Đề Xuất 2/2023 # Đề Xuất 10/2021 # Hướng Dẫn Vẽ Tranh Minh Họa Truyện Cổ Tích Đơn Giản # Top Like # Top 2 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Đề Xuất 10/2021 # Hướng Dẫn Vẽ Tranh Minh Họa Truyện Cổ Tích Đơn Giản # Top Like # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đề Xuất 10/2021 # Hướng Dẫn Vẽ Tranh Minh Họa Truyện Cổ Tích Đơn Giản # Top Like mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Xem 99

Cập nhật nội dung chi tiết về Hướng Dẫn Vẽ Tranh Minh Họa Truyện Cổ Tích Đơn Giản mới nhất ngày 02/10/2021 trên website chúng tôi Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 99 lượt xem.

1. Ý nghĩa của truyện cổ tích

Truyện cổ tích là một thể loại văn học dân gian có tính chất hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật. Đây là loại truyện ngắn, nội dung chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu như tiên, yêu tinh, ma quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá hay thần giữ của và thường họ sẽ có phép thuật, bùa mê.

Có thể nói, trong ký ức tuổi thơ của mỗi người đều có những câu chuyện thần kỳ trong thế giới cổ tích. Những câu chuyện diệu kỳ được bà hay mẹ kể giúp trẻ em lớn lên với bao nhiêu cảm nhận về cái đẹp, cái thiện trong cuộc sống. Bởi lẽ, mỗi tích truyện xa xưa luôn chứa những bài học về lòng hiếu thảo, đức hi sinh, sự vị tha, hay cách đối nhân xử thế sâu sắc đến ngày nay vẫn còn ý nghĩa.

Những câu truyện cổ tích hấp dẫn dạy cho chúng ta biết cách suy nghĩ tích cực về cuộc sống, những cái đẹp hoàn mỹ. Đồng thời hướng người đọc sống hướng thiện, ở hiền chắc chắn sẽ gặp lành, ác giả ác báo và thể hiện khát vọng về một cuộc sống tươi đẹp của nhân dân ta. Bên cạnh đó, truyện cổ tích dành cho bé còn mang thông điệp tình thương giữa người với người. Sau khi nghe truyện, các bé sẽ thấy trân trọng tình cảm gia đình, tình yêu thương của cha mẹ và hiếu thảo đối với ông bà.

Không chỉ vậy, truyện cổ tích còn có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Những câu chuyện mang giá trị nhân đạo, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc giúp các em trưởng thành, phát triển tư duy một cách lành mạnh. Ngoài ra, những lời văn đẹp đẽ trong các câu chuyện cổ tích còn bồi dưỡng cho trẻ năng lực thẩm mỹ, khả năng cảm thụ văn học, từ đó giúp trẻ sử dụng ngôn ngữ một cách phong phú và hiệu quả.

Sọ Dừa là một câu chuyện dân gian quen thuộc với nhiều thế hệ người dân Việt Nam. Câu chuyện là bài học khuyên răn con người về cách sống và cách cư xử trong xã hội. Truyện Sọ Dừa có mô típ thường thấy trong các tác phẩm truyện cổ tích khác đó là nhân vật chính có hoàn cảnh đặc biệt, sau đó vươn lên theo triết lý nhân quả “ở hiền gặp lành”, trong khi các nhân vật ác thì “gieo gió gặt bão”.

Sọ Dừa là một người mang lốt vật, có hình hại dị dạng và bị mọi người xem thường, coi là “vô tích sự”. Tuy nhiên, Sọ Dừa là người có phẩm chất đạo đức tốt và tài năng đặc biệt. Cuối cùng, nhân vật trút bỏ lốt vật, kết hôn cùng người đẹp và sống cuộc đời hạnh phúc. Do đó, truyện Sọ Dừa đề cao giá trị chân chính của con người và tình thương đối với người bất hạnh.

Sự tích chú Cuội cung trăng là một truyền thuyết do người xưa nghĩ ra để giải thích hiện tượng trăng tròn vào những ngày rằm, hoặc khi mặt trăng có hình dạng lưỡi liềm. Khi quan sát mặt trăng sẽ thấy có hình ảnh giống như một cây đa và một chú Cuội ngồi trên đó.

Bên cạnh đó, thông qua hình tượng cung trăng và cây đa, sự tích chú Cuội gợi lên trong mỗi chúng ta nỗi nhớ quê hương da diết mỗi lần đi xa hoặc khi phải sống lập nghiệp xa quê hương.

Tấm Cám là một câu chuyện cổ tích được truyền miệng trong dân gian đã rất quen thuộc với mỗi người Việt Nam. Truyện cổ tích Tấm Cám được lồng ghép vào chương trình giáo dục bậc mầm non và tiểu học để truyền tải bài học quý báu về cách đối nhân xử thế và ứng xử với mọi người xung quanh.

Thánh Gióng là một câu chuyện quen thuộc trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Những truyền thuyết về Thánh Gióng được lưu truyền trong dân gian nhằm ca ngợi về một vị thánh bất tử được nhân dân tôn kính, thờ phụng.

Thánh Gióng là người anh hùng đánh giặc ngoại xâm, một hình tượng tiêu biểu trong thời kỳ vua Hùng xây dựng và bảo vệ đất nước. Bên cạnh đó, Thánh Gióng còn là hiện thân của sức mạnh thiên nhiên và con người, sức mạnh đó được kết tinh lại thành sức mạnh to lớn để quật ngã mọi kẻ thù to lớn.

Đề Xuất 10/2021 # Truyện Cổ Tích: Ba Lưỡi Rìu # Top Like

Xem 99

Cập nhật nội dung chi tiết về Truyện Cổ Tích: Ba Lưỡi Rìu mới nhất ngày 02/10/2021 trên website chúng tôi Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 99 lượt xem.

Ngày xửa ngày xưa, có một anh tiều phu nghèo khổ, cha mẹ anh bệnh nặng chẳng may mất sớm, chỉ để lại cho anh duy nhất một chiếc rìu sắt. Hằng ngày, anh tiều phu phải lên núi đốn củi rồi đem củi bán lấy tiền kiếm sống qua ngày.

Một hôm, như thường ngày anh tiều phu lại vác rìu lên núi để đốn củi. Trong lúc đang chặt củi ở cạnh bờ suối, thì chẳng may chiếc rìu của anh bị gãy cán, lưỡi rìu bị văng xuống dưới dòng suối. Dòng suối nước chảy cuồn cuộn, nếu ai lỡ trượt chân rơi xuống suối thì có thể bị nước cuốn trôi khó lòng bơi được vào bờ, do đó anh tiều phu chỉ biết ngồi nhìn lưỡi rìu chìm sâu xuống đáy nước rồi than khóc tỉ tê, đến cỏ cây cũng mũi lòng:

Bỗng có một ông lão râu tóc bạc phơ, đôi mắt hiền từ xuất hiện trước mặt anh chàng tiều phu, ông lão bước đến nhìn chàng tiều phu và hỏi:

– Tại sao con lại ngồi khóc ở đây?

Chàng tiều phu gạt nước mắt, nhìn ông lão đáp:

– Thưa ông, bố mẹ con chẳng may mất sớm, con phải sống mồ côi từ nhỏ. Gia cảnh nhà con rất nghèo, gia tài duy nhất của con là chiếc rìu sắt, đó cũng là kỉ vật mà bố mẹ con trước lúc qua đời để lại. Hàng ngày con nhờ có chiếc rìu lên núi đốn củi, kiếm sống qua ngày. Nhưng vừa nãy trong lúc đốn củi, chẳng may con làm lưỡi rìu rơi xuống suối mất rồi… từ nay con không biết lấy gì để kiếm sống qua ngày nữa. Con đau buồn quá thưa ông!

Ông lão nghe xong liền cười và nói:

– Ta tưởng chuyện gì lớn, con đừng khóc nữa, ta sẽ giúp con lấy lưỡi rìu lên.

Vừa dứt lời, ông lão liền lao mình xuống dòng suối. Được một lúc, ông lão ngoi lên khỏi mặt nước, tay cầm một lưỡi rìu bằng bạc chói loáng và hỏi anh tiều phu nghèo:

– Đây có phải là lưỡi rìu của con hay không?

Chàng tiều phu liền đáp:

– Dạ không thưa ông! Đây không phải lưỡi rìu của con.

Ông lão cười rồi lại lặn xuống dòng suối đang chảy xiết. Một lát sau, ông lão ngoi lên khỏi mặt nước, lần này trên tay ông cầm một chiếc rìu bằng vàng sáng chói lấp lánh. Ông lão hỏi chàng tiều phu:

– Lưỡi rìu vàng này có phải của con không?

Anh chàng tiều phu nhìn ông lão, anh lại lắc đầu thật thà trả lời:

– Dạ lưỡi rìu này cũng không phải là của con. Lưỡi rìu của con bằng sắt ông ạ.

Nghe vậy, ông lão lại tiếp tục lặn sâu xuống dòng suối đang cuồn cuộn. Lần này, khi ngoi lên khỏi mặt nước ông đưa lên một lưỡi rìu bằng sắt, ông lão lại hỏi:

– Vậy đây có phải lưỡi rìu mà con đánh rơi hay không?

Thấy đúng là lưỡi rìu của mình, anh chàng tiều phu liền reo lên mừng rỡ:

– Ôi, đây đúng là lưỡi rìu của con rồi. Lưỡi rìu này là cả sinh mạng của con, con vô cùng đội ơn ông đã tìm lại nó cho con, con thật không biết lấy gì để đền ơn ông.

Ông lão bỗng chốc hiện nguyên hình là một ông Bụt. Ông Bụt tươi cười, giọng rềnh vang nói:

– Con đúng là một người thật thà trung thực, không hề tham lam vàng bạc và lợi lộc trước mắt. Để khen thưởng cho con. Nay ta tặng thêm cho con hai lưỡi rìu bằng vàng và bạc này, con hãy nhận lấy.

Anh chàng tiều phu vui mừng cúi đầu cảm tạ, hai tay đỡ lấy hai lưỡi rìu.

Ông Bụt cười vui, vuốt bộ râu trắng muốt, rồi hoá phép biến mất.

Tổng hợp và biên soạn: Thiên Hương

Đề Xuất 10/2021 # Mở Bài Bài Thơ Bếp Lửa # Top Like

Xem 99

Cập nhật nội dung chi tiết về Mở Bài Bài Thơ Bếp Lửa mới nhất ngày 01/10/2021 trên website chúng tôi Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 99 lượt xem.

Các em cùng tìm hiểu cách viết Mở bài bài thơ Bếp lửa, một bài thơ thấm đẫm tình cảm gia đình của nhà thơ Bằng Việt để qua đó trau dồi, nâng cao hơn nữa kĩ năng viết mở bài cho bài văn của mình thêm hoàn thiện, ngắn gọn và mang tính thuyết phục hơn.

Một số cách mở bài bài thơ Bếp lửa hay, đặc sắc.

5 cách Mở bài bài thơ Bếp lửa

Trong cuộc đời này ai cũng trải qua những năm tháng tuổi thơ ngây ngô, hồn nhiên và trong sáng, tuổi thơ ấy gắn liền với bao kỉ niệm vui buồn, chính những kỉ niệm tuổi thơ là hành trang không thể thiếu khi ta trưởng thành bước trên đường đời. Bằng Việt khi viết bài thơ “Bếp lửa” cũng đang là một cậu sinh viên, ở độ tuổi mới trưởng thành người cháu nhớ về những kỉ niệm ấu thơ bên bà, mỗi ngày cùng bà nhóm bếp lửa. Những năm tháng tuổi thơ sống bên bà đã cho Bằng Việt cảm nhận được tình yêu thương vô bờ, sự hy sinh cao cả của bà, hơn thế là tình cảm bà cháu thiêng liêng, sâu đậm.

Bài thơ “Bếp lửa” – một trong những sáng tác đầu tay của nhà thơ Bằng Việt được ra đời khi tác giả đang là sinh viên tại nước ngoài, ở độ tuổi trưởng thành lại phải xa quê hương, Bằng Việt dường như không thể kìm nén được sự nhớ thương về người bà nơi quê nhà. Bài thơ được viết nên bằng những hồi tưởng về kỉ niệm thơ ấu của cháu bên bà, những dòng suy ngẫm về tình cảm của bà và tình bà cháu thiêng liêng, sâu nặng, hình ảnh bếp lửa trong bài thơ trở thành một điểm tựa khơi gợi những kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ của nhà thơ về tình bà cháu và gia đình, xa hơn đó là những suy nghĩ về tình yêu quê hương, đất nước của một người con xa quê.

Bài thơ ‘Bếp lửa” của nhà thơ Bằng Việt là một bài thơ hay viết về tình cảm bà cháu nhưng lại được chan hòa với tình yêu quê hương đất nước. Có thể nói trong bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt có bóng dáng của biết bao tâm hồn tuổi thơ như chúng ta, tuổi thơ của tác giả gắn với hình ảnh người bà kính yêu, tần tảo, hy sinh, gắn với hình ảnh bếp lửa nồng đượm. Bài thơ không chỉ cho chúng ta cảm nhận được những cảm xúc chân thành của tác giả đối với người bà và ca ngợi tình cảm bà cháu thiêng liêng mà còn nhắc nhở về vai trò của tình cảm gia đình trong cuộc sống.

Trong cuộc sống của chúng ta không thể thiếu đi tình cảm gia đình, đó có thể là tình bà cháu, cha con, anh em ruột thịt, có trưởng thành và bước ra ngoài cuộc sống hay rời xa quê hương ta mới càng thấu rõ sự thiêng liêng, trân quý của tình cảm gia đình. Bằng Việt viết bài thơ “Bếp lửa” trong hoàn cảnh xa nhà, xa quê hương đã cho người đọc được cảm nhận những dòng hồi tưởng xúc động, những suy ngẫm đầy triết lí về người bà và tình cảm của hai bà cháu. Đọc thơ của Bằng Việt ta như được sống lại với những năm tháng tuổi thơ với biết bao kỉ niệm đáng nhớ, có người bà tần tảo sớm hôm, có bếp lửa bập bùng sớm tối.

Đề Xuất 10/2021 # Một Số Câu Hỏi Xoay Quanh Bài Thơ: “Ánh Trăng” # Top Like

Xem 198

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Câu Hỏi Xoay Quanh Bài Thơ: “ánh Trăng” mới nhất ngày 01/10/2021 trên website chúng tôi Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 198 lượt xem.

– Chúng ta đã từng biết đến vầng trăng nhớ cố hương của tiên thi Lý Bạch, từng rung cảm trước vẻ đẹp của ánh trăng – người bạn tri âm với người tù cộng sản Hồ Chí Minh (Vọng nguyệt – NKTT). Và với bài thơ Ánh trăng, Nguyễn Duy đã làm phong phú và giàu có thêm vẻ đẹp cũng như ý nghĩa của vầng trăng đã quen thuộc từ ngàn đời.

– Trước hết, ánh trăng của Nguyễn Duy là hình ảnh đẹp của thiên nhiên với tất cả những gì là thi vị, gần gũi, hồn nhiên, tươi mát. Ánh trăng gần với tuổi ấu thơ của tác giả (d/c). Vầng trăng ấy hồn nhiên như cuộc sống, như đất trời (d/c).

– Nhưng nếu chỉ có vậy, ánh trăng của Nguyễn Duy sẽ lẫn với vô vàn ánh trăng khác trong thơ ca hiện đại. Cũng giống như trăng của người bạn tù, vầng trăng của Nguyễn Duy đã thành “tri kỷ”, người bạn tình nghĩa. Ánh trăng thời chiến như chia sẻ những thử thách của chiến tranh, như cùng nhà thơ và đồng đội trải qua những kỷ niệm của thời “ở rừng”. Vầng trăng tri kỷ, vầng trăng tình nghĩa ấy: dấu ấn của một thời gian khó: “ngỡ không bao giờ quên”.

– Nhưng nhan đề “ánh trăng” còn thực sự sâu sắc, ý nghĩa bởi vầng trăng ấy còn là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình – ký ức gắn với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cam go mà hào hùng.

– Cuộc sống hoà bình “ánh điện của gương, buyn đinh” đã khiến cho nhà thơ nhìn ánh trăng như một “người dưng qua đường”. Con người từng một thời chiến đấu, từng ngang dọc trên nhiều chiến trường đã có lúc như lãng quên quá khứ. Nhưng rồi thình lình đèn điện tắt… “đột ngột vầng trăng tròn”. Vầng trăng ấy đã đánh thức ký ức của tác giả, của thế hệ trẻ Việt Nam trong những ngày đánh Mỹ, tháng Mỹ.

– Ánh trăng lặng lẽ toả sáng trong bài thơ hay lặng lẽ như lời nhắc nhở giản dị mà sâu lắng, không được phép lãng quên quá khứ, có những thử thách, những hy sinh, những tôn thất thời đánh Mỹ ác liệt mới có cuộc sống hoà bình ngày hôm nay.

Câu 2: Hình ảnh vầng trăng và cảm xúc của nhà thơ Nguyễn Duy qua bài thơ “Ánh trăng”.

– Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ là một hình tượng đa nghĩa.

+ Trước hết, vầng trăng là một hình ảnh của thiên nhiên khoáng đạt, hồn nhiên, tươi mát. Trong hai khổ thơ đầu, vầng trăng hiện ra trong không gian của ruộng đồng, sông biển, núi rừng. Đó là vầng trăng của “hồi nhỏ sống với đồng” và sau này là “hồi chiến tranh ở rừng”. Lúc ấy, con người sống giản dị, “trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ”. Vầng trăng trở thành người bạn tri kỷ, thành “vầng trăng tình nghĩa” gắn bó trong suốt những năm tháng từ thuở ấu thơ ở quê nhà, đến hồi chiến tranh sống ở rừng.

Đến khi về thành phố, sống giữa những tiện nghi hiện đại “quen ảnh điện, cửa gương”, con người bỗng quên đi cái vầng trăng “ngỡ không bao giờ quên” kia, bỗng vô tình với “cái vầng trăng tình nghĩa” kia. Sự vô tình đến mức tàn nhẫn:

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường

Rồi đến một đêm nào đó:

Thình lình đèn điện tắt… đột ngột vầng trăng tròn.

Con người đã quen với đèn điện nên quên trăng. Vầng trăng vẫn có đó nhưng “như người dưng qua đường”. Phải đến khi đèn điện tắt, con người mới lại nhìn thấy và nhận ra vầng trăng. Phải đột ngột như thế. Phải bất ngờ như thế, vầng trăng mới làm thức dậy trong tâm trí con người bao cảm xúc.

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng.

“Ngửa mặt lên nhìn mặt”, mặt người và mặt trăng đối diện nhau. Đó là khoảnh khắc bất ngờ gặp lại “cố nhân”. Khoảnh khắc gặp gỡ đó khiến hồn người “rưng rưng” cảm xúc. Vầng trăng làm ùa dậy trong tâm trí những hình ảnh của thiên nhiên, của quê hương đất nước.

+ Vầng trăng trong bài thơ còn có ý nghĩa biểu tượng: biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, biểu tượng cho vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của đời sống.

Vầng trăng đâu chỉ làm ùa dậy trong tâm trí những hình ảnh của thiên nhiên, của quê hương đất nước, mà còn đánh thức trong tâm trí con người bao kỷ niệm hồn nhiên của thời tuổi nhỏ, bao kỷ niệm nghĩa tình của một thời gian lao chiến đấu.

Khổ thơ cuối cùng là nơi tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng:

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kẻ chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình.

Mặc cho con người vô tình, “trăng cứ tròn vành vạnh”. Đó là hình ảnh tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. “Ánh trăng im phăng phắc”, phép nhân hoá khiến hình ảnh vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể, một người bạn, một nhân chứng, rất nghĩa tình nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc đang nhắc nhở con người đừng quên đi quá khứ. “Ánh trăng im phăng phắc” nhưng đủ làm để làm con người “giật mình” nhận ra sự vô tình không nên có, sự lãng quên đáng trách của mình. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên, nhưng thiên nhiên và nghĩa tình quá khứ thì vẫn nguyên vẹn, vĩnh hằng.

Câu 3: Phân tích 2 khổ thơ cuối của bài thơ “Ánh trăng”

– Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ. Con người không còn muốn trốn chạy vầng trăng, trốn chạy cả bản thân mình được nữa. Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn. Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỷ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc – dùng những từ không trực tiếp để diễn tả sự xúc động cảm động chợt dâng trào trong lòng anh khi gặp lại vầng trăng.

– Cảm xúc “rưng rưng”: tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi nhớ gợi thương. Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao.

– Sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy ở tâm trí nhà thơ bao kỷ niệm quá khứ tốt đẹp khi cuộc sống còn quá nghèo nàn, gian lao. Lúc ấy con người với thiên nhiên trăng là tri kỷ, tình nghĩa.

Khổ thơ kết lại bài thơ bằng hai vế đối lập mà song song:

“Trăng cứ tròn vành vạnh

… Đủ cho ta giật mình”

– Ở đây có sự đối lập giữa “tròn vành vạnh” và “kẻ vô tình”, giữa cái im lặng của ánh trăng với sự “giật mình” thức tỉnh của con người. Vầng trăng có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Hình ảnh “vầng trăng tròn vành vạnh”, ngoài nghĩa đen là vẻ đẹp tự nó và mãi mãi vĩnh hằng của cuộc sống còn có nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp của nghĩa tình quá khứ, đầy đặn, thuỷ chung, nhân hậu bao dung của thiên nhiên, của cuộc đời, con người, nhân dân, đất nước.

– Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” có ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. Sự không vui, sự trách móc trong lặng im của vầng trăng là sự tự vấn lương tâm dẫn đến cái “giật mình” ở câu thơ cuối. Cái “giật mình” là cảm giác và phản xạ tâm lý có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình. Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên. Thiên nhiên thật nghiêm khắc, lạnh lùng nhưng cũng thật ân tình, độ lượng bao dung, vầng trăng và thiên nhiên là trường tồn, bất diệt. Thì ra những bài học sâu sắc về đạo lý làm người đâu cứ phải tìm trong sách vở hay từ những khái niệm trừu tượng xa xôi. Ánh trăng thật sự đã như một tấm gương soi để thấy được gương mặt thực của mình, để tìm lại cái đẹp tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ ngon trong quên lãng.

Câu 4: Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ tượng trưng cho điều gì? Ý nghĩa khái quát của bài thơ “Ánh trăng”.

Gợi ý:

a. Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ trước hết là vầng trăng của tự nhiên. Nhưng vầng trăng còn là biểu tượng của quá khứ đầy tình cảm, khi con người trần trụi giữa thiên nhiên, hồn nhiên, không so đo, tính toán. Khi đó, tâm hồn con người rộng mở, khoáng đạt như sông, như đồng, như bể như rừng. Toàn là những hình ảnh thiên nhiên rộng dãi, hùng vĩ. Nhưng khi kháng chiến thành công thì con người nhốt mình vào cửa kính, buyn – đinh, sống riêng cho mình, cho cái cá nhân nhỏ bé. Bởi thế mà không gần gũi, không mặn mà với vầng trăng. Lúc này trăng tượng trưng cho quá khứ ân tình, cho những tình cảm lớn lao mộc mạc nhưng bất tử, sáng trong mãi mãi. Con người có thể quên quá khứ, nhưng quá khứ không bao giờ quên. Trăng cứ tròn vành vạnh cũng như quá khứ tươi đẹp không bao giờ mờ phai, không bao giờ khuyết thiếu. Chỉ có những ai mê mải với cái riêng mới có thể dửng dưng. Nhưng vầng trăng ấy bao dung, không “kể chi người vô tình”. Chính thái độ lặng im cao thượng ấy càng làm những ai sớm quên quá khứ nghĩa tình phải giật mình.

b. Bài thơ “Ánh trăng” là tâm sự của Nguyễn Duy, là suy ngẫm của nhà thơ trước sự đổi thay của hoàn cảnh sống, khi mà con người từ chiến tranh trở về cuộc sống hoà bình. Những sông, đồng, biển, rừng là hình ảnh tượng trưng, nhưng cũng là hình ảnh thật của những người kháng chiến. THành phố là môi trường mới, là hình ảnh thật của những người kháng chiến không đặt chân tới (trừ các chiến sĩ hoạt động bí mật). Môi trường mới ???nghỉ mới, hoàn cảnh mới làm cho con người sống cách biệt với thiên nhiên cũng có nghĩa là xa dần quá khứ, lạnh nhạt dần với quá khứ. Ánh trăng cảnh bao hiện tượng suy thoái về tình cảm, sẽ dẫn đến suy thoái lối sống, suy thoái đạo đức. Nó nhắc nhở con người cần thuỷ chung với quá khứ, với những điều tốt đẹp của quá khứ, đừng (có mới nới cũ).

Câu 6: Phân tích, so sánh hình ảnh “Trăng” (vầng trăng, mảnh trăng, ánh trăng…) trong các bài thơ “Đồng chí”, “Đoàn thuyền đánh cá”, “Ánh trăng”.

Gợi ý:

Trăng trong cả ba bài thơ đều là hình ảnh thiên nhiên đẹp, trong sáng, người bạn tri kỷ của con người trong cuộc sống lao động và chiến đấu, trong sinh hoạt hàng ngày.

– Trăng trong “Đồng chí” là biểu tượng của tình đồng chí, gắn bó keo sơn trong cuộc sống chiến đấu gián khổ thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, biểu tượng của hiện thực và lãng mạn, trở thành nhan đề của cả tập thơ “Đầu súng trăng treo”.

– Trăng trong “Đoàn thuyền đánh cá” là cánh buồm chuyên chở và nâng bổng niềm vui hào hứng trong lao động làm chủ tập thể của những ngư dân đi đánh cá đêm, vẽ nên bức tranh sơn mài biển vàng biển bạc.

“Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé

Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”

– Trăng trong “Ánh trăng” là vầng trăng tròn vành vạnh, im phăng phắc đột ngột ùa vào phòng buyn-đinh tối om trong đêm hoà bình mất điện ở thành phố Hồ Chí Minh đã khiến nhà thơ giật mình, ân hận, day dứt về suy nghĩ và cách sống hiện tại của mình. Ánh trăng như người bạn thân nhắc nhở, lay tính lương tâm của tác giả: không được vô ơn với quá khứ, với đồng đội đã hy sinh với thiên nhiên nhân hậu và bao dung.

c. Niềm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng

Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ. Sự đổi thay của con người không làm vầng trăng cau mặt. Vầng trăng xuất hiện vẫn một tình cảm tràn đầy, không mảy may sứt mẻ. “Trăng tròn” là một hình ảnh thơ khá hay, không chỉ là ánh trăng tròn mà còn là tình cảm bạn bè trong trăng vẫn trọn vẹn, vẫn chung thuỷ như năm xưa. Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn. Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỷ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc!

– Từ cái đối mặt trực diện ấy, ánh trăng đã thức dậy những kỷ niệm quá khứ tốt đẹp, đánh thức lại tình cảm bạn bè năm xưa, đánh thức lại những gì con người đã lãng quên.

– Cảm xúc “rưng rưng” là biểu thị của một tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi nhớ gợi thương khi gặp lại bạn tri kỷ. Ngôn ngữ bây giờ là nước mắt dưới hàng mi. Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao.

“Ánh trăng hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào:

“Trăng cứ tròn vành vạnh

… Đủ cho ta giật mình”

– Ở đây có sự đối lập giữa “tròn vành vạnh” và “kẻ vô tình”, giữa cái im lặng của ánh trăng với sự “giật mình” thức tỉnh của con người.

+ Trăng tròn vành vạnh, trăng im phăng phắc không giận hờn trách móc mà chỉ nhìn thôi, một cái nhìn thật sâu như soi tận đày tìm người lính đủ để giật mình nghĩ về cuộc sống hoà bình hôm nay. Họ đã quên mất đi chính mình, quên những gì đẹp đẽ, thiêng liêng nhất của quá khứ để cìm đắm trong một cuộc sống xô bồ, phồn hoa mà ít nhiều sẽ mất đi những gì tốt đẹp nhất của chính mình.

+ Trăng tròn vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể phai mờ. ánh trăng chính là người bạn nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta : con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.

– Sự không vui, sự trách móc trong lặng im của vầng trăng là sự tự vấn lương tâm dẫn đến cái “giật mình” ở câu thơ cuối. Cái “giật mình” là cảm giá và phản xạ tâm lý có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình. Cái “giật mình” cảu sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên. Câu thơ thầm nhắc nhở chính mình và cũng đồng thời nhắc nhở chúng ta, những người đang sống trong hoà bình, hưởng những tiện nghi hiện đại, đừng bao giờ quên công sức đấu tranh cách mạng của biết bao người đi trước.

Theo Cẩm nang Ngữ văn 9

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đề Xuất 10/2021 # Hướng Dẫn Vẽ Tranh Minh Họa Truyện Cổ Tích Đơn Giản # Top Like trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!