Đề Xuất 2/2023 # Giới Thiệu Ngắn Gọn Về Tác Giả Và Bài Thơ Sông Núi Nước Nam # Top 9 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Giới Thiệu Ngắn Gọn Về Tác Giả Và Bài Thơ Sông Núi Nước Nam # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giới Thiệu Ngắn Gọn Về Tác Giả Và Bài Thơ Sông Núi Nước Nam mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giới thiệu ngắn gọn về tác giả và bài thơ Sông núi nước Nam

Đề bài: Giới thiệu ngắn gọn về tác giả và bài thơ Sông núi nước Nam Bài làm

Bài thơ Sông núi nước Nam ( Nam quốc sơn hà) là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Bài thơ là lời khẳng định chắc chắn về quyền độc lập của dân tộc, chủ quyền của đất nước và thể hiện quyết tâm của toàn dân tộc trong việc bảo vệ đất nước. Đó là lời tuyên bố đanh thép của một tướng giỏi đồng thời là một thi nhân xuất sắc: Lý Thường Kiệt.

Tuy đến tận bây giờ tác giả chính xác của bài Nam quốc sơn hà vẫn chưa rõ là ai nhưng đã có rất nhiều cách giải thích hay truyền thuyết lý giải về bài thơ. Trong đó có một truyền thuyết được coi là logic và gần với sự chính xác nhất đó là: Năm 1077, Quách Quỳ chỉ huy quân Tống quân xâm lược nước ta. Vua Lý Nhân Tông, sai tướng Lý Thường Kiệt đem quân chặn giặc ở phòng tuyến sông Như Nguyệt (một khúc sông của sông Cầu, nay thuộc huyện Yên Phong, Bắc Ninh), bỗng một đêm, quân sĩ chợt nghe từ trong đền thờ hai an hem Trương Hống và Trương Hát – hai vị tướng đánh giặc giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông như Nguyệt – có tiếng ngâm bài thơ này.

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Về nội dung, Bài thơ Nam quốc sơn hà là một bản tuyên ngôn chủ quyền đầy đanh thép của một con người yêu nước đồng thời là người tiên phong ra chiến trường đối đầu với quân giặc. Câu mở đầu “Sông núi nước Nam, vua Nam ở” khẳng định rất rõ ràng về việc chủ quyền, đất nào thì vua ấy, vua ở đâu thì dân ở đấy. Đó là sự độc lập và có chủ quyền riêng về chính trị, quân sự của một đất nước riêng. Đó là sự thật hiển thiên không ai, không một thế lực nào được, có quyền xâm phạm vào lãnh thổ chủ quyền của dân tộc ấy. ” Rành rành địa phận tại sách trời”, trong đời sống người dân đất Việt từ xưa đến này trời là một vị tối thượng có thể sắp đặt mọi chuyện của nhân thế. Vậy đất nước Nam này đã được trời ghi được định phận ở sách trời – có nghĩa là việc đó đã là điều hiển nhiên, là đạo lý, càng nhấn mạnh thêm lần nữa về chủ quyền lãnh thổ của dân tộc. ” Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm” là lời hỏi tội lũ giặc, làm những điều xấu xa, phi nghĩa và làm trái với những gì trời định. “Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” là lời cảnh báo trước những việc mà lũ giặc đã làm. Người xưa có câu: “Gieo gió ắt gặp bão”, lòng tham vô đáy của lũ giặc xâm phạm sẽ bị trời phạt, chúng sẽ “bị đánh tơi bời”. Không chỉ vậy câu thơ còn khẳng định ý chí quyết tâm sắt đá bảo vệ chủ quyền của đất nước đến cuối cùng và còn tạo nên được niềm tin tất thắng mai sau cho nhân dân của dân tộc.

Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, thể thơ Đường luật, một thể thơ phổ biến của văn học trung đại: bốn câu, bảy chữ, hiệp vần ở chữ cuối cùng của mỗi câu và ở những câu 1, 2, 4 đều cân bằng. Đọc bài thơ với giọng chậm, chắc, hào hùng, đanh thép và hứng khởi.

Bản tuyên ngôn trên danh nghĩa một bài thơ ngâm thể hiện qua niềm tự hào về chủ quyền lãnh thổ của đất nước và niềm tin vào chiến thắng cuối cùng của dân tộc, ắt giành được độc lập chủ quyền một cách trọn vẹn.Những biểu cảm ấy được ẩn đằng sau những câu chữ, đọc lên ta mới hiểu được hàm ý cũng như tình cảm sâu xa chứa đựng trong đó, từ đó ta có thể thấy tình yêu quê hương đất nước và quyết tâm giữ vững chủ quyền dân tộc của ông cha ta ngày xưa.

TU KHOA TIM KIEM: GIOI THIEU NGAN GON GIOI THIU NGAN GON VE TAC GIA GIOI THIEU NGAN GON VE TAC PHAM TAC PHAM SONG NUI NUOC NAM Theo chúng tôi

Giới Thiệu Tác Giả Sóng Hồng

Tiểu sử tác giả Sóng Hồng

Nhà thơ, nhà chính trị tên thật là Đặng Xuân Khu, tức Trường Chinh, nguyên Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quê gốc : xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Hoạt động cách mạng từ cuối những năm 20 của thế kỷ XX, ông đã từng bị chính quyền thực dân bắt đi đày ở nhiều nhà tù : Hỏa Lò, Sơn La… Sau này, ông trở thành một trong những người đứng. đầu Nhà nước, giữ nhiều trọng trách của Đảng và Chính phủ. Là nhà hoạt động chính trị, đồng thời cũng là nhà thơ, nhà lý luận văn nghệ mácxít, ông đã có nhiều cống hiến lớn lao cho Đảng, cho cách mạng và nhân dân. Trên mặt trận văn hóa – văn nghệ từ những năm 40, ông đã là Chủ bút báo Giải phóng (cơ quan của xứ ủy Bắc Kỳ), là người chỉ đạo thành lập Hội văn hóa cứu quốc (1943), tác giả của bản Đề cương văn hóa Việt Nam (1943), có nhiều bài phát biểu quan trọng về đường lối văn nghệ của Đảng ở các Đại hội văn nghệ toàn quốc 1948, 1957, 1962. Ông mất năm 1988 tại Hà Nội.

Tác phẩm tác giả Sóng Hồng

Các tác phẩm chính : Thơ Sóng Hồng (2 tập).

Là nhà hoạt động chính trị, lại giữ nhiều trọng trách, Sóng Hồng ít có thời gian tập trung cho thơ. Trước Cách mạng tháng Tám, vì bị giam cầm trong nhà tù, buồn mà làm thơ. Sau Cách mạng, ông làm thơ phần nhiều là do ngẫu hứng. Có điều dù trước hay sau, thơ Sóng Hồng cũng đậm đà cảm hứng chính trị. Những bài thơ làm trong tù của Sóng Hồng tập trung thể hiện tinh thần lạc quan và: phong thái ung dung, đĩnh đạc của người cộng sản, thể hiện một bản lĩnh vững vàng, một niềm tin vững chắc vào ngày mai chiến thắng. Thơ ông có bài như là những tuyên ngôn nghệ thuật của Đảng (Là thi sĩ). Nói đến bài thơ này người ta liền nghĩ đến hai câu thơ “tuyên ngôn” nổi tiếng của Sóng Hồng : “Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ, Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Đó cũng là quan “điểm sáng tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Nay ở trong thơ nên có thép, Nhà thơ cũng phải biết xung phong” (Nhật ký trong tù). Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Sóng Hồng ít có thời gian dành cho sáng tác. Tuy vậy ông cũng để lại một số bài thơ gây được ấn tượng trong lòng người đọc như Øi họp, Đọc thơ Úc Trai… Đi họp là một bài thơ sáng tác theo kiểu ngẫu hứng, cưỡi ngựa trên đường “đi họp” trong kháng chiến chống Pháp. Lời thơ, tứ thơ, nhịp điệu .. cũng như hình ảnh thơ rất giản dị, tự nhiên và như nhịp theo nước đi nhanh chậm của vó ngựa. Đọc thơ Ức Trai là bài thơ ghi lại những suy nghĩ của Sóng Hồng về con người và sự nghiệp của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. ” Bài thơ gây xúc động bởi tình cảm chân thành và những suy nghĩ sâu lắng, sự sẻ chia và đồng cảm giữa những tâm hồn lớn và nhân cách lớn.

Ngoài những sáng tác thơ, Sóng Hồng còn là nhà lý luận văn nghệ. Nhiều bài viết của ông có ý nghĩa quan trọng đối với phương hướng xây dựng nền văn nghệ cách mạng. Cùng bạn đọc là bài tựa ông viết cho tập Thơ Sóng Hồng. Ở bài này, ông phát biểu ý kiến của ông về lý luận thơ.

Giới Thiệu Về Bài Thơ Thần Nam Quốc Sơn Hà Của Tác Giả Lí Thường Kiệt

Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được xem là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta sau hơn một nghìn năm bị phong kiến nước ngoài đô hộ.

Từ lâu “Nam quốc sơn hà” được xem là một trong những tác phẩm văn học nổi tiếng nhất của nước ta từ trước đến nay. Tác phẩm là bài thơ thuộc loại hay nhất và cổ nhất của dòng văn học khi viết về văn học dân tộc chính thức chào đời. Bài thơ chỉ có bốn câu với hai mươi tám chữ nhưng đã tuyên bố một cách hùng hồn và đanh thép về ranh giới lãnh thổ và chủ quyền của nước Đại Việt.

2. Nội dung của bài thơ

– Khẳng định sự tồn tại khách quan của nước Đại Việt

Bài thơ khẳng định sự tồn tại khách quan của nước Đại Việt với tư cách là một quốc gia độc lập, có chủ quyền và có lãnh thổ riêng biệt, cảnh cáo những kẻ không thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại thiêng liêng ấy.

– Tuyên bố quyết tâm giữ vững chủ quyền

Ngoài ra bài thơ đã chống lại tư tưởng kì thị Hoa Di, vừa ngu xuẩn vừ phản động của phong kiến phương Bắc, phủ nhận vai trò độc tôn của hoàng đế Trung Hoa. Nước Nam có Hoàng đế nước Nam, Hoàng đế của nước Nam không “tiếm vị” và không “nghịch đạo trời” nên nếu kẻ nào dám xâm phạm tới ắt sẽ bị bại vong. Bài thơ không chỉ tuyên bố chủ quyền đất nước mà còn tuyên bố quyết tâm giữ vững chủ quyền đó của dân tộc Đại Việt. Được kết tinh từ lòng yêu nước và căm thù giặc đã chất chứa hàng ngàn năm, bài thơ có âm vang đặc biệt, dội vào tâm hồn nhiều thế hệ, khí thế đè bẹp kẻ thù. “Nam quốc sơn hà” hiện còn khoảng 30 văn bản, chỉ có vài văn bản hoàn toàn giống nhau, còn lại đều khác về từ hoặc câu cú.

Có thể coi là một bài thơ chính luận, thơ hịch với ngôn từ đĩnh đạc, nghiêm trang, kết cấu chặt chẽ, hợp lí. Bài thơ là một bản Tuyên ngôn với lập luận giản dị mà hàm súc, đanh thép, rõ ràng.

Hướng Dẫn Soạn Bài: Sông Núi Nước Nam

I. VỀ THỂ LOẠI

Bài thơ được viết theo thể thất ngôn (bảy chữ) tứ tuyệt (bốn câu), một trong hai thể thơ rất phổ biến đời Đường (thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú), được du nhập sang nước ta và cũng trở thành một thể thơ phổ biến của văn học trung đại. Quy định về thanh điệu, vần luật trong thơ thất ngôn tứ tuyệt rất chặt chẽ, tuy nhiên chỉ cần lưu ý sự hiệp vần ở chữ thứ bảy trong các câu 1, 2 và 4 (cũng có khi chỉ cần hiệp vần ở chữ thứ bảy trong câu 2 và 4). Trong bài thơ này, vần “ư” được hiệp ở cả ba câu 1, 2 và 4).

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Nhận dạng thể thơ của bài Namquốc sơn hà về số câu, số chữ trong câu, cách hiệp vần.

Gợi ý: Kiểm tra xem bài thơ (phần phiên âm) gồm mấy câu, mỗi câu gồm bao nhiêu chữ? Vần trong các từ cuối của các câu 1, 2, 4 có gì giống nhau?

2. Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên bố về chủ quyền của đất nước và khẳng định không một thế lực nào được phép xâm phạm vào quyền độc lập ấy. Tuyên ngôn Độc lập trong bài thơ Sông núi nước Namthể hiện ở các khía cạnh:

– Tác giả khẳng định nước Nam là của người Nam. Đó là điều đã được ghi tại “thiên thư” (sách trời). Tác giả viện đến thiên thư vì ngày xưa người ta vẫn còn coi trời là đấng tối cao. Người Trung Quốc cổ đại tự coi mình là trung tâm củavũ trụ nên vua của họ được gọi là “đế”, các nước chư hầu nhỏ hơn bị họ coi là “vương” (vua của những vùng đất nhỏ). Trong bài thơ này, tác giả đã cố ý dùng từ “Nam đế” (vua nước Nam) để hàm ý sánh ngang với “đế” của nước Trung Hoa rộng lớn.

– Ý nghĩa tuyên ngôn còn thể hiện ở lờ khẳng định chắc chắn rằng nếu kẻ thù vi phạm vào quyền tự chủ ấy của nước ta thì chúng thế nào cũng sẽ phải chuốc lấy bại vong.

3. Bài thơ triển khai nội dung biểu ý theo bố cục: ở hai câu thơ đầu, tác giả đã khẳng định một cách tuyệt đối chủ quyền lãnh thổ với một thái độ của một dân tộc luôn trân trọng chính nghĩa. Từ khẳng định chân lí, đến câu thơ cuối, tác giả đã dựa ngay trên cái chân lí ấy mà đưa ra một lời tuyên bố chắc chắn về quyết tâm chống lại những kẻ làm trái những điều chính nghĩa.

Bố cục của bài thơ như thế là chặt chẽ, khiến cho những luận cứ đưa ra đều rất thuyết phục.

4. Bài thơ tuy chủ yếu thiên về biểu ý song không phải vì thế mà trở thành một bài luận lí khô khan. Có thể nhận thấy rằng, sau cái tư tưởng độc lập chủ quyền đầy kiên quyết ấy là một cảm xúc mãnh liệt ẩn kín bên trong. Nếu không có tình cảm mãnh liệt thì chắc chắn không thể viết được những câu thơ đầy chí khí như vậy.

5. Qua các cụm từ tiệt nhiên (rõ ràng, dứt khoát như thế, không thể khác), định phận tại thiên thư (định phận tại sách trời) và hành khan thủ bại hư (chắc chắn sẽ nhận lấy thất bại), chúng ta có thể nhận thấy cảm hứng triết luận của bàI thơ đã được thể hiện bằng một giọng điệu hào sảng, đanh thép, đầy uy lực.

Nguồn: chúng tôi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giới Thiệu Ngắn Gọn Về Tác Giả Và Bài Thơ Sông Núi Nước Nam trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!