Đề Xuất 2/2023 # Dạy Học Sinh Lớp 4 Ngắt Giọng Trong Khi Đọc Như Thế Nàò? # Top 3 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Dạy Học Sinh Lớp 4 Ngắt Giọng Trong Khi Đọc Như Thế Nàò? # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Dạy Học Sinh Lớp 4 Ngắt Giọng Trong Khi Đọc Như Thế Nàò? mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Một trong những kĩ năng quan trọng trong quá trình hình thành kĩ năng đọc cho học sinh đó là kĩ năng ngắt giọng trong khi đọc. Xin chia sẻ bài viết của thầy Phạm Văn Công (Cao học khoá 14, Khoa Giáo dục Tiểu học, ĐHSP Hà Nội).

Đọc là một trong bốn kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết ) yêu cầu học sinh phải đạt được trong môn học tiếng Việt, một môn học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Tập đọc là một phân môn có vị trí hết sức quan trọng trong môn tiếng Việt nhất là trong giai đoạn bùng nổ thông tin hiện nay. Đọc thông viết thạo là một yêu cầu đặt ra với bất cứ học sinh tiểu học nào, ngay từ những ngày đầu tiên đến trường các em đã phải học đọc mặc dù ở giai đoạn này việc đọc của các em mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện kí hiệu chữ viết và giải mã bằng âm thanh song đây là một giai đoạn rất quan trọng bởi đó là giai đoạn học sinh phải học để đọc và làm nền tảng cho những giai đoạn tiếp theo, giai đoạn đọc để học. Càng về sau yêu cầu đặt ra trong việc đọc càng được nâng cao, từ việc đọc để hiểu được nội dung văn bản đến việc phát triển kĩ năng đọc diễn cảm. Dạy học tập đọc ở tiểu học là một việc làm hết sức có ý nghĩa trong việc hình thành và phát triển kĩ năng đọc cho học sinh, nó khẳng định sự cần thiết cho việc hình thành và phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh. Tuy nhiên việc dạy học tập đọc hiện nay ở tiểu học vẫn còn gặp không ít khó khăn từ cả hai phía học sinh và giáo viên. Đối với học sinh, có nhiều em chưa chưa dạt được yêu cầu đặt ra trong việc phát triển kĩ năng đọc, đối với giáo viên, có nhiều người còn rất lúng túng trong quá trình dạy học và đặc biệt không biết phải làm thế nào để giúp học sinh có được kĩ năng đọc nhất là đọc diễn cảm.

Để nâng cao được hiệu quả dạy học tập đọc yêu cầu đặt ra đối với mỗi giáo viên tiểu học là không chỉ giúp học sinh biết giải mã các kí hiệu chữ viết thành âm thanh mà còn phải giúp học sinh có khả năng nhận thức thông hiểu những gì được đọc. Một trong những kĩ năng quan trọng trong quá trình hình thành kĩ năng đọc cho học sinh đó là kĩ năng ngắt giọng trong khi đọc. Đọc đúng chỗ ngắt giọng không những giúp học sinh hiểu đúng được văn bản mà còn là một trong các yếu tố cơ bản của việc đọc diễn cảm. Trong bài viết này xin được đưa ra một số ví dụ hướng dẫn học sinh lớp 4 đọc đúng chỗ ngắt giọng trong quá trình dạy học tập đọc.

1.Về kĩ năng ngắt giọng lôgíc

Khi đọc một văn bản nào đó, nếu gặp những dấu câu ta cần phải ngắt, nghỉ đó chính là việc ngắt giọng. Sau dấu chấm xuống dòng phải nghỉ lâu hơn sau dấu chấm, sau dấu chấm lại phải nghỉ lâu hơn sau dấu phẩy. Sau dấu phẩy cũng có lúc lại phải nghỉ khác nhau: Dấu phẩy ngăn cách giữa các vế câu phải nghỉ lâu hơn dấu phẩy sau trạng ngữ, dấu phẩy sau trạng ngữ phải nghỉ lâu hơn dấu phẩy ngăn cách giữa các bộ phận đẳng lập trong câu. Chỗ ngắt giọng phản ánh các quan hệ ngữ pháp, tuy nhiên các quan hệ ngữ pháp có lúc được biểu hiện trên chữ viết có lúc lại không có biểu hiện gì do đó muốn đọc đúng chỗ ngắt giọng ta cần phải nắm được các quan hệ ngữ pháp đó.

– Trăng sáng mùa thu/ vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng mạc…(Trung thu độc lập – TV4 tập 1, tr 66 ).

Trong ví dụ trên, học sinh đã ngắt giọng sai do tách “vằng vặc” ra khỏi “Trăng sáng mùa thu”vì vậy câu văn bị hiểu sai thành: “Trăng sáng mùa thu” là chủ ngữ và vị ngữ là “vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng mạc…”. Do đó cần hướng dẫn học sinh ngắt giọng đúng như sau:

“Trăng sáng mùa thu vằng vặc/ chiếu khắp thành phố, làng mạc…”.

– Bất giác, em lại nhớ đến ba người thợ nhễ nhại mồ hôi/ mà vui vẻ bên tiếng bễ thổi “phì phào”…(Thưa chuyện với mẹ – TV4 tập, tr 86).

Nếu ngắt giọng như trên thì câu văn sẽ bị hiểu sai thành: Cương vừa nhớ đến ba người thợ nhễ nhại mồ hôi và Cương vừa cảm thấy vui vẻ bên tiếng bễ thổi “phì phào”. Do đó cần hướng dẫn học sinh đọc đúng như sau: “Bất giác, em lại nhớ đến ba người thợ nhễ nhại mồ hôi mà vui vẻ/ bên tiếng bễ thổi “phì phào”…

– Chú đậu trên một cành lộc vừng/ ngả dài trên mặt hồ. (Con chuồn chuồn nước -TV4 tập 2, tr 127).

Ở đây học sinh cũng đã sai khi tách “ngả dài” ra khỏi “cành lộc vừng”, do đó câu văn bị hiểu thành: chú chuồn chuồn nằm ngả dài trên mặt hồ chứ không phải cành lộc vừng!? Vì vậy cần hướng dẫn học sinh đọc đúng như sau: “Chú đậu trên một cành lộc vừng ngả dài/ trên mặt hồ”.

– Những thằng cu/ áo đỏ chạy lon xon.

– Con bò vàng/ ngộ nghĩnh đuổi theo sau. (Chợ tết – TV4 tập 2, tr 38).

Rõ ràng, theo cảm tính mà học sinh đã ngắt nhịp sai khi tách “áo đỏ” ra khỏi “Những thằng cu”, tách “ngộ nghĩnh” ra khỏi “Con bò vàng” làm cho câu thơ bị tách thành 2 câu cụt. Do đó cần hướng dẫn học sinh đọc đúng như sau: ” Những thằng cu áo đỏ/chạy lon xon.” ; “Con bò vàng ngộ nghĩnh/đuổi theo sau.”

Để khắc phục các lỗi trên, khi hướng dẫn học sinh đọc, giáo viên cần lưu ý học sinh cách phân tích quan hệ ngữ pháp giữa các từ trong câu, cần giúp học sinh nắm được quan hệ giữa định ngữ với danh từ, định ngữ bổ nghĩa cho danh từ và chúng liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một cụm danh từ. Do đó khi đọc không được ngắt giọng ở những chỗ ngăn cách giữa danh từ với định ngữ đi kèm.

– Nổi bật trên hoa văn/ trống đồng là hình ảnh con người hoà với thiên nhiên. (Trống đồng Đông Sơn – TV 4 tập 2, tr 17)

Do ngắt giọng sai, tách cụm từ “hoa văn trống đồng” làm hai như trên nên câu văn sẽ bị sai về nghĩa bởi vì theo cách ngắt giọng đó thì “nổi bật trên hoa văn” sẽ làm trạng ngữ và “trống đồng” trở thành chủ ngữ. Vì vậy cần hướng dẫn học sinh đọc đúng như sau: “Nổi bật trên hoa văn trống đồng/ là hình ảnh con người hoà với thiên nhiên.”

– Tôi lim dim/ mắt ngắm mấy con ngựa đang ăn cỏ.

Sa Pa quả là một món quà/tặng kì diệu mà thiên nhiên dành cho đất nước ta. (Đường đi Sa Pa – TV4 tập 2, tr 102).

Ở đây, học sinh cũng đã mắc sai lầm khi tách “lim dim mắt”, “quà tặng” ra làm đôi và làm cho câu văn cũng bị sai về nghĩa. Cần đọc đúng là: “Sa Pa quả là một món quà tặng kì diệu/ mà thiên nhiên dành cho đất nước ta.” , “Tôi lim dim mắt/ ngắm mấy con ngựa đang ăn cỏ.”

– Mặt trời lặn, ánh sáng chiếu/ soi vào bóng tối cửa đền. (Ăng-co-vát – TV4 tập 2, tr 123).

– Mỗi đứa trẻ trung bình/ mỗi ngày cười 400 lần. (Tiếng cười là liều thuốc bổ – TV4 tập 2, tr 153).

Nếu ngắt giọng sai như trên thì ta thấy sẽ có một loại “ánh sáng chiếu” được soi vào bóng tối của cửa đền. Còn ở câu thứ hai do ngắt giọng sai nên “trung bình mỗi ngày”là trạng ngữ đã bị tách làm hai và câu văn bị hiểu thành “trung bình” là định ngữ bổ nghĩa cho “mỗi đắ trẻ”. Do đó cần đọc đúng như sau: “Mặt trời lặn, ánh sáng chiếu soi/ vào bóng tối cửa đền.”.

– Chuyện ngày xưa đã có bờ/ tre xanh. (Tre Việt Nam – TV4 tập 1, tr 41).

– Anh chàng/ Gà Trống tinh nhanh lõi đời. (Gà Trống và Cáo – TV4 tập 1, tr 51).

– Hái triệu vì/ sao xuống cùng.

Đúc thành ông/ mặt trời mới.

Mãi mãi không/ còn mùa đông.

Trong ruột không/ còn thuốc nổ. (Nếu chúng mình có phép lạ – TV4 tập 1, tr 76).

– Qua bao/ nhiêu ngọn gió.

Trên những/ cánh đồng hoa.

Loá màu/ trắng hoa mơ.

Mùi hoa/ huệ ngạt ngào. (Tuổi ngựa – TV4 tập 1, tr 149)

Ở các câu trên, học sinh đã ngắt nhịp sai do tách các từ “bờ tre xanh”, “Anh chàng Gà Trống”, “vì sao”, “ông mặt trời”, “không còn”, “bao nhiêu”, “những cánh đồng”, “màu trắng”, “hoa huệ” thành hai từ làm cho các câu đó trở thành những câu không có nghĩa. Do đó cần giúp các em đọc đúng như sau:

– Chuyện ngày xưa/ đã có bờ tre xanh.

– Anh chàng Gà Trống/ tinh nhanh lõi đời.

– Hái triệu vì sao/ xuống cùng.

Đúc thành/ ông mặt trời mới.

Mãi mãi không còn/ mùa đông.

Trong ruột không còn/ thuốc nổ.

– Qua bao nhiêu/ ngọn gió.

Trên/ những cánh đồng hoa.

Loá/ màu trắng hoa mơ.

Mùi hoa huệ/ ngạt ngào.

Để khắc phục những lỗi trên, cần chú ý học sinh ngoài việc nắm được các quan hệ ngữ pháp giữa các từ trong câu còn cần phải có thói quen không đọc các câu thơ theo một nhịp điệu nhất định mà phải thường xuyên thay đổi nhịp điệu tuỳ vào các quan hệ giữa các từ trong câu đó. Đặc biệt cần phải giúp học sinh hiểu được không thể tách một từ ra làm hai một cách tuỳ tiện như trên.

– Bây giờ mẹ lại/ lần giường tập đi. (Mẹ ốm – TV4 tập 1, tr 10).

– Vừa nhân hậu lại/ tuyệt vời sâu xa.

Người ngay thì/ được phật tiên độ trì.

Con sông chảy có/ rặng dừa nghiêng soi.

Vừa độ lượng lại/ đa tình đa mang.

Chăm làm thì được/ áo cơm cửa nhà. (Truyện cổ nước mình – TV4 tập 1, tr19).

Trong các câu trên, học sinh đã ngắt nhịp sai do tách hư từ vốn có quan hệ rất chặt chẽ với bộ phận đi theo sau nó làm câu thơ trở nên rất khó nghe. Do đó cần hướng dẫn học sinh đọc đúng các câu thơ trên như sau:

– Bây giờ/ mẹ lại lần giường tập đi.

– Vừa nhân hậu/ lại tuyệt vời sâu xa.

Người ngay/ thì được phật tiên độ trì.

Con sông chảy/ có rặng dừa nghiêng soi.

Vừa độ lượng/ lại đa tình đa mang.

Chăm làm/ thì được áo cơm cửa nhà.

Để khắc phục các lỗi trên, giáo viên cần cho học sinh nắm được quan hệ chặt chẽ giữa hư từ với bộ phận đi kèm theo sau nó. Từ đó giúp học sinh có thói quen đọc liền hư từ với bộ phận đi kèm.

– Khi đọc câu thơ cuối trong bài thơ “Mẹ ốm” (TV4 tập 1, tr 10) giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ngắt nhịp như sau: “Mẹ/ là đất nước tháng ngày của con.”.

Rõ ràng với cách ngắt nhịp như trên sẽ giúp cho người nghe thấy hết được tình cảm yêu thương sâu sắc của tác giả đối với người mẹ đã từng vất vả nuôi con khôn lớn thành người.

– Cũng cần chú ý học sinh, trong một số trường hợp có thể cần phải phá vỡ các quan hệ ngữ pháp để tạo ra một cách ngắt nhịp đem đến cho người nghe sự nhẹ nhàng êm ái trong giai điệu của những vần thơ chứa đầy chất nhạc. Chẳng hạn như khi đọc một số câu trong bài “Bè xuôi sông La” (TV4 tập 2, tr 27) giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc ngắt nhịp như sau: “Sông La/ ơi sông La”. Với cách ngắt nhịp trên sẽ gây được cảm xúc mạnh mẽ hơn đối với người nghe, câu thơ trở nên mượt mà hơn với ự ngân dài tha thiết của từ “ơi”. Hay: “Bè đi/ chiều thì thầm”, “Gỗ/ lượn đàn thong thả”. Đây cũng là cách ngắt nhịp có hiệu quả nhất, nó làm cho câu thơ sống động hơn với nhiều đối tượng được miêu tả với nhiều hoạt động mà cũng không hạn chế thời gian bè đi vào buổi chiều, lại tạo được một sự kết hợp bất thường “chiều thì thầm” làm cho thời gian như được nhân hoá cất lên thành lời.

Đọc Một Bài Thơ Như Thế Nào

Edward Hirsch là nhà thơ và nhà phê bình người Mỹ. Sinh năm 1950 ở Chicago, ông lấy bằng tiến sĩ ngành văn học dân gian tại Đại học Pennsylvania và dạy văn học Anh tại Đại học Wayne State và Đại học Houston trước khi được bổ nhiệm làm chủ tịch Quỹ John Simon Guggenheim vào năm 2002. Ông được trao giải thơ của Hiệp hội Phê bình Sách Quốc gia Mỹ năm 1986.

Đọc thơ tốt một phần là thái độ một phần là kỹ thuật. Hiếu kỳ là một thái độ hữu ích, đặc biệt là khi nó không chứa những tư tưởng định trước về thơ là gì hay nên là gì. Kỹ thuật hiệu quả hướng sự hiếu kỳ của ta đến đặt câu hỏi, kéo ta vào cuộc trò chuyện với thơ.

Bắt đầu: Các tiền giả định

Hầu hết độc giả đều đưa ra ba giả định sai lầm khi giải quyết một bài thơ không quen thuộc. Thứ nhất là giả định rằng họ cần hiểu cái họ gặp trong lần đọc thứ nhất, nếu họ không hiểu thì họ hoặc bài thơ có vấn đề. Thứ hai là giả định rằng thơ là một loại mã, rằng mỗi chi tiết tương ứng với một và chỉ một điều, và nếu không thể phá mã thì họ không hiểu nó. Thứ ba là giả định rằng thơ có thể mang bất cứ ý nghĩa nào mà độc giả muốn.

William Carlos Williams đã viết một đoạn gửi vợ mình trong bài thơ “January Morning” (“Sáng tháng Giêng”):

All this- was for you, old woman. I wanted to write a poem that you would understand. For what good is it to me if you can't understand it? but you got to try hard-

Williams thừa nhận trong những dòng này rằng thơ thường rất khó. Ông cũng gợi ý rằng một nhà thơ thì phụ thuộc vào nỗ lực của độc giả; bằng cách này hay cách khác, độc giả phải “hoàn thành” những gì mà nhà thơ đã bắt đầu.

Hành động hoàn thành này bắt đầu khi ta bước vào lối chơi giàu tưởng tượng của một bài thơ, mang đến nó trải nghiệm và góc nhìn của ta. Nếu thơ là “chơi” theo nghĩa một trò chơi hay một môn thể thao, thì ta thích thú việc nó khiến ta vận động đôi chút, việc nó làm ta đổ mồ hôi đôi chút. Đọc thơ là một thách thức, nhưng như rất nhiều thứ khác, nó cần thực hành, và các kỹ năng và hiểu biết của ta cải thiện khi ta thực hành.

Văn chương là, và luôn là, sự chia sẻ trải nghiệm, sự tổng hợp hiểu biết của con người về sống, yêu, và chết. Những bài thơ thành công chào đón ta, bộc lộ những ý tưởng có thể không quan trọng nhất trong tâm trí tác giả ở thời điểm sáng tác. Thơ tốt nhất có một phẩm chất huyền diệu-cảm giác rằng thơ không chỉ là tổng các thành phần mà còn hơn thế-và ngay cả khi không thể bày tỏ cảm giác này, cái nhiều hơn này, sức mạnh của thơ vẫn không suy giảm.

Thơ nói với ta bằng nhiều cách. Dù có thể hình thức của thơ không luôn là trực tiếp hay tự sự, hãy nhớ rằng một con người thực sự đã hình thành thời khắc của thơ, và tìm kiếm một sự hiểu biết về thời khắc ấy là khôn ngoan. Đôi khi công việc của thơ là đến gần hơn việc nói những gì không thể nói trong những hình thức khác của viết, là gợi ý một trải nghiệm, ý tưởng, hay cảm giác mà ta có thể biết nhưng không thể biểu đạt hoàn toàn trong bất cứ cách thức trực tiếp hay nguyên nghĩa nào. Kỹ thuật sắp xếp từ ngữ và dòng, âm thanh và nhịp điệu, thêm vào-và trong một số trường hợp, nhân lên-ý nghĩa của từ ngữ vượt ra ngoài nghĩa đen, cho ta một ấn tượng về một ý tưởng hay cảm giác, một trải nghiệm mà ta không thể hoàn toàn diễn đạt bằng lời nhưng biết rằng nó là thật.

Đọc thành tiếng một bài thơ

Trước khi tiến xa hơn với thơ, ta phải đọc nó. Trên thực tế, chỉ cần nhìn vào nó ta cũng có thể biết một số điều. Trước hết, nhan đề có thể cho ta hình ảnh hay liên kết nào đó. Nhìn vào hình dạng của thơ, ta có thể thấy các dòng thơ được viết liên tục hay chia thành nhóm (gọi là khổ), hay các dòng dài đến đâu, và bài thơ đặc, ở mức độ vật lý, như thế nào. Ta cũng có thể thấy nó có trông giống bài thơ cuối cùng mà ta đọc của cùng nhà thơ đó hay thậm chí một bài thơ của một nhà thơ khác hay không. Tất cả đều là những phẩm chất tốt đáng chú ý, và cuối cùng chúng có thể dẫn ta đến sự hiểu biết tốt hơn về thơ.

Nhưng sớm hay muộn, ta sẽ phải đọc bài thơ, từng chữ một. Để bắt đầu, hãy đọc thành tiếng bài thơ. Đọc nhiều hơn một lần. Lắng nghe giọng mình, nghe âm thanh mà từ ngữ tạo nên. Ta có nhận thấy bất cứ hiệu ứng đặc biệt nào hay không? Có chữ nào vần với nhau hay không? Có cụm âm thanh nào có vẻ giống hay tương tự nhau không? Có phần nào có nhịp điệu khác phần còn lại của bài thơ hay không? Đừng lo về việc tại sao có thể bài thơ sử dụng những hiệu ứng này. Bước đầu tiên là lắng nghe những gì đang diễn ra. Nếu thấy giọng mình gây mất tập trung, hãy nhờ một người bạn đọc.

Nói như vậy, có thể ta vẫn không thoải mái khi đọc thành tiếng hay đi qua một bài thơ nhiều hơn một lần. Một phần thái độ này xuất phát từ quan niệm sai lầm rằng ta cần hiểu một bài thơ sau lần đầu tiên đọc nó, trong khi một phần bắt nguồn từ sự ngượng nghịu đơn thuần. Ta có thể đến nơi nào để đọc thành tiếng? Bạn bè nghe được thì sao?

Dòng

Điều gì quyết định một dòng dừng lại ở đâu trong thơ? Dĩ nhiên, có nhiều hơn một câu trả lời cho câu hỏi này. Dòng thường được quyết định bởi ý nghĩa, âm thanh và nhịp điệu, nhịp thở, hoặc kiểu in. Các nhà thơ có thể sử dụng nhiều yếu tố cùng một lúc. Một số bài thơ vận luật theo nghĩa hẹp. Nhưng nếu các dòng không vận luật thì sao? Nếu các dòng bất thường thì sao?

Đôi khi rất khó nhận ra quan hệ giữa ý nghĩa, âm thanh, và chuyển động theo ý định của nhà thơ, nhưng có sự tương tác giữa ngữ pháp của dòng, nhịp thở của dòng, và cách các dòng được ngắt trong thơ-điều này được gọi là ngắt dòng (lineation). Ví dụ, các dòng kết thúc bằng dấu câu, gọi là dòng kết (end-stopped line), thì khá đơn giản. Trong trường hợp đó, dấu câu và cách ngắt dòng, và có lẽ cả nhịp thở, trùng nhau để khiến cách đọc quen thuộc và thậm chí dễ đoán. Nhưng các dòng không phải dòng kết thì mang lại những thách thức khác cho độc giả do chúng kết thúc hoặc bằng một cụm từ hay câu không đầy đủ hoặc ngắt trước khi đến dấu câu. Cách tiếp cận tự nhiên nhất là chú ý chặt chẽ đến ngữ pháp và dấu câu. Đọc đến cuối một cụm từ hay câu, ngay cả khi nó dàn qua một hay nhiều dòng, là cách tốt nhất để giữ lại ý nghĩa ngữ pháp của một bài thơ.

Nhưng sự ngắt dòng còn đưa ra một biến thể nữa được một số nhà thơ vận dụng. Robert Creeley có lẽ được biết đến nhiều nhất vì ngắt dòng không theo những khoảng ngừng ngữ pháp dự kiến. Kỹ thuật này thường đem lại ý nghĩa thứ cấp, đôi khi trong sự đối lập mỉa mai với ý nghĩa thực sự của cụm từ ngữ pháp hoàn chỉnh. Hãy xem xét những dòng này trong bài thơ “The Language” (“Ngôn ngữ”) của Creeley:

Locate I love you some- where in teeth and eyes, bite it but

Đọc những dòng này theo lối viết, đối lập với quan hệ ngữ pháp của chúng, sinh ra một vài ý nghĩa kỳ lạ. “Locate I ” dường như chỉ ra một cuộc truy tìm bản sắc, và quả thật có thể là thế, nhưng dòng tiếp theo, tiếp tục với “love you some-,” lại có vẻ đưa ra một tuyên bố tiêu cực về một mối quan hệ. Bản thân “eyes bite” thì rất rối.

Nghe Creeley đọc thơ của ông thường có thể rất khó chịu, bởi ông dừng ở cuối mỗi dòng, và những khoảng dừng ấy tạo ra một dạng căng thẳng hoặc đối đầu với cấu trúc câu của bài thơ. Có thể lập tức nhận ra phong cách ngập ngừng, do dự, khó thở của ông, và nó thể hiện với các nhà văn những ý tưởng mới về ý nghĩa, thuần túy qua sự ngắt dòng. Nhưng nhiều nhà thơ ngắt dòng không theo các đơn vị ngữ pháp làm như vậy chỉ vì sự châm biếm thị giác, một thứ có thể mất đi trong lúc đọc. Giữa các nhà thơ vần luật, thơ tự do, và cả những nhà thơ thể nghiệm ngày nay, có những người không làm gián đoạn ý nghĩa ngữ pháp khi đọc thơ nhiều như họ làm gián đoạn nó trong kiểu in của thơ. Là độc giả thì phải làm sao? Hãy thử nhiều phương pháp. “Creeley hóa” bất kỳ bài thơ nào cũng rất thú vị, chỉ để nghe xem cách ngắt dòng đang làm điều gì. Nhưng nếu kết quả dường như làm giảm tác động của bài thơ, về mặt hình ảnh hay khái niệm của nó, hãy bỏ qua việc đọc bám theo cách ngắt dòng và đọc vì ngữ pháp hoặc hình ảnh trực quan. Đọc một bài thơ bằng nhiều cách cho phép ta nhìn sâu hơn chỉ đơn giản bằng sự lặp lại.

Với các nhà thơ sử dụng những kỹ thuật rút ra từ âm nhạc-đặc biệt là jazz, như Michael S. Harper hay Yusef Komunyakaa-hoặc sử dụng những dòng dài bất thường như Walt Whitman, có thể có một nguyên tắc hướng dẫn khác: nhịp thở. Một số nhà thơ nghĩ về từ ngữ của mình như âm nhạc tuôn ra từ cái kèn; họ nghĩ về các cụm từ theo cách nghĩ của nghệ sĩ saxophone. Thơ sáng tác theo cách này có độ dài của dòng khác nhau nhưng có nhạc tính trong cách ngắt dòng và có tính tự nhiên trong cách đọc. Chúng có thể có nhịp dễ nhận biết, một khoảng thời gian tương đương giữa các dòng, hoặc, vì sự tương phản, một khuôn nhịp hoặc khoảng thời gian mở đường cho những biến thể kế tiếp.

Hãy nhớ rằng việc sử dụng những kỹ thuật này, trong bất kỳ sự kết hợp nào, cũng đẩy từ ngữ của thơ ra ngoài nghĩa đen của chúng. Nếu trong thơ ta tìm thấy nhiều hơn những gì mà riêng từ ngữ truyền tải, thì thứ gì đó lớn hơn đã có tác dụng, khiến thơ không chỉ là tổng các thành phần của nó mà còn hơn thế.

Ai là người nói?

Hoàn cảnh nào dẫn đến bài thơ?

Tình huống được đưa ra là gì?

Đối tượng của bài thơ là ai hay cái gì?

Giọng điệu của bài thơ là gì?

Hình thức, nếu có, của bài thơ?

Âm thanh có phải là một yếu tố quan trọng, tích cực của bài thơ?

Bài thơ có bắt nguồn từ một thời khắc lịch sử có thể xác định được hay không?

Bài thơ có nói từ một nền văn hóa cụ thể hay không?

Bài thơ có sử dụng tiếng địa phương hay không?

Bài thơ có sử dụng hình ảnh để đạt được một hiệu ứng đặc biệt nào không?

Loại ngôn ngữ tượng hình nào, nếu có, mà bài thơ sử dụng?

Nếu bài thơ là một câu hỏi, thì câu trả lời là gì?

Nếu bài thơ là một câu trả lời, thì câu hỏi là gì?

Nhan đề bài thơ gợi ý điều gì?

Bài thơ có sử dụng từ ngữ bất thường hoặc theo cách bất thường hay không?

Ta có thể quay trở lại những câu hỏi này khi cần, nhưng kinh nghiệm cho thấy vì mỗi bài thơ là độc nhất, những câu hỏi như vậy sẽ không đạt đến độ xa cần thiết. Trong nhiều trường hợp, biết ai là người nói có thể không mang lại bất cứ thông tin nào hữu ích. Có thể không có dịp nào xác định được truyền cảm hứng cho bài thơ. Nhưng thơ thường cho ta những manh mối về nơi để bắt đầu. Đặt câu hỏi về những đặc điểm có thể quan sát được của một bài thơ sẽ giúp ta tìm một con đường vào.

Văn bản và bối cảnh

Có người nói thơ luôn là một tác phẩm nghệ thuật độc lập và độc giả có thể hiểu đầy đủ nó mà không cần sử dụng bất cứ nguồn nào ngoài bản thân bài thơ. Người khác lại nói không văn bản nào tồn tại trong chân không. Tuy nhiên, sự thật nằm đâu đó ở giữa. Phần lớn thơ có thể diễn giải mà không cần sự trợ giúp của bối cảnh lịch sử hay kiến thức về cuộc đời tác giả. Trên thực tế, tiếp cận một bài thơ mà không có những tư tưởng định trước có thể đi kèm với kiểu thông tin này thường là cách tiếp cận tốt nhất. Tuy nhiên, những bài thơ khác, đặc biệt là những bài thơ chính trị công khai, sẽ hưởng lợi từ một số kiến thức về cuộc đời và thời đại của nhà thơ. Lượng thông tin cần thiết để hiểu rõ phụ thuộc vào ta và cuộc gặp của ta với thơ. Dĩ nhiên, có khả năng ngay cả một người có nền tảng sâu rộng về thơ cũng không nhận thức được những mối liên hệ hay những tác động nhất định trong một bài thơ. Điều này là bởi thơ được tạo nên từ những từ ngữ tích tụ những ý nghĩa mới qua thời gian.

Hãy xem xét tình huống này, một câu chuyện có thật, của một nhà thơ tìm thấy một “văn bản” ở bờ biển San Mateo ở miền Bắc California. Khi trèo qua những tảng đá sau bãi biển, gần những cánh đồng atisô phân cách bờ biển với đường cao tốc duyên hải, bà tìm thấy một vết graffiti lớn sơn trên đá, ” La Raza,” một khẩu hiệu chính trị của người Chicano mang nghĩa “đấu tranh.” Bà ngồi xuống và viết một bài thơ. Tại sao? bài thơ của bà hỏi. Tôi hiểu, bà viết, tại sao ai đó viết La Raza lên tường một tòa nhà hay trên phương tiện giao thông công cộng. Ở đó người ta sẽ thấy nó và nó sẽ cất tiếng phản đối từ chính những nền tảng của hệ thống áp bức. Nhưng tại sao lại ở đây, trong tự nhiên, trong cái đẹp, cách xa đấu trường chính trị ấy. Không để bờ biển giữ được vẻ hoang sơ hay sao? Sau này, một buổi tối trong khi đọc bài thơ đó ở Berkeley, bà nhận được câu trả lời. Một người tiến đến chỗ bà và hỏi, “Chị có muốn biết tại sao không?” “Xin anh,” bà trả lời. “Những cánh đồng ấy,” người đàn ông tiếp tục, “là nơi người Chicano gần như đã bị nô dịch, đánh đập, và buộc phải sống trong nghèo khổ trong nhiều thập niên.” Cảnh quan đã không vô tội trong cuộc đấu tranh chính trị. Văn bản đã không nằm ngoài nơi chốn.

Chấp nhận sự mơ hồ

Đây là một vấn đề hóc búa: nhiệm vụ là nắm bắt, là kết nối, là hiểu. Nhưng nhiệm vụ như vậy ở một mức độ là bất khả, và hầu hết mọi người đều muốn sự rõ ràng. Vào cuối lớp, vào cuối ngày, chúng ta muốn sự mặc khải, một hình ảnh đường chân trời qua màn sương mù tan. Về mặt mỹ học, điều này là dễ hiểu. Một sự huyền diệu, một sự thỏa mãn, một vài tiếng “Ahhh!” là một trong những phần thưởng của việc đọc, và đặc biệt là đọc thơ. Nhưng bài thơ nào bộc lộ bản thân hoàn toàn qua một hoặc hai lần đọc sẽ, theo thời gian, có vẻ không bằng một bài thơ liên tục bộc lộ những hốc kín tinh tế và những ý nghĩa chưa được nhận ra trước đó.

Đây là một phép so sánh hữu ích. Bạn đời, người chồng, người vợ-đó là những người mà chúng ta hy vọng luôn đổi mới tình yêu của chúng ta với họ. Bất chấp thói quen, tiếng ồn của sự quen thuộc, việc chuẩn bị đồ ăn và rửa bát đĩa thường nhật, những cuộc trò chuyện chúng ta từng có, chúng ta vẫn hy vọng tìm thấy một cảm giác khám phá, một cảm giác bất ngờ. Điều này cũng đúng với thơ. Những bài thơ huyền diệu và tuyệt vời nhất vẫn liên tục đổi mới bản thân, nói như vậy có nghĩa là chúng vẫn luôn bí ẩn.

Chúng ta thường xuyên chống lại sự mơ hồ. Có lẽ cuộc sống của chúng ta thay đổi chóng vánh đến nỗi chúng ta khao khát sự ổn định ở đâu đó, và bởi phần lớn việc đọc là để lấy hướng dẫn hay thông tin, chúng ta muốn nó không có gam màu xám. Chúng ta muốn nó dễ đoán và dễ tiêu hóa. Và thơ khó đến vậy là nỗi thống khổ cuối cùng.

Một số nhà phê bình văn học cũng sẽ liên kết điều này với sức mạnh của sự thấy, với quan hệ giữa chủ thể và đối tượng. Chúng ta mong thơ là đối tượng để có thể sở hữu nó thông qua “sự nhìn” của chúng ta vào những hoạt động bên trong nó. Khi nó không cho phép chúng ta “đối tượng hóa” nó, chúng ta cảm thấy bất lực.

Thống khổ, bất lực-đó là những mục đích đáng muốn? Ồ không. Vấn đề là phản ứng của chúng ta, cách chúng ta định hình tư tưởng của mình thông qua từ ngữ. Chúng ta phải từ bỏ thái độ vật chất của mình, thứ khiến chúng ta muốn sở hữu thơ. Có thể chúng ta đã mua sách nhưng chúng ta không sở hữu thơ. Chúng ta phải trau dồi một tư duy mới, một thói quen mới, là thưởng thức sự bất phân định.

Chấp nhận sự mơ hồ là nhiệm vụ khó hơn nhiều với người này so với người khác. Không gì đáng sợ với một số người như ý tưởng (ngay cả ý tưởng) về ngẫu hứng như một công cụ viết hay phân tích. Một số diễn viên ghét việc không có kịch bản; điều đó cũng đúng với một số nhạc sĩ. Đề nghị một số nhạc công xuất sắc chơi ngẫu hứng rồi họ sẽ bắt đầu đổ mồ hôi. Dĩ nhiên, các diễn viên và nhạc sĩ sẽ nói rằng có một điều bí ẩn trong những gì họ làm với một kịch bản hay một bản ghi, và sẽ là vô nghĩa nếu không đồng ý. Vấn đề, suy cho cùng, là văn bản thì bí ẩn. Diễn cùng một nhân vật đêm này qua đêm khác, diễn viên sẽ phát hiện ra điều gì đó trong những dòng kịch bản, sự đồng cảm nào đó với nhân vật mà họ chưa từng cảm thấy trước đây. Chơi hoặc nghe một bản nhạc đến hàng trăm lần-nếu là một bản nhạc vĩ đại-sẽ mang lại diễn giải và khám phá mới. Với thơ lớn cũng vậy. ♦

Edward Hirsch, ” How to Read a Poem,” chúng tôi 27 Nov, 2007 (Accessed 10 Oct, 2016).

Bản Mềm: 61 Bài Tập Đọc Cho Học Sinh Lớp 1

Bản mềm: 61 bài tập đọc cho học sinh lớp 1

Bản mềm: 61 bài tập đọc cho học sinh lớp 1 được biên soạn có hệ thống. Phân loại khoa học theo từng dạng bài cụ thể. Quá trình luyện tập học sinh có thể hệ thống hóa lời giải một cách chi tiết. Quý thầy cô giáo có thể tải về dựa theo đối tượng học sinh của mình. Để sửa đổi cho phù hợp. Ngoài ra với phương pháp dạy học tích cực. thầy cô có thể đưa những ví dụ trực quan hơn vào câu hỏi. Qua đó kích thích sự sáng tạo của học sinh Qua Bản mềm: 61 bài tập đọc cho học sinh lớp 1. Tải thêm tài liệu tiểu học

Hình ảnh bản mềm

ẤN “THEO DÕI” BÊN DƯỚI ĐỂ HIỆN LINK TẢI TÀI LIỆU BẢN MỀM

Tầm quan trọng của Tiếng Việt lớp 1.

Lớp 1 các bé được làm quen chính với hai môn là Toán lớp 1 và Tiếng Việt lớp 1 và nó đều là những môn học được ví như ” cái nôi” của các bé. Các bé từ khi sinh ra đã được gia đình dạy nói và bập bẹ nói tiếng Việt. Nhưng các bé vẫn chưa định hình được các chữ cái và cách viết nó như thế nào.Với môn Tiếng Việt lớp 1, các bé sẽ được làm quen với bảng chữ cái Tiếng Việt, cách đọc, cách viết và cách ghép các chữ cái thành từ. Tiếng Việt lớp 1 sẽ giúp các bé hiểu được ngôn ngữ tiếng Việt mà các bé nói hàng ngày. Nên đây là môn học rất quan trọng đối với các bé không kém gì môn Toán lớp 1.

Phương pháp học Tiếng Việt lớp 1 dành cho các bé.

Các bé nên học thuộc các bảng chữ cái rồi sau đó học ghép các chữ thành từ có nghĩa. Và quan trọng các bé phải đọc được lưu loát các từ. Để bổ trợ cho các bé học đọc, chúng tôi đã sưu tầm 61 bài tập đọc cho học sinh lớp 1. Với 61 bài tập đọc cho học sinh lớp 1 này, các bé hãy luyện tập đọc từ bài 1 đến bài 61. Sau đó, các bé sẽ thấy được khả năng đọc tiếng Việt của bản thân tăng lên rất nhiều.

Ngoài ra, các bậc phụ huynh nên kèm cặp các bé mỗi ngày, vì có những từ khó đọc khiến các bé không hiểu và cũng không đọc được. Và có từ phải phân biệt cách đọc bằng cách uốn lưỡi, phụ huynh hãy chú ý với các bé. Vì nếu không phân biệt từ bé sẽ khiến cho các bé bị nói ngọng và sẽ rất khó sửa.

Tải tài liệu miễn phí ở đây

Đôi Điều Chia Sẻ Khi Dạy Và Học Truyện Cổ Tích

Truyện cổ tích chia thành 3 loại là: cổ tích về loại vật, cổ tích sinh hoạt và cổ tích thần kì. Trong đó cổ tích thần kì thể loại mang đầy đủ những đặc trưng của cổ tích đồng thời cũng là loại truyện chiếm số lượng nhiều nhất. Truyện cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước. Đặc trưng quan trọng của cổ tích thần kì là sự tham gia của các yếu tố thần kì vào tiến trình phát triển của câu chuyện (Tiên, Bụt, sự biến hóa thần kì, những vật có phép màu…). Các yếu tố thần kì được sử dụng như sự trợ giúp cho người tốt có được hạnh phúc và kẻ xấu phải chịu sự trừng phạt. Chính yếu tố thần kì tạo nên sự hấp dẫn của thể loại cổ tích, đặc biệt là đối với trẻ thơ.  Đề tựa tập truyện cổ tích “Nghìn lẻ một đêm” nhà xuất bản Viện hàn lâm Nga năm 1929, Macxim Gorki viết: “Công trình đan dệt bằng nghệ thuật ngôn từ này xuất hiện từ thời thượng cổ, những sợi tơ muôn màu của nó lan tỏa khắp bốn phương trời, phủ lên trái đất một tấm thảm ngôn ngữ đẹp lạ lùng.”

Không chỉ là tấm thảm ngôn ngữ đẹp tuyệt vời, cổ tích thần kì còn giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về hiện thực cuộc sống, vẻ đẹp tâm hồn và ước mơ của nhân dân ta trong thời kì xã hội phân chia giai cấp. Từ đó răn dạy chúng ta đạo lí làm người để có thể sống tốt đẹp hơn, nhân ái hơn. 

Hiện thực cuộc sống khổ cực và đầy rẫy những bất công trong cổ tích.

Nhân vật chính của cổ tích là những người lao động nghèo khổ, “thấp cổ bé họng” trong xã hội. Họ luôn bị đẩy vào hoàn cảnh éo le phải chống chọi lại biết bao sóng gió của cuộc đời. Vì điều mà họ bị tước đoạt không chỉ là vật chất hay sức lao động mà là quyền dân chủ. Tấm, Thạch Sanh, Chử Đồng Tử đều bị đẩy vào hoàn cảnh tưởng chừng không lối thoát. Họ đều là những con người bị đè nén, áp bức phải chịu nhiều thua thiệt, oan ức. Đọc truyện cổ tích nếu chưa đến hồi kết thì dễ có cảm giác nghẹt thở nhưng kết thúc truyện bao giờ cũng có hậu.

Đời sống tâm hồn người lao động.

Trước hết đó là vẻ đẹp của một tâm hồn đầy bản lĩnh. Do đâu mà Tấm hồi sinh hết lần này đến lần khác? Do đâu mà Thạch Sanh thoát khỏi được hang sâu? Câu trả lời khá rõ ràng, đó là bản lĩnh sống của người lao động. Tấm hồi sinh hết lần này đến lần khác không phải do Bụt hiện lên giúp đỡ mà do sức sống của chính mình, tự mình hồi sinh để bảo vệ hạnh phúc, chống lại cái ác, giành lấy sự sống. Thạch Sanh thoát khỏi hang sâu, giết đại bàng, cứu công chúa đều ở sức mạnh của chính nghĩa và bản lĩnh của mình. Sọ Dừa thật sự là người có bản lĩnh tuyệt vời khi vượt qua những lời dị nghị về ngoại hình kì dị của mình, tự tin vào những phẩm chất mà mình có để cầu hôn con gái phú ông… Những nhân vật ấy luôn khiến ta cảm động vì họ là biểu tượng cho sức sống kiên cường, dẻo dai của người lao động, chịu đựng mọi va đập của cuộc sống, chống chọi lại thiên tai và nhân họa để tồn tại.

Cổ tích cũng thể hiện vẻ đẹp tâm hồn lạc quan, luôn khát khao mơ ước của người lao động. Hiện thực cuộc sống trong xã hội xưa quá đen tối, nhìn đâu cũng thấy xấu xa. Nhưng người lao động không bi quan mà vẫn luôn ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp: “Nhưng lạ lùng thay nhân dân ta thông minh/ không tự lừa ta dù ca dao cổ tích/ Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật/ Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời/ Dẫu phải khi cay đắng dập vùi/ Rằng cô Tấm vẫn trở thành hoàng hậu/ Cây khế chua có đại bàng đến đậu/ Chim ăn rồi ngon ngọt trả cho ta” (thơ Nguyễn Khoa Điềm). Khao khát và ước mơ đã giúp cho người lao động vượt qua được những bi quan, hướng tới lẽ sống tốt đẹp, cao thượng.

Cổ tích thể hiện tình cảm yêu ghét rõ ràng của nhân dân. Người lao động luôn sống chân thực, thẳng thắn, yêu ghét rõ ràng: yêu người hiền lành lương thiện; ghét kẻ độc ác, tham lam. Nó hướng con người tới cái đẹp, cái thiện, dạy con người biết đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác.

Truyện cổ tích là sản phẩm của trí tưởng tượng nhưng nó bắt rễ sâu xa từ hiện thực đời sống xã hội có giai cấp và từ đời sống tâm hồn của người lao động.

Triết lí “ở hiền gặp lành”.

Triết lí “ở hiền gặp lành” là cốt lõi trong đạo lí làm người của nhân dân lao động. Triết lí này đã đem đến cho người dân tư tưởng lạc quan, yêu đời, ham sống và thương yêu, quý trọng con người. Biểu hiện rõ nhất của triết lí “ở hiền gặp lành” là kết thúc có hậu của các truyện cổ tích. Cô Tấm trở thành hoàng hậu, Thạch Sanh lấy được công chúa và lên làm vua, Chử Đồng Tử kết duyên cùng công chúa và đắc đạo thành tiên, Sọ Dừa lấy được nàng Út và có cuộc sống hạnh phúc, anh Khoai lấy được con gái phú ông, người em trong truyện Cây khế có cuộc sống giàu có sung sướng… Với tinh thần đó, truyện cổ tích đã chiếu rọi ánh sáng vào cuộc sống của con người, đem lại cho họ niềm tin vào một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Tinh thần lạc quan của nhân dân trong truyện cổ tích gắn chặt với niềm tin vào con người, tin vào số mệnh của con người đồng thời dũng cảm nhìn thẳng vào hiện thực dù đó là hiện thực đen tối nhất. Không hiếm truyện cổ tích có kết thúc bi thảm như truyện Sự tích trầu cau, Sự tích đá vọng phu… trong đó nhân vật chính hoặc phải chết, hoặc ra đi biệt tích nhưng không đem lại không khí bi quan mà trái lại càng tăng thêm niềm tin vào phẩm chất cao đẹp của những con người chân chính.

Đạo lí của nhân dân trong cổ tích.

Ước mơ công lí của nhân dân trong truyện cổ tích.

Quan niệm “ở hiền gặp lành”, “ác giả, ác báo” vừa là triết lí sống vừa là đạo lí của nhân dân đồng thời cũng thể hiện ước mơ công lí. Về mặt hình thức của sự việc được phản ánh tuy trùng với thuyết nhân quả của đạo Phật nhưng về nội dung nó có tính nhân dân sâu sắc. Nhân dân hiểu nó theo quan niệm của mình, dù nhất thời “ở hiền chưa gặp lành” và cái ác chưa bị trừng phạt nhưng về lâu dài nhân dân vẫn giữ niềm tin vào chân lí đó.

Nhân vật chính trong truyện cổ tích luôn làm đúng bổn phận, đạo lí nhưng họ càng làm đúng bổn phận bao nhiêu thì càng phải chịu thiệt thòi oan ức bấy nhiêu: Tấm ngoan hiền chịu thương chịu khó nhưng lại bị tước đoạt hầu như tất cả những mình có, từ mảnh yếm đào, cá bống rồi đến cả hạnh phúc và tính mạng của cô; người em trong Cây khế bị anh chiếm đoạt hết tài sản chỉ được chia một cái cối đá và một cây khế chua vô giá trị; Thạch Sanh bị Lí Thông lừa gạt đi canh miếu, bị cướp công đẩy xuống hang sâu; anh Khoai trong Cây tre trăm đốt bị phú ông lừa phải đi làm không công suốt mấy năm trời… Bởi vì những kẻ bề trên trong xã hội luôn dựa vào đạo lí để khống chế kẻ bề dưới nhưng lại không bao giờ tôn trọng đạo lí. Trên thực tế cô Tấm không bao giờ có cơ hội để trở thành hoàng hậu, Thạch Sanh bị chết dưới hang sâu, anh Khoai phải chấp nhận người giàu có hơn cưới con gái phú ông còn mình chịu cảnh cô đơn suốt cuộc đời,… Nhưng nhân dân không chấp nhận hiện thực đen tối đó. Họ đã “chữa lại hiện thực” để nuôi giấc mơ về công bằng trong cuộc sống. Để làm được điều này, tác giả dân gian đã phải huy động đến trí tưởng tượng, sáng tạo ra những yếu tố hoang đường kì ảo như Bụt, Tiên, Phật… để “thưởng thiện phạt ác” và trợ giúp cho người lương thiện.

Trong nhiều truyện cổ tích, nhân vật chính trở thành vua, hoàng hậu vì theo quan niệm của dân gian vua là tượng trưng cho công bằng, lẽ phải, cũng là đỉnh cao mơ ước của mọi người. Trên thực tế, điều đó không bao giờ xảy ra vì nó đi ngược lại với trật tự của xã hội phong kiến. Nhân dân rất hiểu quy luật “Con vua thì lại làm vua/ Con sãi ở chùa lại quét lá đa” nhưng vẫn để cho Thạch Sanh làm vua và cô Tấm làm hoàng hậu vì nó phản ánh ước mơ của nhân dân về một xã hội tốt đẹp, xã hội ấy phải có những con người như Tấm, Thạch Sanh, Mai An Tiêm, Chử Đồng Tử đứng đầu.

Tác giả: Dương Khánh Toàn/THPT Quang Hà

Bạn đang đọc nội dung bài viết Dạy Học Sinh Lớp 4 Ngắt Giọng Trong Khi Đọc Như Thế Nàò? trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!