Đề Xuất 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 11: Bài Thơ Số 28 (Trong Tập Thơ Người Làm Vườn) R.ta # Top 11 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 11: Bài Thơ Số 28 (Trong Tập Thơ Người Làm Vườn) R.ta # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giáo Án Ngữ Văn 11: Bài Thơ Số 28 (Trong Tập Thơ Người Làm Vườn) R.ta mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(Trong tập thơ Người Làm Vườn)

I/ ĐỌC HIỂU TIỂU DẪN:

Tên đầy đủ:RabinđranátTago (1861-1941), là nhà văn nhà văn hóa lớn của An Độ, giải phóng khỏi ách thực dân, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân lọai, vì độc lập , hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc.

BÀI THƠ SỐ 28 (Trong tập thơ Người Làm Vườn) R.Ta-Go I/ ĐỌC HIỂU TIỂU DẪN: 1/ Tác giả Tên đầy đủ:RabinđranátTago (1861-1941), là nhà văn nhà văn hóa lớn của Aán Độ, giải phóng khỏi ách thực dân, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân lọai, vì độc lập , hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc. Oâng để lại cho đời một khối lượng tác phẩm khổng lồ: 52 tập thơ , 12 bộ tiểu thuyết , gần 100 truyện ngắn, 41 vở kịch , 63 tập tiểu luận triết học, 2000 bài ca, hàng nghìn bức họa,Trong đó tập thơ Dâng đã đem đến cho ông vinh d75 của người châu áđầu tiên được nhận giải nobelvề văn học năm 1913.Người làm vườn là một trong những tập thơ nổi tiếng của xuất bản năm 1914.Tên tác phẩm gợi hình tượng nhà thơ nguyện làm người chăm sóc vườn hoa cho đời, vun xới những bông hoa tình yêu của người với người và thiên nhiên.rất tiêu biểu cho giọng thơ giàu chất trữ tình và triết lí của .vừa thể hiện tinh thần và bao quát được tinh thần nhân loại. II/ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 1/Xuất xứ Được rút ra từ tập thơ của gồm 85 bài , ông dịch sang tiếng Anh , Bằng thể thơ văn xuôi , xuất bản năm 1914. 2/Nội dung Với trước hết muốn khẳng định một điều thuộc về bản chất của tình yêu, là sự đổng điệu , hòa hợp,dâng hiế tâm hồn,tin yêu và hiểu biết, chia sẻ lẫn nhau.nhưng tình yêu lài là vô biên , không dễ gì khám phá, trái tim con người, thế giới tâm hồn người vẫn là cõi bí mật lớn lao. Em là nữ hòang của vương quốc đó Aáy thế mà em có biết gì biên giới của nó đâu. Và ngay cả khi: Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu. Chính vì vậy mà phải tìm tòi, khám phá,và niềm khao khát đó thật lớn lao sâu thẳm: Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh Như trăng kia muốn vào sâu biển cả? Khao khát mãnh liệt đến vậy , nhưng đâu đã tìm được đến chốn sâu thẳm của tình yêu. Bởi vì cuộc đời không chỉ là viên ngọc, đóa hoa (nhưng cái đẹp đẽ nhất quí giá nhất ) mà lại là ty ( điều bí ẩn kì diệu nhất ). Vì thế , việc tìm tới sự đồng điệu chan hòa vào thế giới tâm hồn của người yêu luôn là khát khao không bao giờ vươn tới nổi.Điều đó tạo nên v3 hấp dẫn muôn đời của t/y .

Đọc Thêm: Bài Thơ Số 28 (Trong Tập Người Làm Vườn)

1. Phân tích ý thơ theo tầng bậc nghĩa trong bài:

Ý nghĩa bài thơ được diễn giải theo cung bậc từ thấp lên cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ nghĩa thực đến nghĩa triết lí và cảm xúc trong bài thơ cũng được nâng dần theo các tầng bậc nghĩa của bài. Ta-go lại còn là một nhà triết học, vì vậy, thế giới hiện thực cũng như trữ tình được thể hiện trong thơ ca của ông mang đậm ý nghĩa triết lí sâu xa.

Đôi mắt “cửa sổ của tâm hồn” là hình ảnh mở đầu bài thơ được tác giả so sánh như ánh sáng diệu kì của trăng kia muốn vào sâu biển cả. Dường như chưa thật tin nên đôi mắt người yêu có vẻ băn khoăn u buồn muốn nhìn thẳng vào tận đáy tâm tưởng của anh. Hình ảnh trăng lặn xuống biển cả hòa nhập vào cõi mênh mông tỏa ra ánh sáng lung linh huyền ảo là biểu hiện của sự khát khao hòa hợp tâm hồn, là khát vọng muốn chan hòa và thấu hiểu người mình yêu.

Rất chân thành, chàng trai bày tỏ: “Anh đã để cuộc đời anh trần trụi dưới mắt em. Anh không giấu em một điều gỉ”.

Thế nhưng một nghịch lí đã xảy ra: “Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh”. Vì sao vậy? Bởi vì tất cả những điều người thiếu nữ có thể biết được về người con trai mới chỉ là cái bề ngoài, còn cái đáy sâu thăm thẳm của tâm hồn anh, trái tim anh dễ đâu nàng thấu hiểu.

Tiếp đó, tình cảm của chàng trai phát triển cao hơn. Anh sẵn sàng hiến dâng cả cuộc đời mình để đáp ứng khát vọng hòa hợp tâm hồn của người yêu. Đây là những lời ước nguyện thiêng liêng. Nhà thơ lặp lại những từ nếu (if), chỉ là (only), nhưng (but) để khẳng định ý nghĩa đó. Những hình ảnh, từ ngữ đẹp đẽ sang trọng: viên ngọc, đóa hoa được sử dụng để ví von so sánh tượng trưng cho sự đẹp đẽ và quý giá, nhưng nếu cần thiết để làm cho xinh đẹp hơn, quý giá hơn, thì anh cũng tự nguyện dập, hái nó ra dâng hiến cho nàng. Đây chính là tinh thần hi sinh, tấm lòng hiến dâng cao đẹp của chàng trai cho tình yêu.

Một phản đề được nêu lên: Cái quý giá nhất của cuộc đời chàng trai là một trái tim, một thế giới bí ẩn có một chiều sâu thăm thẳm, có một bến bờ vô biên như biển cả, là vương quốc mà dù nàng là nữ hoàng cũng không sao biết được biên giới của nó. Với trái tim chàng trai mọi khoảng cách trong tình yêu cũng trở thành nhỏ bé, niềm đồng cảm, hòa hợp dù đẹp đẽ đến đâu cũng không sao trọn vẹn.

Một giả thuyết tiếp đó lại được đưa ra: Nếu trái tim chàng trai có những phút giây lạc thú thì người yêu sẽ thấu hiểu không khó, sẽ dễ dàng chia vui với chàng bằng nụ cười nhẹ nhõm. Nhưng trái tim của chàng khổ đau thì người yêu cũng thông cảm rất nhanh bằng hàng lệ trong.

Nhưng chàng trai biết “tráitim anh lại là tình yêu. Nỗi vui sướng khổ đau của nó là vô biên. Những đòi hỏi và sự giàu sang của nó là trường cửu”. Trái tim tình yêu như thế đúng là không đơn điệu, chứa đựng biết bao là mầm mống đối lập mâu thuẫn, vừa sung sướng, vừa khổ đau, vừa thiếu thốn, vừa giàu sang.

Sự đối lập đó trong tình yêu tồn tại mãi mãi. Tình yêu đòi hỏi phải thống nhất hài hòa hai mặt đối lập đó. Điều này là quy luật:

Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu.

Như vậy, bài thơ được kết cấu theo tầng bậc gồm hai ý:

– Ý một, chàng trai xin dâng hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho người yêu.

– Ý hai, nhưng không bao giờ em có thể chiếm lĩnh trọn vẹn được trái tim anh.

Hai ý này ngày càng bổ sung cho nhau ở những mức độ cao hơn trong những lập luận của toàn bài thơ.

2. Qua bài thơ, Ta-go muốn nói tình yêu là vô biên, khát vọng tình yêu là vô bờ bến. Muốn có hạnh phúc trong tình yêu luôn luôn phải khám phá, sáng tạo, hai tâm hồn phải hòa hợp tin yêu và thông cảm với nhau. Khát vọng đó bất tuyệt.

3. Ta-go dùng những hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng, so sánh như trăng, biển cả, ngọc, hoa, nữ hoàng, vương quốc.

Nhà thơ thường dùng những từ về thiên nhiên để so sánh với con người, với tình yêu: mắt = trăng; tâm tưởng = biển cả để tạo sức hấp dẫn cho bài thơ.

Nhà thơ hay lặp lại từ nếu (if) và nhưng (but) để nhấn mạnh điều mà ông khẳng định thông qua giả thuyết. Đây chính là một kiểu tư duy Ấn Độ tìm hiểu sự việc thông qua những phản đề.

4. Giọng điệu triết lí của bài thơ thể hiện ở những câu có các từ lặp đi lặp lại như nếu (if), chỉ còn (only), nhưng (but), đặt giả định rồi khẳng định, nhiều câu mới đọc qua tưởng là nghịch lí nhưng ngẫm kĩ lại là thuận lí, như các câu 3, 4, 5 hoặc hai câu 22, 23 cuối bài.

Mai Thu

Giáo Án Bài Thơ Số 28

Bài thơ số 28

(Trong tập Người làm vườn – R. Ta-go)

Giáo viên hướng dẫn: Lương Ngọc Thanh

Giáo sinh : Nông Thị Thuỳ Dương

Ngày soạn : 06/03/2010.

Ngày giảng : 12/03/2010

I/ MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

– Hướng dẫn HS tìm hiểu những nét chính về cuộc đời, văn nghiệp R. Ta-go.

– Cảm nhận được thông điệp tình yêu qua Bài thơ số 28 và đôi nét về vẻ đẹp thơ Ta-go, một phong cách thơ kết hợp chất trữ tình tha thiết, nồng nàn với triết lí trầm tư, sâu sắc.

– Có kĩ năng phát hiện, phân tích những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

– Rèn luyện kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn học.

Qua bài thơ, học sinh có thể hiểu và trân trọng tình yêu chân chính trong cuộc sống.

Bài thơ số 28 (Trong tập Người làm vườn – R. Ta-go) Giáo viên hướng dẫn: Lương Ngọc Thanh Giáo sinh : Nông Thị Thuỳ Dương Ngày soạn : 06/03/2010. Ngày giảng : 12/03/2010 I/ MỤC TIÊU CẦN ĐẠT 1. Kiến thức – Hướng dẫn HS tìm hiểu những nét chính về cuộc đời, văn nghiệp R. Ta-go. – Cảm nhận được thông điệp tình yêu qua Bài thơ số 28 và đôi nét về vẻ đẹp thơ Ta-go, một phong cách thơ kết hợp chất trữ tình tha thiết, nồng nàn với triết lí trầm tư, sâu sắc. 2. Kĩ năng – Có kĩ năng phát hiện, phân tích những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ. – Rèn luyện kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn học. 3. Giáo dục Qua bài thơ, học sinh có thể hiểu và trân trọng tình yêu chân chính trong cuộc sống. II/ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN – Sách giáo khoa, sách giáo viên và sách thiết kế Ngữ Văn 11, tập 2, NXB Giáo dục, 2009. – Các tài liệu tham khảo. – Giáo án bài học. III/ CÁCH THỨC TIẾN HÀNH GV tổ chức giờ dạy theo sự phôi hợp các phương pháp: phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, phương pháp làm việc nhóm,… IV/ TIẾN TRÌNH BÀI GIẢNG 1. Ổn định tổ chức lớp 2. Kiểm tra bài cũ Đọc thuộc lòng bài thơ “Tôi yêu em” của A. X. Puskin? Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp nhân cách của nhân vật trữ tình bộc lộ qua bốn dòng thơ đầu? Gợi ý trả lời: Bốn dòng thơ đầu cho thấy vẻ đẹp nhân cách của nhân vật trữ tình đang dần được hé lộ: chàng trai có tình yêu trung thực, chân thành, biết vượt qua thói vị kỉ để dành sự thanh thản cho người mình yêu. Lớp Học sinh Điểm 2. Dẫn vào bài mới (1 phút) Chúng ta vừa tìm hiểu xong bài thơ Tôi yêu em, một trong những kiệt tác trữ tình của Pu-skin. Bây giờ cô và các em tiếp tục khám phá một trong những bài thơ tình hay nhất của Ta-go, đó là Bài thơ số 28. Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu khái quát về tác giả và tác phẩm. – Gọi HS đọc phần Tiểu dẫn trong SGK – 61 – Hướng dẫn HS tìm hiểu vài nét chính về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Ta-go, tập thơ Người làm vườn và Bài thơ số 28. I. Hướng tìm hiểu chung 1. Tác giả – Ra-bin-đra-nát Ta-go (1861-1941) là nhà văn, nhà văn hoá lớn của Ấn Độ. – Ông sinh trưởng trong một gia đình quý tộc Bàlamôn, tại thành phố Can-cut-ta, bang Ben-gan. – Ông để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau mà ở lĩnh vực nào ông cũng thành công suất sắc: + 52 tập thơ. + 12 bộ tiểu thuyết. + 42 vở kịch. + Hàng trăm truyện ngắn, hàng nghìn cac khúc, hàng nghìn bức hoạ… – Năm 1913, Ta-go là người châu Á đầu tiên được nhận Giải thưởng Nô-ben về văn học với tập “Thơ Dâng” (gồm 103 bài, sáng tác từ 1890-1912 và ông tự dịch ra tiếng Anh). 2. Tập thơ Người làm vườn – là một trong những tập thơ nổi tiếng của Ta-go, tác phẩm dược dịch ra nhiều thứ tiếng và chinh phục độc giả nhiều nước. – gồm 85 bài thơ, sáng tác bằng tiếng Ben-gan, sau tác giả tự dịch sang tiếng Anh và xuất bản năm 1914. – tiêu biểu cho giọng thơ giàu chất trữ tình và chất triết lí, vừa thể hiện tâm hồn Ấn Độ vừa bao quát tinh thần nhân loại. 3. Bài thơ số 28 – Bài thơ số 28 trích trong tập Người làm vườn (các bài trong tập thơ này không có nhan đề mà chỉ đánh số thứ tự). – Bài thơ này ông làm khi người vợ yêu dấu Mri-na-li-ni-đê-vi qua đời (1902). Hoạt động 2: Hướng dẫn đọc – hiểu bài thơ. – Gọi HS đọc bài thơ. Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nội dung chính của từng đoạn? – Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh đôi mắt. Hình tượng ấy thể hiện khao khát gì trong tình yêu? GV: Nguyệt – Thuỷ là cặp hình ảnh giàu ý nghĩa trong triết học và trong văn chương Ấn Độ. Khi vầng trăng lên cao cách xa mặt biển, trăng nhìn và biết biển như chủ thể – khách thể trong quan hệ lạnh lùng. Khi bóng trăng long lanh đáy nước, trăng và biển đồng nhất, trăng sẽ hiểu biển như chính bản thân mình, đó là biểu hiện viên mãn. – Đón nhận ánh mắt đó, nhân vật trữ tình đã bày tỏ điều gì? GV: Tình yêu đòi hỏi sự hoà điệu của hai tâm hồn, nếu không: Dù tin tưởng chung một đời một mộng Anh là anh, em vẫn cứ là em. (Xa cách – Xuân Diệu) – Mặc dù cả hai cùng chân thành và khao khát hoà nhập nhưng họ có làm được điều đó không? GV: Khao khát hiểu biết viên mãn nhưng không thành là giọng nghịch lí kéo dài cho đến hết bài thơ và giải thích ý nghĩa của nghịch lí ấy là tìm hiểu bản chất cuộc sống, con người và tình yêu. – Cấu trúc của đoạn thơ này có gì đặc biệt? – Tác dụng của việc sử dụng cấu trúc ấy? – Từ đó đưa ra quan niệm về tình yêu của tác giả? – Cấu trúc của đoạn 3 giống đoạn 2 ở điểm nào? Ý nghĩa của việc sử dụng cấu trúc đó? II/ Gợi ý đọc hiểu bài thơ 1. Bố cục 3 đoạn: – Đoạn 1 gồm 6 câu đầu (Tự đầu đến “không biết gì tất cả về anh”): tình yêu là sự hoà điệu giữa hai tâm hồn con người. – Đoạn 2 gồm 6 câu tiếp (Câu tiếp đến “em có biết gì về biên giứo của nó đâu”): tình yêu là sự hiến dâng và đón nhận. – Đoạn 3 gồm những câu thơ còn lại: tình yêu là sự đa dạng, phong phú, là cuộc sống. 2. Đọc – hiểu bài thơ * Đoạn 1 (6 câu thơ đầu) Hình ảnh đôi mắt: – Đôi mắt băn khoăn dò hỏi – Đôi mắt được so sánh với hình ảnh vầng trăng muốn dò chiều sâu biển cả – Nhân vât trữ tình bày tỏ sự chân thành hết mực, nỗ lực làm tất cả để em hiểu anh, dốc trọn tâm hồn để lấp khoảng cách, để hai tâm hồn được hoà điệu: Anh đã để cuộc đời anh trần trụi dưới mắt em Anh không giấu em một điều gì. – Mặc dù cả hai cùng nỗ lực vươn tới nhau nhưng hiểu biết viên mãn về nhau vẫn có thể bất khả (Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh). * Đoạn 2 (6 câu tiếp) Cấu trúc so sánh, ẩn dụ trùng điệp độc đáo trong bài thơ: đưa ra những giả đinh (Nếu A chỉ là B), rồi phủ định (nhưng A lại là B) – Đời anh như đóa hoa, viên ngọc = trái tim vừa cụ thể vừa bé nhỏ. – Đời anh là đóa hoa, viên ngọc có thể quàng vào cổ em, gài lên tóc em = em có thể nhận, hiểu khá dễ dàng. – Đời anh là trái tim bí ẩn = thật khó hiểu anh trọn vẹn dù em nhìn thật gần, dù em bên cạnh anh, dù em tìm mọi cách. * Đoạn 3 (những câu thơ còn lại) – Cấu trúc sóng đôi: Anh là A. – Trái tim chứa những cung bậc cảm xúc tưởng chừng như đối lập: niềm vui – khổ đau. Thực chất nó ẩn chứa một triết lí: tình yêu chẳng dễ bày tỏ, không dễ bộc lộ trọn vẹn và không dễ hiểu trọn vẹn; cuộc sống cần là yêu thương. Hoạt động 3: Khái quát về phương diện nội dung và nghệ thuật. – Rút ra những nhận xét về nội dung và nghệ thuật của bài thơ? III/ Tổng kết 1. Nghệ thuật – Bài thơ sử dụng hình tượng so sánh độc đáo, diễn tả được những khao khát đẹp trong tình yêu. – Tác giả dùng cấu trúc so sánh – ẩn dụ trùng điệp, cấu trúc sóng đôi môtj cách sáng tạo, đưa ra được những triết lí về tình yêu. 2. Nội dung Bài thơ thể hiện quan niệm về một tình yêu chân chính. Tình yêu cần sự thấu hiểu, cần đến từ hai phía. Tình yêu ẩn chứa nhiều bí ẩn, là một thế giới thiêng liêng, vô hạn. Tình yêu là cuộc sống, hưóng con người đến cái thiện, cái đẹp trong tâm. V/ CỦNG CỐ VÀ DẶN DÒ (2 phút) -Yêu cầu HS nêu cảm nhận chung về bài thơ – Học thuộc lòng bài thơ và khám phá tiếp nhãng giá trị ẩn dấu trong bài thơ. – Soạn bài “Người trong bao”.

Giáo Án Môn Ngữ Văn 11

Lớp giảng: 11A 11C 11K 11E

Điểm kt miệng:

A. Mục tiêu bài học

Qua bài giảng nhằm giúp HS

1. Bài Tôi Yêu Em – Puskin

– Hiểu được vẻ đẹp giản dị, trong sáng, tinh tế cả về hình thức ngôn từ và nội dung tâm tình.

– Cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn trong tình yêu chân thành, đăm say thuỷ chung và cao thượng, vị tha của chủ thể trữ tình.

2. Bài thơ số 28 – Targo

– Cảm nhận được thông điệp tình yêu qua bài thơ số 28 và đôi nét về vẻ đẹp thơ Targo, một phong cách thơ kết hợp chất trữ tình tha thiết, nồng cháy với triết lí trầm tư sâu sắc

– Góp phần hiểu biết và trân trọng tình yêu trong cuộc sống

Tiết theo PPCT 94 - 95 TÔI YÊU EM - PUSKIN ĐỌC THÊM: BÀI THƠ SỐ 28 - TARGO Ngày soạn: 22.02.10 Ngày giảng: Lớp giảng: 11A 11C 11K 11E Sĩ số: Điểm kt miệng: A. Mục tiêu bài học Qua bài giảng nhằm giúp HS 1. Bài Tôi Yêu Em - Puskin - Hiểu được vẻ đẹp giản dị, trong sáng, tinh tế cả về hình thức ngôn từ và nội dung tâm tình. - Cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn trong tình yêu chân thành, đăm say thuỷ chung và cao thượng, vị tha của chủ thể trữ tình. 2. Bài thơ số 28 - Targo - Cảm nhận được thông điệp tình yêu qua bài thơ số 28 và đôi nét về vẻ đẹp thơ Targo, một phong cách thơ kết hợp chất trữ tình tha thiết, nồng cháy với triết lí trầm tư sâu sắc - Góp phần hiểu biết và trân trọng tình yêu trong cuộc sống B. Phương tiện thực hiện - SGK, SGV Ngữ văn 11 - Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11 - Kĩ năng đọc hiểu văn bản Ngữ văn 11 C. Cách thức tiến hành - Đọc hiểu, đàm thoại phát vấn - Thuyết trình D. Tiến trình giờ giảng 1. Ổn định 2. KTBC (Không kt) 3. GTBM 4. Hoạt động dạy học Hoạt động của Thầy và Trò Yêu cầu cần đạt GV: Dựa vào tiểu dẫn, trình bày những nét khái quát về Puskin? HS trả lời GV ghi bảng GV: Cảm hứng sáng tác bài thơ? HS trả lời Gv chốt lại GV: tác phẩm có thể chia làm mấy phần, nội dung của mỗi phần? HS đưa ra các cách chia Gv thống nhất GV: em có nhận xét gì về cách mở đầu của bài thơ? HS nhận xét Gv chốt lại GV: so sánh cách dịch: - Anh yêu em: chưa được phép, chưa dám - Tôi yêu cô: xa cách, không trực tiếp Và dịch Tôi yêu em là dụng ý của người dịch: hiểu tâm thế và cách xưng hô của nhân vật trữ tình trong lời từ biệt đơn phương GV: ở 2 câu đầu, cần chú ý tời từ ngữ nào? Tác dụng của từ ngữ ấy? Nội dung bao trùm của 2 câu thơ? HS phát biểu Gv chốt lại GV: nhận xét mạch thơ ở câu 3, 4? HS trả lời Gv chốt lại GV: 4 câu đầu cảm xúc bị dồn nén, bị lí trí chi , 4 câu sau mạch cảm xúc lại tuân trào, không tuân theo mệnh lệnh của lí trí. Khẳng định 1 tình yêu mãnh liệt GV: Phát hiện những biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó? HS phát hiện và nhận xét Gv chốt lại GV: Xác định tâm trạng của nhân vật trữ tình lúc này? HS xác định Gv chốt lại GV: ở 2 câu kết tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? Tác dụng? HS xác định Gv ghi bảng GV yêu cầu HS đọc ghi nhớ SGK GV: cuộc đời và con người Targo có điểm gì đáng chú ý? HS trả lời GV chốt lại GV: Sự nghiệp sáng tác của Targo có điểm gì đáng chú ý? HS trả lời Gv ghi bảng GV: hãy cho biết vài nét về tập thơ Người làm vườn? HS trả lời Gv chốt lại GV hướng dẫn HS tìm hiểu bài thơ trên cơ sở câu hỏi SGK A. Bài thơ Tôi Yêu Em của Puskin I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả - (1799 - 1837), là người mở đầu, đặt nền móng cho văn học hiện thực Nga thế kỉ XIX - Là người đóng góp nhiều mặt, nhiều thể loại vào văn học Nga, nhưng cống hiến vĩ đại nhất vẫn là thơ trữ tình - Thể loại sáng tác: thơ trữ tình, kịch, trường ca, truyện ngắn, ngụ ngôn - Giá trị tác phẩm: + Nội dung: thể hiện tuyệt đẹp tâm hồn nhân dân Nga khao khát tự do và tình yêu 2. Tác phẩm a. Đọc b. Cảm hứng sáng tác - Được khơi nguồn từ mối tình của nhà thơ với Ôlênhia - người mà tác giả cầu hôn nhưng không được chấp nhận - Tác phẩm: không nhan đề, nhân đề Tôi yêu em do người dịch đặt c. Bố cục - Phần 1: 4 câu đầu - lời giã từ và giãi bày về 1 mối tình đơn phương, không thành - Phần 2: 4 câu sau - lời giãi bày và nguyện cầu cho em II. Đọc hiểu văn bản 1. Lời giã từ và giãi bày về 1 mối tình đơn phương. - Câu 1: Tôi yêu em - ngắn gọn, trực tiếp, giản dị, bày tỏ tình cảm, tâm trạng của nhân vật trữ tình - Từ ngữ: có thể, chưa hẳn: khẳng định, cân nhắc, có chút dè dặt - Lời thơ: chậm, tình thơ thâm trầm, kín đáo - Câu 3, 4: + Từ ngữ: nhưng - tạo mâu thuẫn trong tâm trạng, cảm xúc 2. Lời giãi bày và lời cầu nguyện cho người mình yêu - Hai câu 5 - 6 - Hai câu kết: III. Tổng kết B. Bài thơ tình số 28 của Targo I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả a. Cuộc đời, con người - (1861 - 1941) là nhà văn, nhà văn hoá lớn của Ấn Độ - Cả đời phấn đấu không mệt mỏi, có những cống hiến quan trọng cho sự nghiệp phục hưng của văn hoá Ấn Độ, giải phóng Ấn Độ ra khỏi ách áp bức; góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân loại b. Sự nghiệp sáng tác - Thơ: 52 tập, truyện ngắn: hàng trăm, tiểu luận: 63 tập - Tiểu thuyết: 12 bộ, kịch: 42 vở, khoảng 200 bài ca và hàng nghìn bức hoạ c. Vài nét về tập "Người làm vườn" - Là tập thơ nổi tiếng của Targo với 85 bài thơ - Tên tập thơ: gợi hình tượng nhà thơ nguyện chăm sóc vườn hoa cuộc đời - Giọng thơ: trữ tình + triết lí - Nội dung: tâm hồn Ấn Độ + bao quát tinh thần nhân loại - Các bài thơ trong tập thơ: không có nhan đề, đánh số thứ tự 2. Tác phẩm a. Đọc b. Xuất xứ - Trích trong tập Người làm vườn II. Đọc hiểu 1. Câu 1: 2. Câu 2 - Lối cấu trúc đưa ra những giả định (nếu A chỉ là B) rồi phủ định (nhưng A chỉ là C) để đi đến kết luận được sử dụng nhằm mục đích: + Đời anh bằng trái tim vừa cụ thể, bé nhỏ cũng như đoá hoa viên ngọc nhưng trái tim lại tàng chứa tình yêu: trừu tượng, vô hình, lớn lao, vô hạn bằng nghịch lí + Đời anh là đoá hoa, viên ngọc bằng cụ thể quàng vào cổ em, gài lên tóc em bằng em có thể nhận, hiểu khá dễ dàng + Đời anh là trái tim bằng bí ẩn bằng thật khó hiểu anh trọn vẹn, dù em nhìn thật gần, dù em bên cạnh anh, dù em tìm mọi cách Nhấn mạnh tình cảm thiêng liêng, cao cả của tình yêu đối lập với các quan niệm yêu dương tầm thường 3. Câu 3 - Cách nói nghịch lí: anh không giấu em một điều gì chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh 5. Củng cố và dặn dò - Nhắc lại kiến thức cơ bản - Về nhà học thuộc 2 bài thơ và giá trị nội dung + nghệ thuật - Soạn bài Người trong bao - Sêkhốp

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giáo Án Ngữ Văn 11: Bài Thơ Số 28 (Trong Tập Thơ Người Làm Vườn) R.ta trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!