Đề Xuất 2/2023 # Hướng Dẫn Cảm Thụ Văn Học Bài Nhớ Việt Bắc # Top 11 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Hướng Dẫn Cảm Thụ Văn Học Bài Nhớ Việt Bắc # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hướng Dẫn Cảm Thụ Văn Học Bài Nhớ Việt Bắc mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nhớ Việt Bắc – Tiếng Việt 3

NHỚ VIỆT BẮC

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.

Núi giăng thành luỹ sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.

Mênh mông bốn mặt sương mù

Đất trời ta cả chiến khu một lòng.

Cách đọc

Đọc chậm rãi, giọng đọc tình cảm, tha thiết. Nhịp thơ chủ yếu là nhịp chẵn, riêng câu thơ cuối đoạn ngắt nhịp lẻ 3/5. Ngắt nghỉ hơi đúng, linh hoạt giữa các dòng, các câu thơ lục bát; biết nhấn giọng ở các từ ngữ gợi tả, gợi cảm (đỏ tươi, trắng rừng, giăng thành luỹ sắt dày, rừng che, rừng vây,…). Mười câu thơ đầu đọc với giọng ngạc nhiên, thích thú như một tiếng reo vui. Sáu câu cuối đoạn đọc với giọng trìu mến, thân thương, tự hào về Việt Bắc gian khổ và hào hùng trong chiến đấu.

Gợi ý cảm thụ

Nhà thơ Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc khi kháng chiến thắng lợi, cán bộ và Chính phủ ta trở về xuôi, về Thủ đô (1954). Cuộc chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn giữa người về xuôi với người dân Việt Bắc:

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Mười câu thơ trên là bức tranh tứ bình xuân, hạ, thu, đông với nỗi nhớ cảnh, nhớ người Việt Bắc. Hai câu đầu giới thiệu nội dung khái quát của đoạn thơ. Nếu hoa là tinh tuý của thiên nhiên thì con người là tinh tuý của trời đất, hoa và người gắn bó với nhau, soi chiếu vào nhau, vẻ đẹp của con người hiện ra rạng ngời giữa thiên nhiên nguyên sơ, trong trẻo. Câu trên là hỏi người, còn câu dưới là giãi bày lòng mình, vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Việt Bắc hiện về trong nỗi nhớ của người ra đi.

Tám câu còn lại của đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ cụ thể của người ra đi. Ta thấy bốn cặp lục bát có một kết cấu rất đẹp, câu sáu nói nhớ cảnh, câu tám nói nhớ người. Cảnh và người trong mỗi cặp câu lục bát lại có đặc điểm, sắc thái riêng, vẻ đẹp nên thơ đa dạng về đường nét màu sắc, ánh sáng, âm thanh lần lượt hiện lên sinh động trước mắt người đọc.

Cảnh vật Việt Bắc được khắc hoạ rất điển hình. Phong cảnh được tác giả gợi tả ở đây là phong cảnh núi rừng được thể hiện qua vẻ đẹp riêng của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Mùa đông, trên nền xanh của đại ngàn rực lên sắc đỏ của hoa chuối. Mùa xuân “mơ nở trắng rừng”. Tiếng ve râm ran trong rừng phách đổ vàng khi mùa hạ đến. Và ánh trăng rọi hoà bình cùng tiếng hát ân tình thuỷ chung làm cho mùa thu có hồn hơn. Bức tranh có buổi trưa tràn đầy nắng, có bầu trời đêm mát dịu ánh trăng, có tiếng ve dệt thành bản đồng ca mùa hạ rộn ràng, tươi vui, có nhiều màu sắc: xanh, đỏ tươi, trắng, vàng,… Vẻ đẹp của cảnh núi rừng Việt Bắc được tạo ra bởi sự hài hoà tuyệt diệu giữa màu sắc và âm thanh.

Nỗi nhớ thương cứ tăng dần, càng về sau, nỗi nhớ càng trở nên tha thiết hơn. Điệp từ “nhớ” được sử dụng trong đoạn thơ góp phần khẳng định điều đó. Nỗi nhớ của người ra đi không chỉ gắn với cảnh, mà còn thật đằm thắm tình người. Nỗi nhớ khi thì hướng về một đối tượng cụ thể (“nhớ người đan nón”, “nhớ cô em gái”), khi thì hướng về một đối tượng chung chung (“nhớ ai tiếng hát”) song lại chứa chan niềm nhớ thương về một con người cụ thể nào đó. Dù sắc thái cung bậc khác nhau nhưng bao giờ nỗi nhớ cũng hướng về những con người lao động cần cù, có tấm lòng son sắt thuỷ chung.

Đoạn thơ được cấu trúc hài hoà, có giá trị tạo hình, trong một cặp câu lục bát, cứ câu sáu tả cảnh, câu tám lại tả người. Nếu như tác giả miêu tả thiên nhiên bằng bút pháp tả thực chi tiết thì khi tả người lại chỉ dùng những nét điểm xuyết nhưng lại là những nét có hồn nhất của con người Việt Bắc (“dao gài thắt lưng”, “chuốt từng sợi giang”, “cô gái hái măng một mình”…).

Cấu trúc đoạn thơ độc đáo đan xen nhịp nhàng cho ta thấy cảnh và người Việt Bắc luôn có sự quấn quýt giao hoà, sự gắn bó hữu tình làm nên vẻ đẹp cuộc sống, cho dù đây là cuộc sống kháng chiến gian khổ.

Sáu câu tiếp là dòng hồi tưởng về cuộc sống kháng chiến gian khổ. Ở phần trên tác giả hồi tưởng lại một thiên nhiên thơ mộng, nên thơ, hữu tình còn đến đây lại là một thiên nhiên hùng vĩ cùng con người kháng chiến. Nghệ thuật nhân hoá “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” cho ta thấy núi rừng Việt Bắc đối với ta là bạn, đối với địch là thù. Cuộc kháng chiến của ta thắng lợi là bởi “Đất trời ta cả chiến khu một lòng”.

Thể thơ lục bát ngân nga thiết tha uyển chuyển, câu nọ gọi câu kia, cảm xúc dào dạt. Nhịp thơ đều đặn, câu sáu nhịp 2/4, câu tám nhịp 4/4 cân xứng tạo ra sự nhịp nhàng, dìu dặt cho lời thơ. Đoạn thơ cùng với cả bài, có nhạc điệu êm dịu như một khúc hát ru kỉ niệm.

XEM THÊM BÀI NGƯỜI LIÊN LẠC NHỎ TẠI ĐÂY

Tags:Văn 3

Theo chúng tôi

Hướng Dẫn Cảm Thụ Văn Học Bài Về Quê Ngoại

Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Về quê ngoại – Tiếng việt 3

Về quê ngoại

Em về quê ngoại nghỉ hè,

Gặp đầm sen nở mà mê hương trời.

Gặp bà tuổi đã tám mươi,

Quên quên nhớ nhớ những lời ngày xưa.

Gặp trăng gặp gió bất ngờ,

Ở trong phố chẳng bao giờ có đâu.

Bạn bè ríu rít tìm nhau

Qua con đường đất rực màu rơm phơi.

Bóng tre mát rợp vai người

Vầng trăng như lá thuyền trôi êm đềm.

Về thăm quê ngoại, lòng em

Yêu thêm cuộc sống, yêu thêm con người:

Em ăn hạt gạo lâu rồi

Hôm nay mới gặp những người làm ra.

Những người chân đất thật thà

Em thương như thể thương bà ngoại em.

(Hà Sơn)

Cách đọc

Đọc chậm rãi, giọng đọc tình cảm, tha thiết. Nhịp thơ chả yếu là nhịp chẵn. Mười câu thơ đầu đọc với giọng ngạc nhiên, thích thú như một tiếng reo vui. Sáu câu cuối bài đọc với giọng trìu mến, thân thương.

Gợi ý cảm thụ

Bài thơ là lời tâm tình của một em bé. Em kể lại một kỉ niệm đẹp nhân dịp nghỉ hè về thăm quê ngoại. Những ấn tượng, cảm xúc về cảnh quê và người quê lưu lại trong tâm trí em thật sâu sắc, xúc động. Những vần thơ lục bát uyển chuyển, nhịp thơ chẵn (2/2/2, 2/4, 2/2/4, 4/4) rất thích hợp trong việc diễn tả tâm tư tình cảm con người.

Điệp từ “gặp” được lặp lại ba lần diễn tả ba cuộc gặp gỡ đầy thú vị: có ngỡ ngàng đến ngây ngất, say mê khi gặp đầm sen nở: “Gặp đầm sen nở mà mê hương trời” ; có niềm thương yêu, trìu mến, đầy hứng thú với “những cái ngày xửa ngày xưa bà thường hay kể”, dù trong những lời kể của người bà “tuổi đã tám mươi” đã có phần “quên quên nhớ nhớ” ; có cả những bất ngờ, sững sờ trước vẻ đẹp của một đêm trăng thanh gió mát “Gặp trăng, gặp gió bất ngờ”,… Những vẻ đẹp nên thơ, như trong cổ tích, như lạc vào thế giới thần tiên mà em nhỏ khẳng định chắc chắn rằng: “ở trong phố chẳng bao giờ có đâu”.

Vẻ đẹp quê hương hiện lên qua hương vị thanh khiết, lan rộng, ngào ngạt của sen trong đầm. Đó là mùi vị quen thuộc của quê hương trong những buổi chiều hè, nhất là vào những đêm trăng thanh gió mát. Hình ảnh hoán dụ “hương trời” đã đặc tả mùi hương sen toả ngát trong không gian. Em nhỏ say sưa thưởng thức khí trời trong lành, “hương trời” tràn ngập khắp không gian của chiều quê yên bình, của đêm trăng sáng lung linh,…

Các từ láy “ríu rít”, “êm đềm” đã tái hiện khung cảnh làng quê với hình ảnh các em nhỏ cùng gặp gỡ vui đùa dưới ánh trăng trong. Con đường làng vào ngày mùa được mô tả “rực màu rơm phơi”. Tính từ “rực” ở đây được sử dụng như một động từ để đặc tả ánh nắng chói chang của mùa hè đã nhuộm vàng màu rơm rạ.

Vầng trăng hiện lên đẹp đẽ, lung linh qua hình ảnh so sánh “Vầng trăng như lá thuyền trôi êm đềm”, vầng trăng ấy mang chở những khát khao mơ ước của các em nhỏ. Phải chăng đó là vầng trăng gợi ra không khí của cổ tích – có chú Cuội, và cả cây thuốc quý mỗi năm chỉ rụng một chiếc lá linh thiêng để thực hiện những ước mơ của con người?

Những câu thơ đầu đã mô tả cảnh đẹp thân thương của một vùng quê thanh bình, trù phú trong ngày mùa, với đầm sen ngát hương, với đêm trăng sáng, và đặc biệt là hình ảnh người bà kính yêu kể cho cháu nghe những câu chuyện ngày xửa ngày xưa…

Cuộc gặp này nối tiếp những cuộc gặp kia, thêm cảnh, thêm người, thêm ý nghĩ, tâm tư, nhen nhóm lên tình yêu quê hương tha thiết, gặp cảnh – nhớ cảnh, gặp người – mến yêu người:

Về thăm quê ngoại, lòng em

Yêu thêm cuộc sống, yêu thêm con người.

Nhịp thơ 4/4 và kết cấu tiểu đối góp phần tăng lên, nhân lên tình cảm yêu thương dành cho quê hương. Em nhỏ như chợt nhận ra một điều thiêng liêng, quý giá trong lần về thăm quê: cần phải biết ơn những người làm ra hạt gạo. Bài học sâu sắc rút ra không phải là lí thuyết, đó là những ý nghĩ trong trẻo, hồn nhiên mà thật cao đẹp:

Những người chân đất thật thà

Em thương như thể thương bà ngoại em.

Hình ảnh so sánh tương đồng với điệp từ “thương” đã gợi ra tình cảm thắm thiết, trìu mến, nghĩa tình sâu nặng, cả lòng biết ơn của em bé với những con người đáng kính, gần gũi thương yêu nhất – những người nông dân chân lấm tay bùn, trong đó có cả người bà vô cùng kính yêu của em.

Bài thơ mộc mạc, giản dị, nhưng đầy ắp những hình ảnh đẹp ; những tình cảm vừa trong sáng, thiêng liêng, vừa gần gũi ấm áp. Tình bà cháu, tình bạn, tình yêu quê hương đất nước, con người đã làm sáng đẹp tâm hồn của mỗi chúng ta.

XEM THÊM BÀI ĐÔI BẠN TẠI ĐÂY

Tags:Văn 3

Theo Nguồn: chúng tôi

Hướng Dẫn Cảm Thụ Văn Học Bài Quê Hương

Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Quê hương – Tiếng việt 3.

Quê hương

Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay.

Quê hương là con diều biếc

Tuổi thơ con thả trên đồng

Quê hương là con đò nhỏ

Êm đềm khua nước ven sông.

Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che

Quê hương là đêm trăng tỏ

Hoa cau rụng trắng ngoài hè.

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người.

(Theo Đỗ Trung Quân)

Cách đọc

Đọc bài thơ với giọng thong thả, nhẹ nhàng, tình cảm, nhấn giọng ở những từ ngữ mang hình ảnh so sánh. Chú ý ngắt nhịp giữa các dòng thơ ; nghỉ hơi đúng sau mỗi dòng thơ và giữa các khổ thơ. Khổ cuối đọc với giọng ngợi ca, tin tưởng, cũng là lời nhắc nhở tha thiết, chân thành.

Gợi ý cảm thụ

Bất cứ một người Việt Nam nào cũng từng nghe và thuộc bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân. Bài thơ đã được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ nhạc với ca từ không hề thay đổi, bằng giai điệu mượt mà, trữ tình, đằm thắm. Ai đã từng nghe một lần, không dễ gì quên được.

Ba khổ thơ đầu, với cấu trúc A là B, nhà thơ đưa ra một định nghĩa về quê hương theo cách của riêng mình:

– Quê hương là chùm khế ngọt

– Quê hương là đường đi học

– Quê hương là con diều biếc

– Quê hương là con đò nhỏ

– Quê hương là cầu tre nhỏ

– Quê hương là đêm trăng tỏ

Nhà thơ đã sử dụng biện pháp lặp từ ngữ, lặp cấu trúc ngữ pháp câu, biện pháp liệt kê, cấu trúc thơ vắt dòng rất đặc sắc. Khung cảnh làng quê trên mọi miền Tổ quốc Việt Nam hiện lên thân thương, giản dị mà xúc động lòng người. Những cặp câu thơ dần hiện lên như những thước phim quay chậm, cảnh vật có gần có xa, có mờ có tỏ, có lớn có nhỏ. Nhịp thơ đều đặn, nhịp nhàng, gần như cả bài thơ chỉ có một nhịp 2/4.

Cả ba khổ thơ với những câu thơ cùng một nhịp, kết cấu giống nhau nhưng vẫn nhẹ nhàng, thanh thoát vô cùng. Phải chăng, vẻ đẹp của những hình ảnh thơ đã làm cho người đọc quên đi hình thức bên ngoài của ngôn ngữ? Nhà thơ đã biến cái không thể thành cái có thể, và được độc giả nồng nhiệt đón nhận bằng một sự đồng cảm rất tự nhiên. Quê hương là một khái niệm trừu tượng, nhà thơ đã cụ thể hoá nó bằng những hình ảnh sống động. Quê hương không thể tương đương với chùm khế ngọt, đường đi học rợp bướm vàng bay, con diều biếc thả trên cánh đồng, con đò nhỏ khua nước ven sông, cầu tre nhỏ, nón lá nghiêng che, đêm trăng tỏ, hoa cau rụng trắng ngoài hè… nhưng tất cả những điều đó lại làm nên một hình ảnh quê hương đẹp đẽ, lung linh, trọn vẹn và thiêng liêng. Người xưa nói: hãy xúc động hồn thơ để ngọn bút có thần. Với lòng yêu quê hương thiết tha, nhà thơ đã vẽ lên bức tranh quê hương mang hồn quê, cảnh quê, người quê bằng một ngọn bút có thần…

“Quê hương là chùm khế ngọt” – chùm khế ngọt nhỏ bé, ngọt mát, êm dịu, một thứ quà quê thanh đạm, bình dị, quá đỗi bình dị mà sao day dứt và ám ảnh? Có lẽ vị ngọt thanh của khế làm mát dịu lòng ta, trái khế ngọt mang hương vị của ca dao cổ tích, dư vị thắm thiết của tình nghĩa con người. Đấy là quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ta sinh ra và lớn lên, nơi nhũng người thân yêu của ta ở đó, nơi ta đã đi qua thời thơ dại với con đường đến trường rợp bướm vàng bay.

Hình ảnh con bướm vàng cũng là một hình ảnh thực và đặc sắc của làng quê mà ở thành phố không bao giờ thấy được. Nhà thơ Giang Nam nhớ về tuổi thơ “Có những ngày trốn học đuổi bướm cạnh cầu ao – Mẹ bắt được chưa đánh roi nào đã khóc”, nhà thơ Huy Cận nhớ “Một buổi trưa không biết ở thời nào – Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao – Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ”, và nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa viết bài thơ đầu tiên của mình là bài Con bướm vàng. Ở bài thơ Quê hương nêu trên, hình ảnh con đường đi học “rợp bướm vàng bay” đẹp như một giấc mơ, đẹp như trong truyện cổ tích vậy.

Bài thơ kết thúc bằng một hình ảnh so sánh mang ý nghĩa sâu sắc. Quê hương được so sánh với mẹ vì đó là nơi ta được sinh ra, được nuôi dưỡng lớn khôn, giống như người mẹ đã sinh thành nuôi ta khôn lớn trưởng thành. Vì vậy, nếu ai không yêu quê hương, không nhớ quê hương mình thì không trở thành một người tốt được. Lời thơ nhắc nhở mỗi chúng ta hãy luôn sống và làm việc có ích, hãy biết yêu quê hương xứ sở, vì quê hương là mẹ và mẹ chính là quê hương, vì “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn” (Chế Lan Viên).

XEM THÊM BÀI 24: GIỌNG QUÊ HƯƠNG

Tags:Văn 3

Theo Nguồn: chúng tôi

Hướng Dẫn Cảm Thụ Văn Học Bài Hai Bàn Tay Em

Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Hai bàn tay em – Tiếng việt 3.

Hai bàn tay em

(trích)

Hai bàn tay em Như hoa đầu cành Cánh tròn xinh xinh Đêm em nằm ngủ Hai hoa ngủ cùng Hoa thì bên má Hoa ấp cạnh lòng. Tay em đánh răng Răng trắng hoa nhài. Tay em chải tóc Tóc ngời ánh mai. Có khi một mình Nhìn tay thủ thỉ Em yêu em quý Hai bàn tay em. Giờ em ngồi học Bàn tay siêng năng Nở hoa trên giấy Từng hàng giăng giăng.

Cách đọc

Đọc bài thơ với giọng hồn nhiên, ngây thơ, đầy tình cảm yêu quý. Chú ý ngắt nghỉ hơi đúng, tự nhiên, thể hiện tình cảm qua giọng đọc. Ngắt nghỉ hơi giữa các dòng thơ ngắn hơn, nghỉ hơi giữa các câu thơ thể hiện trọn vẹn một ý. Nhấn giọng ở các từ ngữ gợi tả, gợi cảm như siêng năng, giăng giăng, thủ thỉ,…

Gợi ý cảm thụ

Bài thơ được viết theo thể thơ bốn chữ, với giọng điệu nhẹ nhàng, thủ thỉ, ngây thơ của một em bé gái. Mở đầu bài thơ, nhà thơ giới thiệu đôi bàn tay xinh xắn của cô bé qua một hình ảnh so sánh: “Hai bàn tay em – Như hoa đầu cành”. Hai bàn tay của bé được so sánh với nụ hoa hồng, những ngón tay xinh như những cánh hoa. Hình ảnh so sánh vừa chính xác vừa độc đáo. Cánh hoa tròn như ngón tay em xinh đẹp: “Cánh tròn ngón xinh”.

Bàn tay của em lúc nào cũng được nâng niu. Bàn tay em không chỉ xinh đẹp mà còn rất hữu ích. Buổi tối, hai hoa ngủ cùng bé, hoa nào cũng ở bên bé “Hoa thì bên má – Hoa ấp cạnh lòng”. Buổi sáng, tay giúp bé đánh răng, chải tóc. Khi bé học bài, bàn tay siêng năng làm cho những hàng chữ nở hoa trên giấy. Những khi một mình, bé thủ thỉ tâm sự cùng hai bàn tay như những người bạn thân thiết, gắn bó.

Bài thơ có năm khổ, khổ nào cũng có những hình ảnh đẹp và thú vị. Khổ 1, hai bàn tay em đẹp như nụ hoa đầu cành. Khổ 2, hai bàn tay dễ thương vì lúc nào cũng ở bên cạnh em, ngay cả khi em ngủ. Khổ 3, có hai hình ảnh đẹp “Răng trắng hoa nhài”, “Tóc ngời ánh mai”. Người lớn bảo: “Cái răng, cái tóc là góc con người”. Để có được vẻ đẹp toả rạng như vậy, cần có một đôi tay khéo léo, chăm chỉ, tự giác. Và đôi tay siêng năng, cần cù sẽ giúp trang giấy nở hoa khi em viết. Hình ảnh vui, ngộ nghĩnh nhất là hình ảnh em bé ngồi thủ thỉ với đôi bàn tay của mình và để nói rằng: em rất yêu, rất quý đôi bàn tay ấy.

Tác giả đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật để miêu tả bàn tay của em bé. Hình ảnh so sánh bàn tay của em “Như hoa đầu cành” xinh xắn, đáng yêu ; biện pháp đối ứng từ ngữ làm nổi bật hình ảnh hai bàn tay em bé khi ngủ:

Hoa thì bên má Hoa ấp cạnh lòng.

Khổ thơ thứ ba, tác giả sử dụng biện pháp lặp rất thú vị, có đủ cả lặp nối tiếp câu 1-2, 3-4 (răng, tóc) và lặp cách quãng ở câu 1 và 3 (tay em) ; có đủ cả lặp đầu và lặp cuối câu thơ:

Tay em đánh răng

Răng trắng hoa nhài

Tay em chải tóc

Tóc ngời ánh mai.

Biện pháp lặp đem lại sự nhịp nhàng cho câu thơ, gợi ra thật sinh động những động tác nhịp nhàng, đều đặn của em bé khi đánh răng, chải đầu.

Và ở khổ 4, tác giả đã dùng cách nói hình tượng để miêu tả bàn tay chăm chỉ học tập có thể khiến trang giấy nở hoa “Từng hàng giăng giăng”.

Một bài thơ nhỏ, vui, ngộ nghĩnh dành cho trẻ thơ. Không chỉ khen đôi tay mình đẹp, em bé thật tự hào vì đôi bàn tay ấy rất có ích, giúp bé trở nên đáng yêu, xinh tươi. Qua bài thơ, nhà thơ Huy Cận muốn nhắc nhở các bé hãy nâng niu, giữ sạch đôi tay. Sự tinh tế, hồn hậu của nhà thơ thể hiện ở chỗ, nhà thơ nhắc nhở, chỉ bảo các em mà vẫn như đang kể chuyện, để tâm tình, để khen ngợi các em nữa.

XEM BÀI 1: CẬU BÉ THÔNG MINH TẠI ĐÂY

Tags:Văn 3

Theo chúng tôi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hướng Dẫn Cảm Thụ Văn Học Bài Nhớ Việt Bắc trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!