Đề Xuất 2/2023 # Cuộc Đấu Tranh Của Người Nông Dân Trong Truyện Cổ Tích # Top 6 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Cuộc Đấu Tranh Của Người Nông Dân Trong Truyện Cổ Tích # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cuộc Đấu Tranh Của Người Nông Dân Trong Truyện Cổ Tích mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(Nghiên cứu so sánh Truyện Bác nông dân và con quỷ – Đức và Trí khôn của ta đây – Việt Nam)

Truyện cổ tích nói riêng, văn học dân gian nói chung, là tiếng nói của tập thể nhân dân lao động. Qua các câu truyện cổ tích, những nét văn hóa trong quá khứ của dân tộc được phản chiếu phong phú, sinh động. Đến với truyện cổ tích, ở mỗi lứa tuổi khác nhau, mỗi trình độ tiếp nhận khác nhau, người đọc đều có thể tìm thấy những nét lí thú, những khám phá mới mẻ từ trong các câu truyện xưa cũ, quen thuộc.

Trong các câu truyện cổ tích của các dân tộc trên thế giới, ta đều thấy những kết thúc có hậu, những công thức quen thuộc và giống nhau đến kì lạ. Quen thuộc đến mức chỉ cần đọc đoạn đầu của truyện là ta có thể biết được truyện sẽ kết thúc thế nào. Giống nhau đến mức nhàm chán và dễ nhầm lẫn từ truyện này sang truyện khác. Vậy đâu là sự khác biệt trong những câu truyện rất giống nhau này? Sự khác biệt đó liệu có ý nghĩa gì không?

Đề tài Cuộc đấu tranh của người nông dân trong truyện cổ tích (Nghiên cứu so sánh Truyện Bác nông dân và con quỷ – Đức và Trí khôn của ta đây – Việt Nam) nhằm tìm hiểu những điểm tương đồng và dị biệt trong hai truyện cổ tích giống nhau của hai dân tộc ở cách xa nhau. Từ đó, ta có thể hiểu thêm về những nét văn hóa đặc trưng của hai dân tộc này.

Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học coi truyện cổ tích là kho tư liệu vô giá. Ngành dân tộc học có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng truyện cổ tích với tư cách là tư liệu khảo sát như Văn hóa nguyên thủy (E.B.Tylor), Cành vàng (James George Frazer).

Tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào so sánh cấu trúc, chức năng hai tác phẩm cụ thể.

 Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Cuộc đấu tranh của người nông dân trong truyện cổ tích (Nghiên cứu so sánh Truyện Bác nông dân và con quỷ – Đức và Trí khôn của ta đây – Việt Nam). 

Với đề tài này, chúng tôi xin giới hạn trong hệ tọa độ sau:

Chủ thể: văn hóa dân tộc

Không gian: Đức và Việt Nam

Thời gian: thời kì truyện cổ tích ra đời

Tư liệu khảo sát của đề tài này giới hạn trong truyện Bác nông dân và con quỷ (Đức) và Trí khôn của ta đây (Việt Nam).

Thông qua đề tài Cuộc đấu tranh của người nông dân trong truyện cổ tích (Nghiên cứu so sánh Truyện Bác nông dân và con quỷ –  Đức và Trí khôn của ta đây – Việt Nam), chúng tôi mong muốn được góp thêm tư liệu, phương pháp tìm hiểu văn hóa dân tộc qua so sánh cấu trúc, chức năng nhân vật trong truyện cổ tích.

Trong công trình này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu hệ thống, cấu trúc, chức năng. Công trình được tiếp cận theo hướng nghiên cứu văn học – văn hóa nên chúng tôi vận dụng những thành tựu nghiên cứu trong văn học, cụ thể là văn học dân gian.

Bên cạnh đó, để làm rõ sự khác biệt trong văn hóa của hai dân tộc Đức, Việt, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh.

Đề tài này gồm hai chương:

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Chương 2: BÁC NÔNG DÂN VÀ CON QUỶ và TRÍ KHÔN CỦA TA ĐÂY

Truyện cổ tích, trước hết, là một thể loại văn học dân gian. Đó là sáng tác của tập thể nhân dân lao động, được truyền từ đời này sang đời khác bằng phương thức truyền miệng. Theo định nghĩa của sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 (nâng cao), tập 1, truyện cổ tích là thể loại tự sự bằng văn xuôi, thường kể về số phận của các kiểu nhân vật: người mồ côi, người em, người lao động giỏi, người dũng sĩ, người thông minh, chàng ngốc,… qua đó thể hiện quan niệm đạo đức, lí tưởng và mơ ước của nhân dân về hạnh phúc và công lí xã hội [Bộ giáo dục và Đào tạo  2008 Ngữ văn 10 (nâng cao), tập 1: 26].

Theo Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, truyện cổ tích ra đời muộn hơn thần thoại, sử thi dân gian và truyền thuyết. Nếu như thần thoại, sử thi dân gian ra đời từ thời công xã nguyên thủy thì truyện cổ tích phần lớn xuất hiện khi công xã thị tộc tan rã và được thay thế bằng gia đình riêng lẻ, khi xã hội có phân chia giai cấp [Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên 1977 Lịch sử văn học Việt Nam – Văn học dân gian, tập 2: 87]. Như vậy, các cuộc đấu tranh xã hội được phản ánh trong truyện cổ tích đa số là cuộc đấu tranh giai cấp. Ở đó, lực lượng chính là nông dân, người lao động.

Trong các thể loại tự sự dân gian như thần thoại, sử thi dân gian, truyền thuyết, truyện cười, truyện ngụ ngôn,… truyện cổ tích chiếm tỉ lệ lớn và là bộ phận quan trọng nhất. Theo Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, truyện cổ tích phản ánh đời sống nhân dân, đồng thời phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân. Truyện cổ tích phản ánh hiện thực, đồng thời phản ánh nguyện vọng cải tạo hiện thực ấy. Truyện cổ tích tố cáo những sự bất công của chế độ phong kiến, đồng thời cổ vũ nhân dân đấu tranh cho một xã hội công bằng và nhân đạo hơn [Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên 1977 Lịch sử văn học Việt Nam – Văn học dân gian, tập 2: 142].

Tìm hiểu kho tàng truyện cổ tích các dân tộc trên thế giới, ta thấy sự quan tâm của mỗi dân tộc đối với các sự vật, hiện tượng, tuy có nhiều nét tương đồng, nhưng không hoàn toàn giống nhau. Bên cạnh đó, mỗi dân tộc đều có cách cảm, cách kể câu chuyện của riêng của mình. Như vậy, tìm hiểu truyện cổ tích, ta không chỉ hiểu được đời sống của nhân dân lao động trong quá khứ mà còn có thể hiểu được những nét văn hóa tinh thần đặc trưng của từng dân tộc ở thời kì xa xưa.

Truyện cổ Grimm là một công trình nghiên cứu và sưu tập truyện cổ dân gian Đức của hai anh em nhà ngôn ngữ học người Đức Jacob và Wilhem Grimm. Đầu tiên, tập truyện cổ dân gian Đức của anh em Grimm được xuất bản dưới tên Truyện kể cho trẻ nhỏ và trong nhà. Chưa bằng lòng với những gì đã làm được, anh em nhà Grimm tiếp tục miệt mài làm việc và đã làm giàu có thêm công trình sưu tầm của mình. Trong lần công bố cuối cùng, tập truyện văn học dân gian Đức của anh em nhà Grimm đã tập hợp được 216 tác phẩm[1].

Năm 2005, UNESCO chính thức công nhận những câu chuyện cổ tích quen thuộc với hầu hết mọi người trên thế giới trong tập truyện của anh em nhà Grimm là di sản văn hoá thế giới.  UNESCO cũng nhận định các câu chuyện cổ Grimm phần lớn chịu ảnh hưởng của nhà văn Pháp Charles Perrault và tập truyện Ngàn lẻ một đêm.[2]

Qua tập truyện của Grimm, ta thấy được khát vọng của nhân dân lao động lao động Đức về cuộc sống ấm no hạnh phúc, về sự công bằng, sự chiến thắng của cái thiện, cái tốt. Điểm đóng góp quan trọng của anh em Grimm trong công trình sưu tập này là họ đã cố gắng giữ nguyên chất dân gian trong từng tác phẩm.

Bác nông dân và con quỷ là một truyện cổ tích rất quen thuộc trong Truyện cổ Grimm. Truyện kể về cuộc đấu tranh của người lao động chống lại các thế lực xấu. Trong truyện, đại diện cho người lao động là nhân vật bác nông dân và nhân vật con quỷ lùn đen sì đại diện cho thế lực xấu xa. Bằng trí tuệ và cách ứng xử linh hoạt, cuối cùng bác nông dân đã chiến thắng con quỷ lùn và  có thêm nhiều của cải.

Truyện cổ tích Việt Nam được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ vùng này sang vùng khác chủ yếu bằng phương thức truyền miệng. Trong quá trình truyền khẩu qua không gian và thời gian như vậy, một truyện có nhiều dị bản, nhiều cách kể khác nhau. Ở các dị bản, có những  tình tiết mới được bổ sung, có những tình tiết được lược bỏ bớt. Quá trình bổ sung và lược bớt như vậy thể hiện cách cảm, cách nghĩ của dân tộc trong những thời đại nhất định. Nguồn gốc chính của truyện cổ tích Việt Nam là cuộc sống xã hội Việt Nam ngày xưa [Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên 1977 Lịch sử văn học Việt Nam – Văn học dân gian, tập 2: 98].

Truyện cổ tích Việt Nam được Nguyễn Đổng Chi sưu tầm và tập hợp trong công trình Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Công trình này tập hợp gần 150 truyện cổ tích của dân tộc Kinh (Việt Nam)[3]. Truyện dân gian Việt Nam có nhiều dị bản nên việc tập hợp, cố định hóa chúng là một điều không đơn giản. Trong công trình sưu tập của mình, Nguyễn Đổng Chi đã chọn lọc và đưa vào những bản kể phổ biến, quen thuộc trong dân gian. Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian đã dựa vào Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi để làm tài liệu khảo sát cho công trình khoa học của mình.

Trí khôn của ta đây là một truyện có dung lượng nhỏ, cốt truyện đơn giản, được lưu truyền phổ biến, rộng rãi.Truyện kể về cuộc đấu tranh của người lao động chống lại thế lực xấu trong xã hội. Trong truyện, đại diện cho người lao động là nhân vật người nông dân và nhân vật Cọp đại diện cho thế lực xấu xa. Bằng trí tuệ của mình, người nông dân đã khiến Cọp sợ hãi, chạy trốn vào rừng sâu. Truyện được kể dưới hình thức giải thích đặc điểm đặc biệt của các con vật (răng hàm trên của con trâu và bộ lông vằn của con cọp).

Cả truyện Bác nông dân và con quỷ và Trí khôn của ta đây đều kể về cuộc đấu tranh của người nông dân chống lại các thế lực xấu trong xã hội. Tuy ở trong trong hai không gian xa cách nhau và hoàn toàn không có sự giao lưu văn hóa trong quá khứ nhưng truyện Bác nông dân và con quỷ và Trí khôn của ta đây có nhiều chi tiết giống nhau đến kì lạ. Trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch, người nông dân của cả hai dân tộc đều thắng kẻ mạnh hơn mình. Họ thắng đối phương chính bằng trí thông minh của bản thân. Với chiến thắng đó, những người nông dân khôn ngoan đã khiến kẻ thù không bao giờ còn dám trở lại quấy phá họ.

Kết thúc cả hai câu chuyện, chiến thắng thuộc về người nông dân. Đó là sự chiến thắng của người lao động, của cái thiện. Truyện là những khúc ca ca ngợi vẻ đẹp, sức mạnh trí tuệ của nhân dân lao động và bộc lộ ước mơ của dân gian về công bằng xã hội, cái thiện sẽ chiến thắng cái ác, cái xấu.

Truyện cổ tích thường có dung lượng ngắn, ít nhân vật. Truyện Bác nông dân và con quỷ có hai nhân vật, gồm người nông dân và con quỷ. Truyện Trí khôn của ta đây nhiều hơn một chút, có ba nhân vật, gồm anh nông dân, Trâu và Cọp. Tất cả các nhân vật trong hai truyện đều không có tên riêng. Các nhân vật đó chỉ được gọi tên một cách khái quát, mang tính đại diện. Đây là chính là đặc trưng của thể loại truyện cổ tích. Trong truyện cổ tích cũng như trong mọi sáng tác dân gian, người ta thường miêu tả những hạng người nói chung, mà không chú ý miêu tả những con người nói riêng [Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên 1977 Lịch sử văn học Việt Nam – Văn học dân gian,  tập 2: 153].

Cũng như các thể loại tự sự dân gian khác, cả truyện Bác nông dân và con quỷ và Trí khôn của ta đây đều có hai tuyến nhân vật đối lập với nhau. Tuyến thứ nhất là nhân vật chính trong câu chuyện. Đó là những người nông dân cần cù lao động, đại diện cho cái thiện. Tuyến thứ hai là những nhân vật phản diện (con quỷ, Cọp), tấn công tuyến nhân vật thứ nhất. Nhân vật tuyến thứ hai tượng trưng cho cái ác, theo quan niệm dân gian. Như vậy, cuộc đấu tranh trong cả hai truyện Bác nông dân và con quỷ và Trí khôn của ta đây là cuộc đấu tranh giữa người lao động và các thế lực thù địch, là cuộc chiến giữa thiện và ác.

Ngoài hai tuyến nhân vật trung tâm, trong truyện Trí khôn của ta đây còn có nhân vật Trâu. Trong cuộc chiến đấu giữa hai tuyến nhân vật thiện – ác của câu chuyện, Trâu gần như không có vai trò gì. Vì thế, tôi xếp nhân vật con trâu vào vị trí trung gian, là nhân vật phụ của tác phẩm.

Lửa là một khám phá quan trọng của loài người. Trong nhiều câu chuyện thần thoại thuở sơ khai, lửa và thần Lửa đóng vai trò trung tâm, có sức mạnh huyền bí, vạn năng. Đến những giai đoạn phát triển sau của xã hội loài người, trong truyện cổ tích, biểu tượng lửa đã có phần mờ nhạt, nhường vị trí trung tâm truyện cho cuộc đấu tranh giữa con người và con người. Trong cả hai câu chuyện cổ tích chúng ta đang khảo sát đều có sự hiện diện của lửa. Đó là những chi tiết rất nhỏ, hầu như không ảnh hưởng đến cốt truyện và diễn tiến câu chuyện. Tuy nhiên, từ biểu tượng lửa được miêu tả trong hai tác phẩm, ta có thể thấy nhiều sự khác biệt trong cảm thức của hai dân tộc.

Trong Bác nông dân và con quỷ, khi đang sửa soạn về nhà, bác nông dân nhìn thấy con quỷ đang ngồi trên đống than hồng. Bác hỏi mày ngồi trên đống của đấy à. Đáp lại lời bác nông dân, con quỷ khẳng định Đúng rồi, ngồi trên đống của, chú mày suốt đời chưa thấy nhiều vàng bạc đến thế đâu! Như vậy, trong câu truyện của người Đức, ngọn lửa được tạo nên từ than. Và lửa đồng nghĩa với của cải, rất nhiều của cải.

Đến Trí khôn của ta đây, lửa xuất hiện trong tình huống hoàn toàn khác. Sau khi lừa trói được Cọp vào một gốc cây, người nông dân lấy rơm chất chung quanh Cọp, châm lửa đốt. Từ đấy trở đi, trên mình mỗi con cọp được sinh ra đều có những vằn đen dài, vốn là dấu tích những vết cháy. Đối với dân tộc Việt, rơm là vật liệu quen thuộc để duy trì ngọn lửa. Người Việt không đề cập đến giá trị của lửa như người Đức – của cải – mà đề cập đến sức mạnh của lửa. Với sức mạnh to lớn, ngọn lửa đã in dấu vết của mình trên bộ lông tất cả các cọp ra đời sau đó.

Từ đó, ta thấy nhận sự khác biệt rất lớn trong nhận thức về lửa của mỗi dân tộc. Người Đức đánh giá lửa qua giá trị kinh tế (của cải) mà lửa mang lại cho con người. Lửa được sinh từ than, và người Đức xem đó là một tiền đề vật chất trong quá trình tạo ra của cải vật chất. Đó là cách nhìn mang tính khách quan, thực tiễn. Qua Bác nông dân và con quỷ, ta thấy từ thời xa xưa – thời đại của các câu chuyện cổ tích – người Đức đã đặt nhiều sự quan tâm vào tài sản. Với người Việt, lửa giúp diệt trừ cái xấu, cái ác và vẫn mang một sức mạnh siêu nhiên, thần thánh. Lửa trong câu chuyện của người Việt vẫn mang nặng ý nghĩa tâm linh, trừu tượng, khái quát.

Truyện của anh em Grimm kể rằng khi nhìn thấy một đống than hồng trên mảnh ruộng của mình, người nông dân lấy làm lạ đến gần. Nhìn thấy con quỷ ngồi trên đống lửa, người nông dân hỏi và khẳng định quyền sở hữu của mình Của cải trên đất của ta là thuộc về ta. Như vậy, hướng tấn công trực tiếp được phát ra từ người nông dân. Nói cách khác, trong cuộc chiến với kẻ xấu, người nông dân giữ vai trò chủ động. Mục đích của cuộc chiến, ngay từ đầu, là xác định quyền sở hữu đối với của cải, tài sản.

Trong Trí khôn của ta đây, dân tộc Việt kể rằng Cọp, vì tò mò muốn biết trí khôn là gì, đã thong thả bước lại chỗ anh nông dân và hỏi: Trí khôn của anh đâu, cho tôi xem một tí có được không? Tới đây, ta thấy có sự khác biệt cơ bản trong cách kể của người Đức và người Việt. Người nông dân trong truyện cổ tích Việt Nam ở vào thế bị động khi Cọp đến gần. Họ là đối tượng bị tấn công. Cọp tấn công vì tò mò và muốn tìm hiểu trí khôn của con người là gì mà có thể sai khiến được con vật to lớn, khỏe mạnh như Trâu. Theo nghĩa hiển ngôn, ta thấy mục đích này là vì tò mò. Đó là một mục đích không dẫn đến một hiệu quả vật chất nào. Tấn công để biết – người Việt đặt tiêu cự quan tâm của mình vào tri thức, vào việc mở mang kiến thức cuộc sống, xã hội. Trong hành động tấn công của Cọp, ta thấy một tiền đề đã được xác định: người nông dân có trí khôn vượt trội, khiến các loài khác, hoặc phải khuất phục, hoặc phải nể phục. Sự khác biệt trong hướng tấn công và mục đích tấn công trong hai truyện cổ tích cho ta thấy được vị thế xã hội thấp kém của người nông dân Việt, họ phải chịu sự đe dọa của các thế lực xấu trong xã hội. Tuy thế, họ không hề nao núng, sợ hãi, vì họ đã có một vũ khí quan trọng, mạnh mẽ – trí khôn. Và họ tự hào về điều đó.

Cuộc chiến giữa người nông dân và con quỷ trong truyện cổ tích Đức trải qua hai vòng đấu trí. Như vậy, so với Trí khôn của ta đây, cuộc chiến đấu của người nông dân trong Bác nông dân và con quỷ có phần gay cấn, quyết liệt hơn.

Ở vòng đầu tiên, người nông dân chủ động đưa yêu cầu Để sau này chia nhau khỏi lôi thôi, mày sẽ lấy cái gì mọc ở trên mặt đất, tao sẽ lấy cái gì mọc ở dưới. Thua đau ở vòng một, đến vòng hai, con quỷ giành quyền đưa ra quy tắc của cuộc đấu Cái gì mọc trên mặt đất thì chú mày lấy, còn ta sẽ lấy cái gì mọc ở dưới. Ta thấy cả hai vòng đấu đều có quy tắc ngắn gọn nhưng hết sức rõ ràng, cụ thể. Và cả hai bên tham gia cuộc chiến đều nghiêm túc tuân thủ quy tắc này. Thời gian của cuộc chiến được xác định chính xác (một vụ mùa). Vòng thứ nhất bắt đầu khi người nông dân trồng củ cải và kết thúc khi củ cải được thu hoạch. Tương tự như vậy, vòng hai được đánh dấu bằng vụ trồng lúa.

Trong Trí khôn của ta đây, không có một quy tắc hay gợi ý về quy tắc nào được đưa ra. Thời gian xác định cuộc chiến cũng không được thể hiện rõ ràng. Bằng chứng là khi người nông dân bảo Cọp đứng vào chỗ gốc cây để anh ta buộc lại thì cuộc chiến đã bắt đầu. Nhưng Cọp không hề hay biết và để yên cho anh nông dân trói mình thật chặt.

Qua những khác biệt đó, ta thấy truyện của người Đức mang lối tư duy phân tích, coi trọng sự cụ thể, chính xác. Truyện của người Việt mang đặc điểm của lối tư duy trừu tượng, khái quát. Đó là sản phẩm của nền văn hóa gốc du mục (Đức) và nền văn hóa gốc nông nghiệp (Việt), theo Trần Ngọc Thêm.

Kết thúc cuộc chiến, người nông dân trong Bác nông dân và con quỷ thu về toàn bộ sản phẩm của hai vụ mùa và của cải của quỷ. Thêm vào đó, bác còn đuổi được con quỷ xuống vực sâu, khiến nó không còn dám bén mảng lại nữa. Còn thắng lợi của người nông dân trong Trí khôn của ta đây là đuổi được Cọp vào rừng và để lại dấu ấn sức mạnh không bao giờ phai nhòa trên bộ lông Cọp.

Kết quả của cuộc chiến là ước mơ chiến thắng cái ác, kẻ xấu sẽ vĩnh viễn bị loại trừ của người lao động cả hai dân tộc. Nhưng kết quả đó lại một lần nữa khắc họa sự khác biệt trong ước mong về cuộc sống của hai dân tộc. Người Đức khát khao thu về trọn vẹn sản phẩm từ công sức lao động của mình, tài sản gia tăng. Đó là mong muốn mang tính kinh tế, cụ thể. Điều này không được đề cập đến trong câu truyện của người Việt. Có lẽ, trong cuộc sống, người Việt còn nhiều điều khác đáng quan tâm hơn hiệu quả kinh tế của công việc và tài sản cá nhân.

Trong truyện Bác nông dân và con quỷ, con quỷ xuất hiện trên mảnh ruộng của người nông dân, ngồi trên đống than – đống của. Con quỷ đó đòi lấy sản phẩm từ vụ mùa của người nông dân. Để thắng được con quỷ, người nông dân đã chọn gieo những loạt cây khác nhau (củ cải, lúa), tùy theo điều kiện đã thỏa thuận trước. Khi chiến thắng con quỷ, người nông dân có được toàn bộ sản phẩm từ công việc đồng áng của mình. Người Pháp cũng kể câu chuyện Bác nông dân và con quỷ với nội dung gần như trùng lắp với câu chuyện của người Đức. Chỉ có hai điểm khác biệt nhỏ trong truyện của người Đức và truyện của người Pháp. Điều khác biệt thứ nhất là trong truyện của người Pháp, cuộc đấu trí giữa người nông dân và con quỷ trải qua ba vòng. Điều khác biệt thứ hai là con quỷ giúp người nông dân có được những vụ mùa bội thu. Soi chiếu những chức năng của nhân vật con quỷ trong cả hai câu chuyện này, ta thấy nhân vật con quỷ đại diện cho những bất lợi về thời tiết mà người nông dân phải đối phó. Trong nghề nông, đối phó với thời tiết bất lợi là việc thường xuyên, liên tục. Trừ thiên tai, những bất lợi thường ngày của thời tiết không thể làm khó người nông dân – những người đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong việc ứng phó này. Có lẽ vì thế mà khi chiến thắng thời tiết, người nông dân Đức thể hiện thái độ bình thản, đầy tự tin Ấy đối với cáo già thì phải cho một vố như thế. Qua cách hình tượng hóa những bất lợi của thiên nhiên thành nhân vật con quỷ lùn – nhỏ bé – ta thấy người nông dân phương Tây rất tự tin vào sức mạnh trí tuệ của bản thân. Đó là những con người nhìn thiên nhiên với tư thế của kẻ trên, lớn hơn, mạnh hơn.

Truyện Bác nông dân và con quỷ (Đức) và Trí khôn của ta đây (Việt Nam) là hai câu truyện có nội dung, kết cấu tương đồng. Nhưng đó là những tác phẩm được sinh ra từ hai “nguồn phát” hoàn toàn khác nhau. Sự giống nhau giữa hai câu chuyện cho ta thấy tất cả mọi người trên thế giới đều có chung một niềm tin, một mơ ước. Qua phân tích những yếu tố ẩn của truyện (chức năng, hệ thống cấu trúc), ta thấy sự khác biệt trong nhận thức về bản thân, về quá trình lao động, về thế giới xung quanh của người nông dân Đức và Việt. Truyện Bác nông dân và con quỷ của người Đức phản ánh sự đấu tranh của giữa người lao động và thiên nhiên. Truyện Trí khôn của ta đây của người Việt lại là cuộc đấu tranh giữa người lao động chống lại giai cấp thống trị trong xã hội đương thời.

[1] http://thuvien24.com/thu-vien-truyen/truyen-co-tich-thieu-nhi/818-truyen-co-grim-anh-em-nha-grim.html

[2] http://vietbao.vn/Van-hoa/Truyen-co-Grim-duoc-cong-nhan-la-di-san-the-gioi/70015570/181/

[3] Số lượng thống kê dựa vào Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, 5 tập . – nhà xuất bản Trẻ tái bản lần 2, 2010

Thơ Về Người Nông Dân – Tổng Hợp Thơ Hay Về Người Nông Dân Và Nỗi Lòng Của Họ

Người nông dân

Người nông dân, cái tên quá quen thuộc với chúng, tuy họ là người dãi nắng dầm mưa và phần lớn là trên ruộng đồng, đất rẫy. Sẽ không được sạch sẽ thơm tho, nhưng với tôi họ là những con người để lại tiếng vang lớn nhất trong lòng mỗi chúng ta, sự cần cù và chịu khó khiến cho những đôi chân, đôi tay lắm bùn đất này trở nên sạch sẽ và óng ánh hơn bao giờ hết.

Thương Người Nông Dân – Tác Giả: Hà Hương

Kiếp sau nếu có làm người Xin chọn nghề khác chứ đừng làm nông Cái nghề một nắng hai sương Làm ăn không đủ lấy gì nuôi con

Vậy mà còn bị kiểm lâm Đi vô nhổ hết còn gì đau hơn Xót xa lòng tái tê lòng Hỏi ông trời có thương dùm cho con

Không làm thì biết làm gì Nghề thì không có vốn thì cũng không Chẳng biết mẹ nó dạy gì Không làm việt tốt, mà đi phá người

Phá mì là của nông dân Mà nó kéo tới ,tới năm mươi thằng Nó phá rồi nó chặt điều Ôi đau xót quá ôi người nông dân

Nỗi Lòng Của Nông Dân – Tác Giả: Bong Bóng Biển

Bao người hiểu được cái nghề nông Cực khổ quanh năm chốn ruộng đồng Sáng thuốc chiều phân ê ẫm cẳng Be bờ đấp đập…rã rời hông Êm mùa chú bác lòng vui vẻ Thất vụ bà con nợ chất chồng Cứ mãi rầu lo…hằng nét mặt Bao người hiểu được cái nghề nông

Tuyển Chọn Các Bài Thơ Về Nông Dân Hay Nhất

Lão Nông Thích Làm Thơ – Tác Giả: Đặng Hùng

Nông dân chính hiệu”Con nai vàng”!? Cuộc sống còn nghèo… Chẳng giàu sang?! Văn chương, chữ nghĩa… Thì “kém cỏi”!? Nên”Nàng thơ”! Lam lũ… Chẳng gọn gàng!?

Thất ngôn bát cú… chỉ “tàm tạm”!? Lục bát chưa hay… loại”loàng xoàng”…!? Thơ vui, hài hước… Cười là chính!? Nếu có châm biếm cũng… nhẹ nhàng!?

Thấy cảnh khó nhìn… ưa phê phán..!? Nghe tin sai trái… thích luận bàn!? *** Mọi người có thương… thì chia sẻ… Xin đừng ném đá… Thơ… nát tan…?!?!

Người Nông Dân Dạy Con – Tác Giả: Huỳnh Thanh An

Nhắn gửi con hiền trí mẫn khai Ngoan nghe tía° dạy ít lời này Thương dân học hỏi gầy nguồn tốt Mến nước tìm tòi dựng lực hay Mốt nọ nguy thời canh biển Bắc Mai chiều biến thế giữ trời Tây Tiền nhân bản lĩnh muôn đời vậy Diệt hết thằng gian đuổi giặc bầy

Anh Nông Dân Và Cái Lò Tôn Cũ – Tác Giả: Đặng Hùng

Có cái lò tôn, ở cuối làng… Không người coi giữ đã bỏ hoang… Nắng mưa sương gió,rong rêu phủ…!? Tôn thì đã cũ,lò hở hang.. Có bác nông phu ghé qua làng… Thấy lò tôn cũ, lòng xốn xang..? Ngày đêm tu bổ và chăm sóc… Giờ cái lò kia , mới đàng hoàng….!?!?

Người Nông Dân Việt Nam – Tác Giả: Thanh Huynh

Muôn đời rồi, và muôn đời tiếp nối Vẫn thấy người nông dân, sớm tối trên đồng Vẫn cô em.. má đỏ.. môi hồng Cười khúc khích, mồ hôi nồng hương đất

Vẫn chàng trai,. cần cù.. chân chất Bao bão giông ;không để đánh mất mình Sống chứa chan ; trọn nghĩa, vẹn tình Luôn gắn bó,. bên hình cây lúa…

Dù hạn hán: đồng khô.. cỏ úa Dù gió mưa ; khoai – lúa rập vùi Người nông dân, lòng có ngậm ngùi Nhưng vẫn sống ;quyết không lùi bước

Noi gương sáng: Cha ông ta ngày trước Hăng hái cầy bừa ;vững bước tiến xa Ôi : tự hào dòng máu Việt nam ta Con cháu Lạc hồng sinh ra chói lọi

Sẵn sàng chết: khi Quê hương kêu gọi Sẵn sàng đi đến: mọi chốn gian lao Dù đói khổ; vẫn giữ nét thanh cao Dù sóng gió; vẫn bao dung độ lượng

Người nông dân đã tạc thành pho tượng : TRÍ TUÊ -CẦN CÙ -CAO THƯỢNG THỦY CHUNG Sống hết mình ;sống tự tại ung Vui vẻ sống trong khung trời đổi mới..

Ơn Đảng Bác; dân làm ăn tấn tới Cuộc sống đủ đầy; phơi phới đi lên Ấm no rồi; ta nhớ chớ có quên Cần cù lao động, mới nên con người, /,

Anh Nông Dân Tỏ Tình – Tác Giả: Nguyễn Văn Ngữ

Đêm mơ, ra phố chiều mưa Em là cô bé chỉ vừa đôi mươi Gặp em, anh mến nụ cười Bé ơi ! anh hỏi – có người thương chưa ?

Bé rằng: lắm kẻ đón đưa Người thương, kẻ nhớ, sớm trưa đưa về. Anh là người ở thôn quê Lâu lâu ra phố, bộn bề việc nông

Cày sâu, cuốc bẩm, gieo trồng Trồng rau, tỉa đậu , vun giồng khoai lang Ruộng nương cho đến việc làng Anh làm giỏi tất, trời ban ấy mà

Mấy khi anh được đi xa Phố đông, người chật vậy mà không vui Bỗng nhiên anh thấy bé cười Hồn nhiên, e thẹn , sáng tươi cuộc đời

Bé ơi, anh nhắn đôi lời Ngày mai bé rảnh anh mời cà phê Giấc nồng trong mộng đê mê Nắm bàn tay bé, vụng về nụ hôn

Xa xa gà gáy vang dồn Tình đà tan biến lệ còn rưng rưng

Nỗi Khổ Người Nông Dân – Tác Giả: Nguyễn Tất Thắng

Lâu lắm mới có một lần Bão về trên đất tây nguyên gầm gào Bao nhiêu mầm sống dâng trào Tan trong sức gió ào ào bão ơi…..!

Thế là hết bao niềm mơ ước Sau bão là một đống tan hoang Nông dân trông giấc mơ vàng Giờ đây còn lại muôn vàn sầu bi

Bàn tay trắng lại về tay trắng Hỏi trời nào thấu nỗi khổ đây Đất kia muôn thủa vẫn dày Mồ hôi nước mắt nghẹn đầy trong tim…

Quanh năm khó muốn tìm lối thoát Đã bao lần nuốt mặn mồ hôi Bao phen nắng cháy mưa trôi Đầu trần chân đất giữa trời xông pha

Nhiều gian khó dẫu rằng vẫn biết Gian khổ nhiều vốn thiệt nông dân Bây giờ bão phá như xong….. Bao nhiêu mơ ước thời không còn gì

Nợ chồng chất,ngân hàng đến cữ…. Con ì èo đóng học bố ơi Tiền điện hết tháng tới rồi Mẹ ơi hết gạo mấy hôm rồi này…..!

Thế là hết chẳng còn chi nữa Ông trời ơi ông ác lắm thay Chắp tay tôi lạy trời dày Sao nông dân khổ thế này…. trời ơi.

Chỉ có vỏn vẹn 10 bài thơ về nghề nông dân thôi, nhưng bấy nhiêu cũng đủ giúp mọi người ai cũng sẽ được trải lòng mình qua từng cảm xúc khác nhau.

Truyện Cổ Tích Trong Văn Học Dân Gian

Trước cách mạng Tháng Tám, ở nước ta, tên gọi cổ tích, hay truyện cổ, hay truyện đời xưa được sử dụng để gọi chung cho các thể loại truyện kể dân gian, bao gồm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn và truyện cười. Về sau, khi công tác nghiên cứu văn học dân gian phát triển, truyện cổ được phân chia thành các thể loại truyện kể dân gian. Tuy nhiên, do bản chất nguyên hợp của văn học dân gian mà việc phân loại đã gặp nhiều khó khăn, ngày nay vẫn chưa thể đi đến thống nhất.

Trong khối truyện kể dân gian người Việt, cổ tích chiếm dung lượng trội hơn nhiều so với các thể loại khác. Một phần vì đặc trưng lịch sử, một phần vì đặc trưng xã hội và tính cách dân tộc mà cổ tích được lưu giữ hiệu quả hơn trong kho tàng truyện cổ người Việt.

Có thể hiểu cổ tích là “một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia đình phụ quyền), có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt”1.

Mặc dù xuất phát từ thần thoại và thời kì thần thoại, song cổ tích không vì thế mà không thể thoát khỏi cái bóng lớn của thần thoại. Nếu “nhân vật thần thoại thường có ý nghĩa tượng trưng và thể hiện những nỗi gian khổ chung, những niềm hoan lạc chung, những lo âu chung và những ước mơ chung của thị tộc, bộ lạc” thì “truyện cổ tích xuất hiện phần lớn khi công xã thị tan rã và được thay thế bằng gia đình riêng lẻ”; nếu thần thoại có sự gắn kết gần gũi với tôn giáo nguyên thủy và thể hiện tinh thần tự do, ý thức dân chủ của con người khi xã hội chưa phân chia giai cấp thì cổ tích lại phản ánh tình trạng đấu tranh xã hội và thể hiện ý thức hệ của thời đại; nếu thần thoại xây dựng vẻ đẹp kì vĩ, hùng tráng, mĩ lệ, mang tầm vóc của toàn thể bộ lạc thì cổ tích lại hướng về những số phận, những ước mơ cải mệnh của con người trong cái hạn hữu chật hẹp của xã hội.

Trong tính nguyên hợp của văn học dân gian, sự gặp gỡ, hàm chứa nhau giữa các thể loại là hiện tượng không xa lạ. Trong đó, hiện tượng chuyển hóa chất liệu từ tác phẩm này sang tác phẩm khác, thể loại này sang thể loại khác tạo nên một dòng chảy thú vị. Chẳng hạn trường hợp hình tượng con rùa, nó xuất phát từ thần thoại trong vai thần biển, đã tái sinh trong thời đại truyền thuyết qua “An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy” và tiếp tục đời sống của mình trong cổ tích “Rùa và Thỏ”.

Vấn đề phân loại truyện cổ tích đến nay vẫn tồn tại như một thách thức. Có lẽ, đặc trưng nguyên hợp là trở lực vĩnh cửu trước mọi nỗ lực phân định văn học dân gian ở bất cứ cấp độ nào. Tuy nhiên, để quán xuyến được việc nghiên cứu, các học giả, theo cách nào đó, phải đưa ra kiến giải về việc phân loại cổ tích.

Nguyễn Văn Ngọc trong Truyện cổ nước Nam chia cổ tích thành 5 loại: những truyện thuộc về lối cổ tích hoặc dã sử; những truyện mà kết cục trở thành phương ngôn; những truyện thuần về văn chương; những truyện ẩn một triết lí cao xa và những truyện vui chơi cười đùa lí thú nhưng chưa phải tiếu lâm. Cách phân chia này đưa ra những tên gọi dài dòng, đồng thời có sự chồng lấn giữa các loại một cách phức tạp.

Theo Nghiêm Toản, cổ tích được chia làm 4 loại: truyện mê tín hoang đường; truyện luân lí ngụ ngôn; truyện phúng thế hài đàm và sự tích các thánh. Cách phân chia này đã sử dụng nội hàm của thuật ngữ truyện cổ. Các loại được phân chia thành tương ứng với các thể loại truyện kể dân gian, song chưa đầy đủ. Ngay cả thể loại cổ tích cũng không tìm thấy vị trí cụ thể trong cách phân chia trên.

Theo Hoàng Trọng Miên, cổ tích được chia làm 6 loại: cổ tích lịch sử; cổ tích phong tục; cổ tích tình cảm; cổ tích thế sự; cổ tích tôn giáo và cổ tích hoang đường. Thanh Lãng thì chia cổ tích thành 7 loại: cổ tích ma quỷ; cổ tích anh hùng dân tộc; cổ tích ái tình; cổ tích luân lí; truyện thần tiên; truyện phong tục và truyện khôi hài. Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam chia cổ tích thành 3 loại: truyện cổ tích thần kì; truyện cổ tích thế sự và truyện cổ tích lịch sử.

Giáo trình Văn học dân gian của các trường Đại học Sư phạm chia cổ tích thành 3 loại: cổ tích hoang đường; cổ tích sinh hoạt và cổ tích lịch sử. Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên trong giáo trình Văn học dân gian của trường Đại học Tổng hợp chia cổ tích thành 2 loại: cổ tích thế sự và cổ tích lịch sử. Nhóm tác giả Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ chia cổ tích thành 3 loại: cổ tích loài vật; cổ tích thần kì và cổ tích sinh hoạt.

Theo giáo trình Văn học dân gian của Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, căn cứ vào việc có hay không có yếu tố thần kì, có thể chia thành cổ tích thần kì và cổ tích hiện thực; căn cứ vào nội dung phản ánh, có thể chia thành cổ tích thế sự và cổ tích lịch sử.

Như vậy, vấn đề phân loại cổ tích hẳn là vô cùng phức tạp. Dù phân chia theo quan điểm nào thì bên cạnh những kiến giải hợp lí cũng tồn tại kèm theo những bất cập. Điều này xuất phát từ nhiều lí do. Trong đó, tính nguyên hợp của văn học dân gian là trở ngại tất yếu, không thể khắc phục. Với các cách phân loại đã trình bày, chúng tôi tán thành hơn cả quan niệm của Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên. Đây là cách phân loại đơn giản, mặc dù không chi tiết, song đảm bảo được tính hệ thống trong phân loại. Hai bộ phận cổ tích thế sự và lịch sử có thể được minh định sáng rõ nhất. Hẳn nhiên, sự minh định ấy không bao giờ là sự tách biệt hoàn toàn.

Về vấn đề xác lập thể loại truyền thuyết và tiểu loại cổ tích lịch sử, đến nay vẫn chưa nhận được ý kiến thống nhất từ các nhà nghiên cứu. Có ý kiến không thừa nhận truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian. Theo đó, những truyện kể dân gian có nội dung gắn với lịch sử được xếp vào tiểu loại cổ tích lịch sử. Tuy nhiên, trong tính hệ thống của các thể loại và truyện kể dân gian, cổ tích mang không khí sinh hoạt đời thường trong không gian hẹp hơn so với truyền thuyết. Truyền thuyết là một thu hẹp của thần thoại về không gian và thời gian. Song, với đặc thù biểu đạt, truyền thuyết gắn với không gian đất nước và thời gian lịch sử. Nó mang tầm vóc của cộng đồng, thay vì cổ tích mang giới hạn của những mối quan hệ cụ thể giữa một số ít người. Nhân vật truyền thuyết là nhân vật của cộng đồng, trong khi nhân vật cổ tích là đại diện cho tâm tình của một bộ phận người trong xã hội. Phân tích như vậy để thấy rằng những truyện kể có nội dung gắn kết với sự kiện hay nhân vật lịch sử, nó mang không khí truyền thuyết hơn là cổ tích. Vì vậy, chúng tôi tán thành ý kiến xem truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian.

Cổ tích các dân tộc anh em thể hiện khá phong phú, sinh động phong tục, tập quán sinh hoạt văn hóa dân gian. Truyện “Quả Pa Pao” của người HMông, “Tung còn lấy vợ tiên” của người Tày kể về tục ném còn. Kề về các nhạc cụ dân gian có truyện “Sự tích chiếc kèn môi” của người HMông, “Sự tích chiếc kèn đá” của người Raglai. Truyện kể về sự tích các điệu múa thì có “Sự tích điệu múa công” của dân tộc Thái, “Sự tích điệu múa bắt ba ba” của người Dao.

Bộ phận cổ tích gắn liền với việc lí giải các sự vật trong thiên nhiên như “Sự tích dưa hấu”, “Sự tích trái sầu riêng”, “Sự tích cây huyết dụ”, “Sự tích hồ Ba Bể”, “Sự tích núi Vọng Phu”, “Sự tích núi Bà đội om”, “Sự tích núi Ngũ Hành”, “Sự tích sông Tô Lịch và sông Thiên Phù”…

Phần lớn cổ tích xoay quanh đề tài sinh hoạt gia đình, phản ánh và lí giải những xung đột, mâu thuẫn có tính riêng tư nhưng phổ biến giữa anh em trai: “Cây khế”, chị em gái: “Sọ Dừa”, giữa dì ghẻ con chồng và chị em cùng cha khác mẹ: “Tấm Cám”…

Những xung đột bên ngoài gia đình cũng chịu sự ảnh hưởng, chi phối từ những mâu thuẫn trong gia đình. Giải quyết các xung đột, mâu thuẫn trong gia đình là động lực giải quyết xung đột, mâu thuẫn xã hội.

Suốt quá trình phát triển qua lịch sử lâu dài, những hình tượng nhân vật trong cổ tích không ngừng được nhào nắn lại, bổ sung thêm, đây là yếu tố giúp làm tăng tính khái quát và điển hình hóa cho hình tượng, phản ánh được nhiều vấn đề lịch sử của đời sống xã hội.

Triết lí sống là phần quan trọng trong kết cấu nội dung của thể loại. Vì ở đó phản ảnh chân thực sự đấu tranh không khoan nhượng của nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, chống lại những thế lực xâm phạm quyền sống, quyền làm người của họ, đồng thời, khẳng định ý nghĩa, giá trị cao quý trong cuộc sống của họ thành triết lí.

Trước sự nghiệt ngã trong xã hội có giai cấp, người dân lao động đấu tranh chống lại những thế lực xâm phạm nhân quyền của họ; đồng thời tự khẳng định bằng cách nâng lối sống của mình lên thành một triết lí.

Trong cổ tích, phần cốt lõi nhất trong triết lí sống của nhân dân là tinh thần lạc quan, yêu đời, lòng ham sống, tình yêu thương và quý trọng đồng loại. Có thể truyện hướng đến sự ca ngợi, biểu dương những hành vi cao đẹp như tình nghĩa thầy trò trong “Sự tích đầm mực”; hay phê phán, lên án những hành vi trái quy chuẩn đạo đức xã hội, như lừa thầy, phản bạn, ăn ở hai lòng, hay những đứa con bất hiếu như “Cái cân thủy ngân”, “Đứa con trời đánh”…

Nói đến tinh thần lạc quan trong cổ tích người ta thường đề cập đến kết thúc của thể loại này, phần nhiều kết thúc có hậu. Kết thúc có hậu chỉ là một biểu hiện phổ biến nhất, không phải biểu hiện cao nhất cũng như duy nhất của tinh thần lạc quan, yếu tố chủ đạo được đề cập trong thể loại này.

Thực tế cho thấy, kho tàng cổ tích Việt Nam nói riêng, của nhân loại nói chung không phải tất cả đều có kết thúc có hậu. Và cũng không vì thế mà cho rằng những truyện kết thúc không có hậu là bi quan. Không ít cổ tích có kết thúc bi thảm, nhân vật chính diện hoặc phải chết hoặc ra đi về miền khổ ải đọa đày, nhưng đó là cái chết nhằm giúp tỏa sáng, khơi dậy tinh thần lạc quan, niềm tin đối với những phẩm chất tốt đẹp của những con người hiền lành, lương thiện, khẳng định những giá trị đạo đức cao quý giữa dòng tuần lưu vô tận của dòng chảy lịch sử nhân loại.

Triết lí sống của nhân dân trong cổ tích còn thể hiện ở sự thưởng công phạt tội được nhìn nhận và giải quyết theo yêu cầu đạo đức. Chàng Thạch Sanh có những hành vi đạo đức cao đẹp mà chắc chắn còn rất lâu mới có thể trở thành hiện thực một cách phổ biến trong xã hội loài người nói chung và trong xã hội Việt Nam nói riêng – đó là sự hào hiệp, vô tư, sẵn sàng xả thân vì việc nghĩa trong mọi tình huống. Từ quan niệm đó, nhân dân ta khẳng định triết lí “ở hiền – gặp lành”. Niềm tin ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ vừa là triết lí sống lạc quan, tích cực, vừa là ước mơ công lí và đạo đức. Tuy hình thức bề ngoài nó khá giống với giáo lí của nhà Phật nhưng nội dung phục vụ cho ý nguyện của nhân dân. Đó là chỗ dựa tinh thần vững chắc trong hoàn cảnh nghiệt ngã của nhân dân lao động.

Trong gia đình, mặc dù chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi nhưng họ luôn sống có đạo đức. Đạo đức bộc lộ ở sự hiền hậu, thật thà, ngay thẳng, hiếu thảo, thủy chung, chịu thương chịu khó… Họ không hay và không thích trả thù những kẻ đàn anh, những người bề trên trong gia đình, dù những kẻ đó đã gây cho họ nhiều tổn thương, đắng cay, điêu đứng.

Nhân vật người em trong “Cây khế” mặc dù bị người bị người anh chiếm hết gia tài nhưng khi được chim thần đưa ra đảo lấy vàng và trở nên giàu có thì vẫn giữ nguyên tình anh em như trước. Hơn nữa, đã chỉ chỗ đảo vàng cho anh để anh cũng có đời sống sung túc. Còn Thạch Sanh dù bị Lí Thông lừa đảo năm lần bảy lượt một cách trắng trợn, bội nghĩa bạn bè nhưng khi có quyền binh trong tay vẫn sẵn sàng tha cho Lí Thông một con đường sống. Những điều nói trên nhằm bảo vệ quan hệ tình cảm, đạo đức huyết thống của gia đình thị tộc trong cổ tích.

Nạn nhân của những xung đột trong gia đình phụ quyền đang hình thành đáng lẽ phải đứng lên phá vỡ tôn ti trật tự bất công để xây dựng một kiểu gia đình khác, giải phóng mình khỏi những nỗi oan trái. Nhưng quy chuẩn xã hội đương thời không cho họ quyền được làm điều đó, nên họ chỉ có thể phủ nhận, chống lại những quan hệ áp bức, bóc lột của gia đình phụ quyền bằng cách quay về với những quan hệ tốt đẹp của gia đình thị tộc đã và đang trên bờ vực tan rã. Sự lí tưởng hóa những nhân vật đàn em là để củng cố những quan hệ gia đình lung lay, rạn nứt, nhằm cứu vãn nó, làm cho nó trở lại với thời kì “tổ ấm” xa xưa.

Nhưng mọi thứ không diễn ra một cách tốt đẹp như thế. Xã hội đương thời đầy rẫy bất công đã nhẫn tâm đưa họ vào những cạm bẫy, tai ương. Những người đàn em và những người bề dưới luôn chịu thiệt thòi, cay đắng mặc cho phẩm hạnh sáng ngời của họ là vì sự độc ác, vô đạo của những kẻ đàn anh, bề trên. Cổ tích phản ánh nỗi cùng quẫn của những kiểu nhân vật “đức hạnh nhưng bất hạnh” này trong việc tìm đường giải thoát cho mình. Nhưng ở một số truyện, sự sáng tạo của tác giả dân gian đã mang đến cho tác phẩm những làn gió mới, thể hiện ở phần kết thúc các nhân vật đàn em đã dám vượt qua khuôn khổ gia đình, tìm đến sự công bằng, hạnh phúc cho bản thân mình. Trí tưởng tượng của tác giả đã đưa con người khổ hạnh, bị áp bức bất công vượt biên giới gia đình, nhờ việc tạo ra, khai thác những hình tượng hư cấu, các yếu tố kì ảo như: Ông Tiên, Bà Bụt, Chim thần, Rắn thần, Vua, Công chúa, Hoàng tử… Tuy vai trò khác nhau nhưng những nhân vật ấy gắn liền với việc thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của nhân dân. Đây là chiếc cầu nối giữa cuộc đời thực bất hạnh với cuộc đời hạnh phúc công bằng mộng tưởng của nhân vật chính diện. Nếu như các lực lượng thần – ảo góp phần thể hiện lí tưởng xã hội – thẩm mĩ, các nhân vật như vua chúa, hoàng tử, công chúa là phương tiện nghệ thuật, vừa là hiện thực vừa lí tưởng xã hội được hình tượng hóa. Các nhân vật đế vương trong cổ tích được phân thành hai loại đối lập: chính diện và phản diện, tức tốt và xấu. Vua tốt như ông vua trong truyện “Thạch Sanh”, “Tấm Cám”; còn vua xấu như ông vua trong truyện “Ai mua hành tôi”, vua xấu như ông vua Trang vương trong “Phạm Tải Ngọc Hoa”.

Loại truyện về những chàng trai khỏe, dũng cảm hay truyện dũng sĩ của các dân tộc nhằm ca ngợi những tấm gương tài hoa, hiệp nghĩa, những bậc anh hùng trong lao động và chiến đấu. Truyện “Cẩu Khây” của người Tày kể về bốn anh em kết nghĩa có sức khỏe phi thường, dùng sức khóe của mình tham gia lao động sản xuất, giúp đỡ đồng bào. Truyện “Chàng Voi con” của người Thái cũng có cốt truyện tương tự. Hay truyện “Chê Hấu” của người HMông kể về các chàng trai khỏe mạnh hợp sức khai phá đất đai, chế ngự thiên tai, lao động sản xuất. Mở đầu là chàng Nhổ Cây, đến chàng Cắt Tranh, tiếp theo là chàng Chê Hấu trồng trọt, sau đó là chàng Hút Nước chống lũ, cuối cùng là chàng Đục Đá làm cối xay để chế biến lương thực. Truyện “Cẩu Khây” chủ yếu ca ngợi kì tích làm thủy lợi, chế ngự thiên tai. Truyện “Chàng Voi con” ca ngợi kì tích săn bắn. Truyện “Chê Hấu” xây dựng một tập thể những người lao động có trình độ kĩ thuật cao, có sự phân công lao động hợp lí, hiệu quả. Đây là những con người tài ba trong xã hội nông thôn.

Bên cạnh đó người Việt còn có những truyện mang tính hiện thực hơn như truyện “Lê Như Hổ” có tài ăn khỏe, một buổi phát luôn ba mẫu cỏ, một ngày gặt xong hai mẫu lúa. Truyện “Yết Kiêu” ca ngợi tài lặn nhiều giờ trong nước để đánh bắt cá, lặn xuống biển đục thuyền giặc. Lại có những truyện đề cao sự khéo léo trong lao động như: “Ba chàng thiện nghệ”, “Người thợ mộc Nam Hoa”, “Bùi Cầm Hổ”… Đặc biệt như truyện “Phân xử tài tình” ca ngợi vị quan thông minh tài giỏi. Nhưng cốt truyện loại này khá hiếm trong thể loại cổ tích, vì đa số quan lại là đối tượng châm biếm, đả kích của cổ tích …

Nhân dân tin rằng, nếu những con người tài đức làm mẫu nhi thiên hạ, những người khỏe mạnh cường tráng đóng góp công sức lao động sản xuất thì cuộc sống này sẽ tốt đẹp hơn nhiều, nhân dân sẽ được sống đời bình yên, hạnh phúc.

2/ Đặc trưng nghệ thuật

Nhân vật hay vật thần kì là hiện thân của các thế lực mang sức mạnh thần diệu, phi phàm, đứng ra giúp đỡ nhân vật tuyến thiện hay cùng với nhân vật tuyến ác tạo ra sự hủy diệt cuộc sống. Nhân vật kì diệu thường gặp: Tiên, Bụt (Phật); vật kì diệu: Rùa thần, Chim thần, Cá Bống… hiện ra giúp đỡ người tốt thiệt thòi. Trái lại, Đại Bàng có thể bắt cắp bất kì cô gái đẹp nào, Trăn tinh có thể ăn thịt bất cứ ai… Đôi khi nhân vật hay vật thần kì là phép thử lòng người, phân định bản chất con người thiện ác như Đại Bàng hai lần xuất hiện trong cổ tích “Cây khế” đã tạo ra hai kết cục trái ngược nhau cho hai nhân vật thuộc hai tuyến thiện ác khác nhau, với hai anh em cùng một huyết thống nhưng tính cách thiện ác đối lập.

Nhân vật trong cổ tích trung gian và cổ tích hiện thực không phân tuyến hoặc phân tuyến không rõ. Nhân vật đôi vợ chồng trong truyện “Sự tích đá vọng phu” không phải là nhân vật phân tuyến. Nhân vật người vợ trong “Sự tích con muỗi” là nhân vật phân tuyến không rõ ràng giữa mối quan hệ với chồng và với tình nhân. Những truyện cổ tích lí giải về sự tích không hẳn là cổ tích thần kì, mà là dạng cổ tích trung gian, gần với cổ tích hiện thực. Nhân vật trong “Trương Chi”, “Gái ngoan dạy chồng”… không phải nhân vật lí tưởng hóa, không phân tuyến như nhân vật trong cổ tích thần kì. Nhân vật trong cổ tích thần kì thường không rõ tính cách. Nhân vật thuộc cùng một tuyến có tính cách hao hao giống nhau theo khuôn mẫu đã định.

Kết cấu cổ tích thường gặp là kết cấu đường thẳng. Cốt truyện tuân theo một trật tự nhất định từ trước đến sau, cái gì xảy ra trước kể trước, cái gì xảy ra sau kể sau. Cuộc đời Thạch Sanh trong cổ tích cùng tên đi theo một trình tự thời gian cụ thể, từ lúc đi đốn củi, qua thăng trầm, cưới công chúa, thuần phục chư hầu, được truyền ngôi báu… là một dạng của kết cấu này.

Loại kết cấu này có ưu điểm: dễ nhớ, đơn giản; nhược điểm: thiếu sinh động. Cổ tích với đặc trưng thể loại không thực hiện sự đảo ngược kết cấu, đôi khi làm giảm hiệu quả diễn đạt, gây nhàm chán.

Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ trong cổ tích cũng tương thích với đặc trưng và chức năng thể loại. Ngôn ngữ mang tính trần thuật, tính kể đặc trưng cho ngôn ngữ kể chuyện. Các câu tả và các đoạn đối thoại ít có mặt trong truyện. Hình thức tả chủ yếu mang tính phác họa những nét đặc trưng nhất của ngoại hình nhân vật. Ta chỉ biết chàng Thạch Sanh khỏe mạnh, thật thà, còn cụ thể chàng khỏe đến mức nào và thật thà ra sao cổ tích không đề cập. Đó cũng có thể là “độ không sáng tạo” dành cho độc giả, theo điểm nhìn hiện đại.

Về phương diện cú pháp, cổ tích thường có ba loại chủ yếu: câu tồn tại, câu luận, câu hoạt động. Câu tồn tại nhằm mục đích giới thiệu nhân vật: “Hồi ấy ở gần làng có anh học trò nghèo, bố mẹ chết sớm” (Lấy vợ cóc). Câu luận nhằm định tính, định danh nhân vật: “Chàng rất hay chữ, tuy chưa đỗ đạt gì, người ta cũng gọi chàng là Tú Uyên” (Tú Uyên). Phổ biến nhất vẫn là câu hoạt động.

Trong cổ tích, có môtip mở đầu và kết thúc. Mở đầu thường có câu: “Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, tại một làng nọ…” hoặc “Ngày xưa, có một nàng công chúa xinh đẹp, nàng sống cùng vua cha trong cung điện tráng lệ nhưng nàng luôn cảm thấy không vui”. Câu mở đầu thường có sự xuất hiện của cả không gian và thời gian theo thủ pháp ước lệ.

Ngôn ngữ cổ tích không có chức phận xác định cụ thể không gian – thời gian, mọi thứ đều hiện lên mơ hồ: thời gian quá khứ xa xưa, không gian xa xôi đâu đó. Ngoài ra, cổ tích còn sử dụng ngôn ngữ của tục ngữ, ca dao… nhằm gây ấn tượng. Cổ tích chứa đựng các câu văn đa dạng, phong phú về kiểu câu, phong cách ngôn ngữ. Càng về sau câu văn cổ tích càng gần với phong cách văn học hơn.

Thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích cũng được xây dựng theo hệ quy chiếu thể loại, góp phần xác định diện mạo chung của thể loại. Không gian cổ tích là không gian đời thường, không gian sinh hoạt bao quanh cuộc đời nhân vật chính. Chính vì vậy, không gian còn mang tính chất khép kín, tức không quan tâm những nhân vật phụ, những diễn biến khác trong cuộc sống. Không gian cổ tích khó xác định giới hạn, nơi chốn, đặc điểm. Ta sẽ bắt gặp những không gian quen thuộc trong cổ tích, bởi vì các truyện thường được xây dựng trong một không gian hao hao nhau. Dường như cổ tích chỉ gọi tên địa danh bằng danh từ phiếm chỉ để không gian bớt mơ hồ, còn thực sự địa danh ấy đặc điểm ra sao thì cổ tích không quan tâm đến.

Thời gian cổ tích là thời gian vĩnh hằng, bất biến. Thời gian cổ tích kéo dài theo số phận của đời người. Khi nhân vật chính được giải phóng số phận, thời gian theo đó dừng lại. Tính chất ước lệ được thể hiện rõ trong thời gian cổ tích; chẳng hạn ta thường bắt gặp các thời điểm như: “một hôm”, “một ngày kia”, “ngày xửa ngày xưa”… Ngoài ra, ta có gặp thời gian ước định bằng tuần trăng, “Ba tuần trăng… Rồi sáu… rồi chín tuần trăng” (Sự tích hòn vọng phu). Thời gian trong cổ tích chỉ được gợi ra một cách mơ hồ, hầu như không xác định năm nào, đời vua nào…

Như vậy, không gian – thời gian trong cổ tích có tính ước lệ, áng chừng. Hai yếu tố này luôn đi cùng nhau, vì thời gian chỉ diễn tiến trong không gian nhân vật hoạt động. Trong cổ tích, mọi thứ thường mơ hồ xa xôi, nhưng đôi lúc rất quen thuộc như trong chính ngôi làng của mình là vì thế.

Đặc trưng nghệ thuật của cổ tích còn có sự đóng góp của các thủ pháp nghệ thuật. Trước hết, nghệ thuật phiếm chỉ, cũng tương tự kết cấu đường thẳng, nhằm phục vụ nhu cầu truyền miệng, cổ tích thường gạt bỏ những yếu tố khó nhớ. Do vậy, nhân vật, không gian, thời gian thường có tính phiếm chỉ. Trong cổ tích ít sử dụng danh từ riêng. Điều này khác với truyền thuyết, thường sử dụng danh từ riêng. Nhân dân không có nhu cầu đặt tên, gọi rõ nhân vật, chỉ muốn tạo dựng hình tượng những nhân vật có tính phổ quát cao, nhằm biểu đạt những ý nguyện của mình, mong ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn, công bằng hơn. Một cụm từ thường được sử dụng trong cổ tích là: “ngày xửa ngày xưa”; một số danh từ phiếm chỉ thường gặp trong cổ tích như: một phú ông, một quý cô, một anh tiều phu nọ… Việc chỉ sử dụng danh từ phiếm chỉ như vậy có tác dụng tạo ra một mảnh đời, một số phận có tính khái quát cao.

Nghệ thuật tưởng tượng, hư cấu là một phần quan trọng nhằm giúp con người có thêm trợ lực để hoàn thành được mơ ước của mình. Dĩ nhiên kết quả cuối cùng như thế nào vẫn do bản chất, sự lương thiện hay lòng tham của con người quyết định. Anh canh điền chiến thắng phú ông, lấy được vợ nhờ sự giúp đỡ của Bụt, nhưng muốn có cây tre trăm đốt làm sính lễ, anh đã phải bỏ công sức trèo đèo lội suối, vất vả gian truân không ít. Hơn thế, dù cho hư cấu thế nào, các yếu tố thần kì vẫn phải tuân theo luân lí thông thường. Trong “Cây khế”, phượng hoàng đưa người ra đảo lấy vàng, giúp người trở nên giàu có sung túc, nhưng không phải muốn lấy bao nhiêu của cải cũng được. Thánh thần chỉ giúp đỡ những ai chăm chỉ lao động, nhưng gặp khó khăn. Yếu tố thần kì chỉ là phương tiện nhiệm mầu trong cổ tích, hiện thân của những mong ước quá sức của con người. Yếu tố thần kì giúp nhân vật cổ tích đạt được mong ước tốt đẹp, hợp luân lí; còn ta trong đời thực phải lao động không ngừng mới mong nhận được điều tốt đẹp.

Cổ tích là mơ ước của nhân dân lao động về xã hội tốt đẹp, công bằng, về đời người ấm no, hạnh phúc. Cổ tích cũng là những bài học về lòng thiện, tình yêu thương và đức tính chăm chỉ, cùng tài năng, dũng khí của con người. Đó là những ước mơ gần gũi, là động lực hiện thực mà con người có thể vươn tới.

Bài Thơ Hay Viết Về Người Nông Dân

Tôi sống giữa những người chân đất

Tôi sống giữa những người chân đấtNhững người của nắng mưa thấm đẫm vui buồnCả khi có dép rồi họ vẫn thích đi chân đấtChân đất đã quen, chân đất tự do hơn.

Họ là những thứ cây làm nên rậm rì cuộc sốngTrái đất chẳng cằn đi vì mồ hôi họ đổ vàoKhông đọc sách và không mơ mộngDễ tin người, cả những chuyện tào lao.

Nhờ được sống giữa những người như vậyTôi ngủ những giấc thật sâu, những giấc thật yên lòng.Trong cơn mơ có mùi hương cỏ mậtVà sớm ra tôi đã gặp hoa hồng.

Viết về hình tượng người nông dân, văn chương Việt Nam xưa nay khai thác không phải là ít. Người nông dân quen thuộc, gần gũi, thậm chí là máu huyết của biết bao nhiêu bậc thức giả nước nhà. Nhưng khi đọc “Tôi sống giữa những người chân đất” của Nhà thơ Chử Văn Long, tôi nghĩ chắc hẳn ông phải là người gắn bó, yêu thương và quý trọng người nông dân hết mực mới có được cái tâm cảm trìu mến đến ruột rà như vậy.

Bài thơ có ba khổ, mỗi khổ có bốn câu không đều nhau về số chữ, nhưng nhìn tổng thể khá cân đối. Hai khổ thơ đầu miêu tả cuộc sống đầy mưa nắng khó nhọc, phong cách giản dị và gần gũi trong tâm hồn cũng như những đóng góp của người nông dân cho cuộc đời này thêm tươi đẹp. Khổ thơ cuối bài như một lời tạ ơn, một ân tình giao cảm của tác giả với những người chân đất, nhờ họ mà mình có được sự bình yên, thanh thản giữa trần gian vốn lắm nguy nan và dâu bể này.

Câu thơ mở đầu giới thiệu mối quan hệ gắn bó, gần gũi giữa tác giả và những người chân đất. Họ chính là ông bà, cha mẹ, cô dì, chú bác ở xung quanh xóm giềng làng nước đó thôi. Họ làm ruộng, trồng dâu, nuôi tằm dệt vải; họ đánh bắt cá ngoài biển, họ bốc vác dưới gầm cầu mưa nắng thất thường để mưu sinh độ nhật. Quả là có biết bao nhiêu người chân đất quanh ta. Họ thuộc về số đông trong hơn chín chục triệu người của đất nước. Khái quát lại, nói như Chử Văn Long, đó là những “người của nắng mưa thấm đẫm vui buồn”. Nắng mưa là hình ảnh ẩn dụ cho sự gian khổ, cơ cực trong cuộc sống mà những người chân đất phải trải qua để có cái ăn, cái mặc. Thấm đẫm vui buồn vì đời họ trải qua biết bao thăng trầm cùng với những thăng trầm của đất nước. Có điều gì của dân tộc Việt Nam mà những người chân đất không biết, không hay. Cái lạ của khổ thơ đầu chính là hình ảnh những người nông dân chân đất ấy có một thói quen gần như cố hữu: cứ thích đi chân đất, một phần vì đã quen, một phần được tự do hơn. Lạ mà vẫn hợp lý, hợp tình, nói được cái hồn cốt bản chất của những người nông dân chân đất hiền lành muôn thuở.

Nối tiếp mạch cảm xúc ngợi ca hình ảnh những người chân đất, nhà thơ khẳng định vai trò quan trọng và những đóng góp lớn lao của họ cho cuộc sống này. Họ mộc mạc, giản đơn là vậy: bốn mùa quần cụt, chân đất thế kia, nhưng giả sử nếu không có họ, Trái đất này sẽ nghèo đi biết chừng nào! Họ là thân lúa, bụi cỏ, dây leo rậm rì quấn quýt. Mồ hôi họ tan vào đất để nâng lên cuộc sống muôn màu. Những câu thơ bình dị, dễ hiểu nhưng lại có sức lay động, cuốn hút nhờ cảm hứng ngợi ca hóm hỉnh, vui tươi mà lại rất chân tình của tác giả:Họ là những thứ cây làm nên rậm rì cuộc sốngTrái đất chẳng cằn đi vì mồ hôi họ đổ vào,Không đọc sách và không mơ mộngDễ tin người, cả những chuyện tào lao.

“Dễ tin người” đích thị là tính cách của người nông dân chân đất rồi. Không đọc sách, không mơ mộng cũng được xếp vào tính cách hàng thứ yếu. Người nông dân chân đất Việt Nam bốn mùa lao động vất vả để kiếm sống. Họ vui cười vào những lúc nông nhàn để rồi lại tiếp tục với bao lo toan ruộng đồng, nương rẫy. Họ không có thời gian mộng mơ, triết lý sâu xa. Thủ pháp nghệ thuật đối lập được sử dụng rất hiệu quả ở đây: “không đọc sách và không mơ mộng” với “dễ tin người” càng khẳng định vẻ đẹp tâm hồn và những đóng góp quan trọng của những người nông dân chân đất trong hành trình cuộc sống. Thấu hiểu, trân trọng phẩm chất và đóng góp của những người chân đất, tác giả thầm cảm ơn họ đã cho mình biết bao yêu thương và tốt đẹp nhất của cuộc đời. Giấc ngủ ngon và tâm hồn thanh thản là phần thưởng cao quý mà tác giả có được sau những tháng ngày sống giữa những người chân đất: Nhờ được sống giữa những người như vậyTôi ngủ những giấc thật sâu, những giấc thật yên lòngTrong cơn mơ có mùi hương cỏ mậtVà sớm ra tôi đã gặp hoa hồng.

Với ngôn từ giản dị, hình ảnh gần gũi ít nhiều ước lệ, “Tôi sống giữa những người chân đất” là một bài thơ hay viết về người nông dân một nắng hai sương, cần cù lao động và có một tâm hồn cao đẹp. Chính họ đã góp phần làm đẹp cho đời, tôn tạo những giá trị vĩnh hằng trên mặt đất. Cao quý hơn, từ họ, ta học được một bài học vô giá từ cuộc sống này: hãy yêu đời, khoan dung và độ lượng để mọi điều trở nên tốt đẹp, thân thương.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cuộc Đấu Tranh Của Người Nông Dân Trong Truyện Cổ Tích trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!