong dạy học tác phẩm trữ tình lớp 12

Chương 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN

1.1. Những điểm cần chú ý trong việc hướng dẫn học sinh tiếp nhận tác 7 phẩm thơ trữ tình

1.1.1. Khái niệm về thơ trữ tình

1.1.2. Đặc điểm của thơ trữ tình

1.1.2.1. Nội dung thơ trữ tình

1.1.2.2. Hình thức thơ trữ tình

1.1.3. Đặc điểm đối tượng tiếp nhận

1.1.3.1. Sự phát triển của cảm giác, tri giác, năng lực quan sát

1.1.3.2. Sự phát triển của trí nhớ

1.1.3.3. Sự phát triển của tư duy trừu tượng

1.1.3.4. Sự phát triển của tưởng tượng

1.1.3.5. Sự phát triển của năng lực ngôn ngữ

1.2. Thực trạng của việc phát triển câu hỏi trong sách giáo khoa hiện nay

1.2.1. Những cố gắng đã đạt được

1.2.2. Những hạn chế còn tồn tại

1.3. Đặc điểm của hệ thống câu hỏi sách giáo khoa và câu hỏi trên lớp của giáo viên

1.3.1. Đặc điểm câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa

1.3.2. Đặc điểm câu hỏi giáo viên

1.3.3. Mối quan hệ giữa câu hỏi sách giáo khoa và câu hỏi giáo viên Trong dạy học tác phẩm văn chương

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CÂU HỎI SÁCH GIÁO KHOA THÀNH CÂU HỎI GIÁO VIÊN TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH LỚP 12

2.1. Những nguyên tắc phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi của giáo viên

2.2. Mô hình câu hỏi trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình

2.2.1. Hệ thống câu hỏi khai thác những yếu tố ngoài văn bản

2.2.1.1. Câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tác giả

2.2.1.2. Câu hỏi về hoàn cảnh ra đời bài thơ

2.2.2. Hệ thống câu hỏi khai thác những yếu tố của văn bản

2.2.2.2. Hệ thống câu hỏi tìm hiểu những hình thức nghệ thuật đặc sắc

2.2.2.3. Hệ thống câu hỏi yêu cầu học sinh chỉ ra giá trị của các hình thức nghệ thuật

2.2.2.4. Hệ thống câu hỏi khái quát hóa bài thơ

2.2.3. Câu hỏi khai thác tác động của bài thơ đối với cá nhân người tiếp nhận

2.2.4. Vai trò của mô hình câu hỏi

2.3. Quy trình phát triển câu hỏi

2.3.1. Bước 1: Giáo viên đọc và suy nghĩ về tác phẩm văn chương cần dạ

2.3.2. Bước 2: Phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi trong giáo án

2.3.3. Bước 3: Vận dụng hệ thống câu hỏi trong giờ lên lớp

2.4. Phát triển câu hỏi cho một số bài thơ trữ tình trong sách giáo khoa lớp 12

2.4.5. Đàn ghita của lor-ca

Chương 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Những vấn đề chung về thử nghiệm

3.1.1. Yêu cầu thử nghiệm

3.1.2. Mục đích thử nghiệm

3.1.3. Thời gian và địa điểm thử nghiệm

3.1.4. Nội dung và phương pháp thử nghiệm

3.1.4.1. Nội dung thử nghiệm

3.1.4.2. Phương pháp thử nghiệm

3.2.1. Kết quả thử nghiệm

3.2.2. Đánh giá kết quả sau thử nghiệm

Bình Bài Thơ “Chiều Xuân” Của Anh Thơ Tài Liệu Học Tập

Anh Thơ( 1921-2005) quê ở Bắc Giang, từ nhỏ bà đã tìm đến văn thơ để giải thoát và tự khẳng định mình. Tháng 8 năm 1945 Anh Thơ hăng hái tham gia cách mạng, nhiệt tình phục vụ kháng chiến và xây dựng đất nước bằng sáng tác thơ ca bà từng là ủy viên ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam, bà đã để lại nhiều tập thơ có ý nghĩa tinh thần và nghệ thuật sâu sắc. Trong đó có bài “chiều xuân” Anh Thơ đã miêu tả một bức tranh quê chiều xuân thanh bình, đồng thời thể hiện lòng yêu quê hương, đất nước thiết tha của mình.

Quê hương đất nước là mảng đề tài quen thuộc của giới văn nghệ sĩ, đã có nhiều tác phẩm tuyệt vời ra đời, Anh Thơ là một trong số những nhà văn đó đã thể hiện tình yêu quê hương đất nước thiết tha qua những vần thơ mộc mạc, chân thành nhưng sâu lắng. Cảnh quê hương thanh bình yên ả của một quê hương giàu đẹp được thi nhân đón nhận bằng cả tâm hồn. Trải rộng bài thơ trích trong tập thơ “bức tranh quê” xuất bản năm 1941.

Anh thơ đã chọn thể thơ 8 chữ, gieo vần giãn cách, mỗi khổ có 4 câu là một bức tranh quê êm đềm, thư thái như tâm hồn người phụ nữ:

“Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,

Đò biếng lười nằm mặc nước trôi sông;

Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng

Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.”

Nhịp thơ 3/5 chậm rãi, khoan thai với những hình ảnh quen thuộc trong ca dao và thơ ca cổ điển Việt Nam vẫn là bến nước, con sông, con đò, quán nước nhưng có lẽ không phải bên sông có đông người lên xuống mà là một bến vắng, con đò cũng không phải là con đò nối nhíp cầu hai cảng mà là con đò biếng lười, hờ hững để mặt dòng sông trôi xuôi và quán tranh im lìm, vắng lặng trong một chiều mưa xuân. Tất cả cảnh vật như rơi vào tình trạng im ắng tuyệt đối, tất cả như đang mong mỏi một cái gì đó đến từ nơi xa thẳm. Nếu như không có sự chuyển động của nước sông trôi và “chòm xoan hoa tím rụng tơi bời” thì người đọc tưởng như mình đang đối diện với bức tranh xuân tĩnh vật, bức tranh xuân tuyệt đẹp, thật êm ả nhưng cũng thật buồn, chất chứa tâm trạn buồn não nề của chủ thế tôi đang cô đơn, khao khát đợi chờ, hỏi thăm. Khổ thơ như chứa đựng được nỗi niềm của thi nhân.

Ở khổ thứ 2, từ cái nhìn bao quát tác giả đi gần vào với con người và thiên nhiên

“Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,

Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ

Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió.

Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.”

Cảnh chiều xuân được mở rộng hơn sau những ngày băng giá, xuân về cỏ non trở nên tốt tươi hơn “cỏ non tràn biếc cỏ”, điệp từ “cỏ” được lặp lại 2 lần đã khắc họa được cảnh vật thân quen ở nông thôn, cỏ non xanh mơn mởn, sức sống bừng lên mạnh mẽ qua cụm từ “tràn biếc cỏ” trên nền hình ảnh cỏ xuân ấy, chiều xuân hiện ra thật sinh động:”Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ” cùng với đàn bò đang gặm cỏ để ăn và cao hơn một chút là: “Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió”, cảnh vật có động nhưng thật nhẹ nhàng vì đàn sáo đen sà xuống nhưng chỉ mổ một cách vu vơ, vài ba cánh bướm thì lại không bay mà để mặc trôi trước gió, mấy chú trâu bò kia lại cúi thong thả ăn mưa, cách miêu tả của Anh Thơ đã làm cho vật đã tĩnh nay càng thêm tĩnh, càng trở nên mơ hồ, huyền hoặc hơn.

Tác giả lại đi vào chỉ tiết hơn ở cánh trong đồng, được Anh Thơ thể hiện trong khổ 3 của bài thơ:

“Trong đồng hoa lúa xanh dờn và ướt lặng,

Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,

Làm giật mình một cô nàng yếm thắm.

Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.”

Thi nhân tiếp tục khắc họa thêm hình ảnh chiều xuân với “đồng hoa lúa xanh rờn và ướt lặng”, có những chú cò con thỉnh thoảng lại tung vụt bay lên giữa mảnh ruộng sắp ra hoa, trên khung cảnh chiều xuân ấy lại có sự xuất hiện thêm bóng dáng của thiếu nữ đang cúi cuốc cào, tưởng chừng như cô gái đang chăm chỉ với công việc, nhưng không tập trung vào công việc của mình nhiều lắm, chỉ cần tiếng cất cánh của đàn chim con” thôi mà cô gái cũng phải giật mình, cái “giật mình” thật đáng suy nghĩ, nàng yếu thắm kia thả hồn về nơi đâu trong tuổi dậy thì mơ mộng với nỗi buồn vu vơ, nàng ngẩn ngơ trước cảnh vật đang rạo rực vào xuân.

Cả bài thơ chỉ vỏn vẹn có 3 khổ thơ, mỗi khổ là một bức tranh xuân hợp lại, tạo nên cảnh xuân buổi chiều êm ả, bình yên và tĩnh lặng. Qua thủ pháp lấy động tả tĩnh cảnh sắc tươi tắn, con người mộng mơ, với sự quan sát tinh tế của người con gái phải yêu quê hương tha thiết thì ngòi bút của nhà văn Anh Thơ mới dựng lên được một cảnh chiều mưa xuân đẹp đến như thế.

Đọc Khổ Thơ Và Trả Lời Câu Hỏi 1 Và…

câu 3 Mặt trời của thiên nhiên ngày ngày sáng rõ cả nhân gian thì trong lăng cũng có mặt trời ngày ngày rực đỏ. Đối với dân tộc Việt Nam Bác Hồ giống như là một mặt trời mang ánh sáng cho dân tộc Việt Nam, xua tan đi bóng đen nô lệ. Ngày ngày những dòng người đến thăm lăng Bác với nỗi niềm thương nhớ, dòng người ấy kết thành tràng hoa lớn dâng tặng bác “bảy chín mùa xuân”.

câu 4 Mùa xuân nho nhỏ” là một nhan đề hay, một ẩn dụ đầy sáng tạo, giàu ý nghĩa đã góp phần thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm – ước nguyện chân thành của nhà thơ Thanh Hải dành cho cuộc đời.

“Mùa xuân” mang ý nghĩa tả thực – đó là mùa khởi đầu của một năm, là mùa của lộc non lá biếc, của vạn vật sinh sôi nảy nở. “Mùa xuân” còn mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng cho những gì tinh túy, đẹp đẽ nhất của sự sống và cuộc đời mỗi con người. Mùa xuân hay chính là sức trẻ trong tâm hồn và trí tuệ, là nhiệt huyết và năng lực cống hiến của mỗi người vào mùa xuân lớn của thiên nhiên, của đất nước. Từ láy “nho nhỏ” làm rõ hơn đặc điểm của mùa xuân rất giản dị, rất khiêm nhường.

Đặt tên cho tác phẩm như thế, Thanh Hải đã thể hiện ước nguyện, khát vọng khiêm nhường mà rất đỗi chân thành, tha thiết, cao đẹp. Ông ước muốn làm “mùa xuân nho nhỏ”, nghĩa là đem tất cả những gì tốt đẹp nhất, tinh túy nhất – dù bé nhỏ – của mình để hòa vào mùa xuân lớn của cuộc đời, của đất nước.

Nhan đề bài thơ cũng thể hiện quan niệm về sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và cộng đồng. Ai cũng phải sống có ích cho đời, sống làm đẹp cho đất nước.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hướng Dẫn Trả Lời Câu Hỏi Trong Sách Giáo Khoa Bài: Bài Toán Dân Số Tài Liệu Học Tập trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!