Đề Xuất 1/2023 # Con Cáo Đền Ơn # Top 1 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Con Cáo Đền Ơn # Top 1 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Con Cáo Đền Ơn mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Truyện cổ tích thế giới chọn lọc

CON CÁO ĐỀN ƠN

   Có hai vợ chồng ông lão sống ở một làng ven núi. Họ rất nghèo, hàng ngày ông lão lên núi kiếm củi đem về làng bán để sống qua ngày.

   Một hôm ông lào lên núi kiếm củi như thường lệ, bỗng ông nhìn thấy ba đứa bé trong làng bắt được một con cáo và đang định giết nó. Ông lại gần ngăn bọn trẻ lại và nói:

 - Này, các cháu, đừng làm thế. Các cháu không nên đối xử với nó ác như thế. Các cháu có thể bán lại cho ông.

   Trong túi ông chỉ có một trăm đồng. Nhưng bọn trẻ cũng đồng ý bán cho ông. Chúng lấy một sợi dây buộc vào cổ con cáo rồi đưa cho ông lão. Ông già dẫn con cáo lên núi, vừa đi ông vừa nói với nó:

 - Thật tội nghiệp chú mày. Ta không biết chú mày sống ở ngọn núi nào. Nhưng từ nay chú mày đừng có dại dột mà vào làng nữa, bọn trẻ sẽ bắt được chú mày lần nữa dấy. Thôi còn bây giờ hãy chạy mau về hang của chú mày đi.

   Nói xong ông thao sợi dây, thả cho con cáo đi.

   Hôm sau ông lão lại lên núi kiếm củi. Con cáo hôm qua ông đã cứu đi đến chỗ ông, nó nói:

 - Ông ơi, hôm qua ông đã cứu cháu thoát khỏi cái chết, cháu rất cám ơn ông.

   Ông già bảo nó: – Chú mày đấy à? Ta giúp chú mày thôi chứ ơn nghĩa gì. Ta thấy chú mày thế ta rất thương. Dẫu sao chú mày cũng chỉ là một con vật, một lời cám ơn của chú mày là quí lắm rồi. Thôi chú mày hãy mau đi về hang đi kẻo bọn trẻ thấy, chúng nó sẽ chẳng tha cho chú mày đâu.

   Nghe ông già nói, những giọt nước mắt của con cáo lã chã rơi xuống đất. Nó lặng lẽ đến bên ông và nói:

 - Ông ơi cháu sẽ nói với ông điều này: Những người sống trong ngôi chùa dưới chân núi kia họ không uống chè nhưng họ đang rất cần một cái ấm cổ. Cháu sẽ biến thành cái ấm ấy. Mặc dù hơi nặng nhưng ông hãy chịu khó mang đến ngôi chùa bán cho họ, ông sẽ có tiền.

   Nói xong con cáo cụp tai xuống. Nó làm thế đến lần thứ ba thì biến thành một cái ấm đồng cổ sáng choang. Ông lão bê cái ấm đồng lên gõ vào thành ấm, nó phát ra những tiếng kêu ngân nga nghe rất hay. Con cáo biến thành cái ấm nên nó khá nặng. Ông lão phái khó khăn mới bê được nó tới ngồi chùa dưới chân núi. Ông nói với nhà sư:

 - Cái ấm này là của tổ tiên tôi để lại, bây giờ tôi muốn bán nó đi.

   Sư thầy nhìn cái ấm và lập tức ông ta đồng ý mua. Ông ta trả cho ông lão ba nghìn. Ông lão mừng quá, vì từ trước tới nay ông chưa bao giờ có nhiều tiền đến thế. Ông cất tiền vào túi rồi đi về nhà. Mua được cái ấm đẹp, sư thầy rất hài lòng. Ông ta gọi các chú tiểu đến và nói:

 - Các con hãy lấy cát đánh bóng cái ấm này cho ta. Ngày mai chúng ta sẽ báo thợ lò đến làm cho chúng la một cái lò.

   Mấy chú tiểu mang ấm đi đánh. Họ lấy cát xát vào thành ấm, vừa lúc đó một giọng nói từ trong cái ấm phát ra:

 - Các cậu bé, đau quá! Đau quá! Hãy nhẹ tay thôi!

   Mấy chú tiểu kinh ngạc, họ chạy vể kêu lên:

 - Bạch thầy! Bạch thấy! Cái ấm biết nói ạ.

   Sư thầy nói: – Không phái đâu, đó là âm thanh của cái ấm phát ra, các con tưởng lầm là giọng nói đấy. Thế mới là ấm tốt! Nhưng nếu các con muốn thì cứ đem nó về đặt ở chỗ cũ.

   Mấy chú tiểu vẫn còn nghi ngại nên đem ấm về đặt ở chỗ cũ. Đêm đó cái ấm biến mất, người ta không tìm thấy nó ở đâu cá. Sư thầy bực tức vô cùng. Ông ta cứ nói đi nói lại rằng cái ấm tốt như vậy nên kẻ trộm mới rình rập và lấy đi.

   Về phần ông lão, ông không hể biết chuyện gì đã xảy ra. Hôm sau ông lại lên núi và lại gặp lại con cáo. Nó nói với ông:

 - Chào ông, hôm qua các chú tiểu ở chùa lấy cát xát vào người cháu đau quá. Họ đã đối xử với cháu thật tệ. Lần này cháu phái tránh khỏi nguy hiểm mới được. Ông ơi ông hãy ra thành phố mua cho cháu một cái lược, một bộ cặp tóc, trâm cài đầu, một dải thắt lưng, một cái khăn tắm và một vài đồ nữ trang thật đẹp của phụ nữ. Nếu ông mua được vài thứ đó thì cháu sẽ biến thành môt cô gái xinh đẹp. Sau đó ông có thể đem cháu đến một nhà chứa ở thành phố để bán. Ông sẽ được rất nhiều tiền. Ông đi mau đi.

   Ông già đi ra thành phố mua những thứ đó rồi trở về ngọn núi. Nhìn thấy ông, con cáo kêu lên:

 - Ôi! Ông đi nhanh quá và những thứ ông mua thật là tuyệt. Bây giờ ông hãy xem cháu hoá thành một cô gái này.

   Con cáo quay ba vòng và biến thành một cô gái đẹp tuyệt trần. Ông già dẫn cô đến một nhà chứa ở thành phố và nói với ông chủ:

 - Đây là con gái tôi. Ông có muốn mua nó không?

   Ông chủ chứa trông thấy cô gái đẹp thì ưng ngay. Ông ta trả cho ông lão một trăm ngàn đồng. Ông lão cầm tiền bỏ vào túi rồi trở về nhà. Từ hôm đó cô gái đẹp trở thành món hàng béo bở của ông chủ. Nhờ có cô mà ông ta kiếm được bao nhiêu tiền. Một năm sau kể từ ngày cô gái đẹp đến nhà chứa, một hôm cô nói với ông chủ:

 - Từ khi tôi đến đây tôi chưa một lần về thăm cha mẹ. Bây giờ tôi rất muốn về thăm họ ít ngày. Ông có thể cho tôi nghỉ vài ngày được không?

   Ông chủ nhà chứa nghĩ rằng cô gái nói phải, bèn đồng ý ngay. Ông ta còn gửi cả quà cho bố mẹ cô gái. Cô gái trở về nhà và từ hôm đó cô không trở lại nhà chứa nữa. Ông chủ nghĩ có thể cô ta đã mệt mỏi với cái nghề này và đã mớ nhà chứa riêng. Hơn nữa số tiền nhờ cô mà ông ta kiếm được đã nhiều hơn số tiền mà ông ta mua cô nên ông ta cũng không cho người tìm cồ gái nữa.

   Một hôm ông lão nọ đi lên núi và lại gặp con cáo đó. Nó nói với ông?

 - Ông ơi đã lâu rồi chúng ta không gặp nhau. Ông có khoẻ không? Cháu đã ở nhà chứa đó một thời gian. Nhưng cháu thấy mệt mỏi quá nên đã trốn về đây nghỉ ngơi. Bây giờ thì cháu đã hoàn toàn khỏe mạnh rồi. Cháu sẽ trả ơn lòng tốt của ông một lần nữa. Lần này cháu sẽ biến thành một con ngựa. Ông hãy đem con ngựa đến một nhà giàu cách xa đây để bán. Con ngựa này còn giá trị hơn cả hai thứ mà trước đây cháu đã cho ông. Nhưng nếu có điều không may xảy ra với cháu, có thể cháu sẽ không bao giờ còn được gặp ông nữa. Nếu điều đó xảy ra ông hãy lấy ngày hôm nay làm ngày giỗ của cháu. Xin ông hãy dành ít phút nghĩ đến cháu và thắp cho cháu mấy nén hương.

   Thôi, cháu biến thành ngựa đây.

 - Khoan đã! – Ông lão kêu lên – Cháu đã giúp ông nhiều lần rồi, từ lâu ông không còn nghèo như trước nữa. Ông đã có mọi thứ ông cần. Cháu không việc gì mà phải làm điều đó vì ông nữa. Ông xin cháu.

   Mặc cho ông lão nói, con cáo vẫn biến thành một con ngựa xám tuyệt đẹp. Ông lão không biết làm gì hơn là dắt ngựa đến một nhà quyển quí cách xa đó dể bán. Người ta trá cho ông lão một trăm ngàn. Ông cầm tiền ra về mà lòng buồn rười rượi.

   Một thời gian sau có lễ hội ở một nơi cách xa nơi con cáo, bấy giờ là một con ngựa xám, đang ớ. Người quí tộc trẻ đem con ngựa đẹp ra cưỡi để đi đến lễ hội. Họ vượt qua nhiều làng mạc và núi đồi. Con ngựa xám thực ra chí là một con cáo nên về sức lực nó không thể bì kịp với một con ngựa thực thụ. Dọc đường nó khịu xuống và ngất đi. Mọi người cười ầm lên, họ bảo nhau:

 - Nhìn kìa, một con ngựa đích thực không bao giờ lại như thế kia. Đây chắc là một con ngựa ốm. Nói rồi họ quẳng con ngựa xuống dưới đấm lầy. Họ lấy một con ngựa khác chở hàng cho nhà quí tộc cưỡi và tiếp tục lên đường. Sau khi họ đi con cáo cố ngoi ra khỏi đầm lầy và nó đi đâu không ai biết. Chí biết rằng từ đó người ta không bao giờ nhìn thấy nó nữa.

   Nhờ có con cáo giúp mà ông lão trở thành một điền chủ, người giàu có nhất vùng. Ông lão biết được điều bất hạnh xảy ra với con cáo qua một người hàng xóm. Ông lão nhớ đến mong ước cuối cùng của con cáo, ông xây một điện thờ trang trọng ngay trong khu nhà ở của ông. Cứ vào ngày mười chín hàng tháng vợ chồng ông lại thắp hương trong ngôi điện và cầu khấn cho hương hồn con cáo được mát mẻ nơi thế giới bên kia.

— Hết —

“Con Cáo Và Tổ Ong”

 – Ngày 1/7/1942, báo “Việt Nam Độc lập”, cơ quan tuyên truyền của Việt Minh Cao Bằng (sau đó mở rộng thành liên tỉnh với Bắc Kạn, Lạng Sơn) do Bác sáng lập tại chiến khu, đã đăng bài thơ ngụ ngôn của người sáng lập ra tờ báo này với nhan đề “Con cáo và tổ ong”.

Bài thơ viết:

“Tổ ong lủng lẳng trên cành/ Trong đầy mật nhộng, ngon lành lắm thay/ Cáo già nhè nhẹ lên cây/ Định rằng lấy được ăn ngay cho giòn/ Ong thấy cáo muốn cướp con/ Kéo nhau xúm lại vây tròn cáo ta/ Châm đầu, châm mắt cáo già/ Cáo già đau quá phải sa xuống rồi/ Ong kia yêu giống, yêu nòi/ Đồng tâm, hợp lực đuổi loài cáo đi”.

Và bài ngụ ngôn quy về một tư tưởng quan trọng “Bây giờ ta thử so bì/ Ong còn đoàn kết huống chi là người/ Nhật Tây áp bức giống nòi/ Ta nên đoàn kết để đòi tự do”.

Tư tưởng “đoàn kết-đại đoàn kết” có thể nói đã xuyên suốt trong rất nhiều bài báo Bác viết trên tờ “Việt Nam Độc lập” ngay trong lời tuyên ngôn đăng trên số đầu và được sắp đặt thành hình ảnh người chiến sĩ cách mạng thổi kèn kêu gọi dân chúng: “Việt Nam Độc lập thổi kèn loa/ Kêu gọi dân ta trẻ đến già/ Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta”.

Báo Việt Nam Độc lập đưa tin phát xít Đức đã đầu hàng.

Trong bài ca “Phụ nữ”, Bác cũng kêu goi: “Chị em cả trẻ đến già/ Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh… Làm cho thiên hạ biết tên/ Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng” (1/9/1941). Còn trong bài thơ “Trẻ con”, tác giả cũng kêu gọi: “Vậy nên con trẻ nước ta/ Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh/ Kẻ lớn cứu quốc đã đành/ Trẻ em cũng phải ra giành một vai…”.(21/9/1941)

Trong bài “Ca sợi chỉ”, từ hình tượng những sợi chỉ được kết dệt lại thành tấm vải bền chắc, Bác cũng đưa ra lời cổ vũ: “Hỡi ai con cháu Hồng Bàng/ Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau” (1/4/1942). Với đề tài “Hòn đá”, bài thơ đăng trên Việt Nam Độc lập (21/4/1942) cũng được tác giả khái quát:“Biết đồng sức, Biết đồng lòng/ Việc gì khó/ Cũng làm xong/ Đánh Nhật, Pháp/ Giành tự do/ Là việc khó/ Là việc to/ Nếu chúng ta/ Biết đồng lòng/ Thì việc đó/ Quyết thành công”.  

X&N bee.net.vn

Chia sẻ:

Facebook

Twitter

Tumblr

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Chú Bé Chăn Cừu Và Con Cáo

Một chú bé chăn cừu cho chủ thả cừu gần một khu rừng rậm cách làng không xa lắm. Chăn cừu được ít lâu, chú cảm thấy cuộc đời chăn cừu thực nhàm chán. Tất cả mọi việc chú có thể làm để giải khuây là nói chuyện với con chó hoặc thổi chiếc kèn chăn cừu của mình.

Một hôm, khi chú đang ngắm nhìn đàn cừu và cánh rừng yên tĩnh, và suy nghĩ mình sẽ phải làm gì khi gặp một con Cáo, chú nghĩ ra một trò chơi cho đỡ buồn.

Chủ bảo với chú rằng khi Cáo tấn công đàn cừu thì phải kêu cứu, để dân làng nghe thấy và đuổi nó đi. Thế là, mặc dù chú chẳng thấy con gì giống Cáo hết, chú cứ chạy về làng và la to, “Cáo! Cáo!”

Đúng như chú nghĩ, dân làng nghe thấy tiếng kêu bỏ cả việc làm và tức tốc chạy ra cánh đồng. Nhưng khi họ đến nơi họ chỉ thấy chú bé ôm bụng cười ngặt nghẽo vì đã lừa được họ. Ít ngày sau chú bé chăn cừu lần nữa lại la lên, “Cáo! Cáo!” Và một lần nữa dân làng lại chạy ra giúp chú, nhưng lại bị chú cười cho một trận.

Thế rồi vào một buổi chiều nọ, khi mặt trời lặn xuống sau cánh rừng và bóng tối bắt đầu phủ đầy lên cánh đồng, một con Cáo thực sự nấp sau một bụi cây bỗng phóng ra và chụp được một con cừu.

Quá hoảng sợ, chú bé chăn cừu vội chạy về làng và la to “Cáo! Cáo!” Nhưng mặc dù dân làng có nghe tiếng chú kêu, nhưng không ai chạy ra cả để giúp chú như những lần trước. “Lần này không thể để cho nó đánh lừa được mình nữa” họ bảo.

Cáo giết chết rất nhiều cừu của chú bé và biến mất vào rừng rậm.

Lời bàn: Người ta cũng không tin kẻ nói dối ngay cả khi hắn nói thật.

Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp

Quay về trang chủ:

Truyện cổ tích,

Top 10 truyện cổ tích hay nhất mọi thời đại:

Nàng bạch tuyết và bảy chú lùn, Trí khôn của ta đây, Cô bé lọ lem, Cô bé bán diêm, Sơn tinh thuỷ tinh, Cô bé quàng khăn đỏ, Nàng tiên cá, Tấm cám, Ăn khế trả vàng, Cóc kiện trời

Truyện xem nhiều nhất

Danh sách những truyện cổ tích việt nam hay nhất:

Tổng hợp các câu chuyện cổ tích thế giới hay và ý nghĩa nhất, truyện cổ grimm, truyện cổ Andersen, cổ tích thần kỳ: Nàng công chúa ngủ trong rừng, Alibaba và bốn mươi tên cướp, Nàng công chúa chăn ngỗng, Cô bé lọ lem, Chú bé tí hon, Ông lão đánh cá và con cá vàng, nàng bạch tuyết và bảy chú lùn, Truyện cổ tích Bà chúa tuyết, Aladdin và cây đèn thần, Ba sợi tóc vàng của con quỷ, Hoàng tử ếch, Con quỷ và ba người lính, Cô bé quàng khăn đỏ,…

Bạn đang đọc các câu chuyện cổ tích tại website chúng tôi – Kho tàng truyện cổ tích chọn lọc Việt Nam và Thế Giới hay nhất và ý nghĩa cho mọi lứa tuổi dành cho thiếu nhi, tổng hợp trên 3000 câu chuyện cổ tích chọn lọc hay nhất Việt Nam và thế giới. Tại chúng tôi luôn được cập nhật thường xuyên, đầy đủ và chính xác nhất về truyện cổ tích giúp bạn dễ dàng tìm kiếm cho mình câu truyện cổ tích cần tìm.Danh sách những truyện cổ tích việt nam hay nhất: Truyền thuyết Thánh gióng truyện cổ tích tấm cám , sọ dừa, truyền thuyết về Sơn Tinh – Thủy Tinh, truyền thuyết hồ hoàn kiếm, sự tích trầu cau, sự tích con rồng cháu tiên, truyền thuyết thành cổ loa, Cóc kiện trời, Sự tích Táo Quân, chú thỏ tinh khôn, Sự tích chùa Một cột, Chàng ngốc học khôn, Sự tích sấm sét, Sự tích hoa Mào gà, Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung, truyện cổ tích trí khôn của ta đây, Sự tích con chuồn chuồn, Sự tích Hòn Vọng Phu, Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy, sự tích cây khế, Sự tích Thánh làng Chèm, Sự tích thỏ tai dài đuôi ngắn, Sự tích hoa mười giờ, Sự tích chim Quốc, Sự tích công chúa Liễu Hạnh, Cây táo thần, thạch sanh,…Tổng hợp các câu chuyện cổ tích thế giới hay và ý nghĩa nhất, truyện cổ grimm, truyện cổ Andersen, cổ tích thần kỳ: Nàng công chúa ngủ trong rừng, Alibaba và bốn mươi tên cướp, Nàng công chúa chăn ngỗng, Cô bé lọ lem, Chú bé tí hon, Ông lão đánh cá và con cá vàng, nàng bạch tuyết và bảy chú lùn, Truyện cổ tích Bà chúa tuyết, Aladdin và cây đèn thần, Ba sợi tóc vàng của con quỷ, Hoàng tử ếch, Con quỷ và ba người lính, Cô bé quàng khăn đỏ,…

Bài Viết Phân Tích “Bình Ngô Đại Cáo”

Chia sẻ cách lập dàn ý phân tích tác phẩm “Bình Ngô Đại Cáo” và bài văn mẫu hay nhất của các em học sinh giỏi năm 2019.

I. Dàn Ý Phân Tích Tác Phẩm Bình Ngô Đại Cáo

– Giới thiệu chung về tác phẩm “Bình Ngô đại cáo’ (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm,…)

a. Nêu tiền đề chính nghĩa và chân lí độc lập

– Tiền đề chính nghĩa:

+ “Nhân nghĩa”: một phạm trù tư tưởng i của Nho giáo, chỉ mối quan hệ giữa con người với con người trên cơ sở tình thương và đạo đức

+ Trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, “nhân nghĩa” phải gắn liền với “yên dân” và muốn “yên dân” thì phải “trừ bạo”

– Chân lí độc lập khách quan:

+ Đại Việt là một dân tộc có truyền thống văn hiến, phong tục từ lâu đời, có bờ cõi, lãnh thổ riêng

+ Lối so sánh các triều đại phong kiến cho thấy tác giả Nguyễn Trãi đã đặt nước ta ngang hàng với Trung Quốc, điều đó khẳng định nền độc lập của dân tộc và thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc

+ Kể lại những chiến thắng hào hùng, tất thắng của quân ta trong các cuộc chiến đấu ở trước đó

b. Vạch rõ tội ác của kẻ thù

– Làm sáng rõ âm mưu xâm lược của giặc Minh

– Tàn sát những người dân vô tội một cách tàn độc và dã man.

– Chính sách thuế khóa nặng nề, vô lí

– Hủy hoại cả môi trường sống, môi trường tự nhiên trên đất nước ta.

c. Quá trình chiến đấu và chiến thắng của quân ta

– Hình tượng vị chủ tướng Lê Lợi:

+ Đại từ “ta” tự xưng gần gũi cùng cách sử dụng từ “nơi”, “chốn” đã cho thấy Lê Lợi cũng xuất thân từ nhân dân

+ Người anh hùng ấy mang trọn trong mình lòng căm thù giặc cùng bao nỗi niềm nghĩ suy, trăn trở để đứng lên dấy binh khởi nghĩa

+ Dẫu trong hoàn cảnh khó khăn, ông vẫn tìm ra con đường để tranh đấu, để đưa cuộc chiến của ta đi đến thắng lợi.

– Quá trình chiến đấu của quân ta:

Nghĩa quân của ta gặp phải rất nhiều khó khăn, thiếu thốn về nhân lực, thiếu thốn lương thực,…

Nghĩa quân vẫn luôn tràn đầy lòng quyết tâm và ý chí, cả nghĩa quân vẫn sát cánh bên nhau và cùng cố gắng

+ Giai đoạn phản công và giành thắng lợi:

Mở đầu là các chiến thắng ở trận Bồ Đằng, trận Trà Lân rồi tiếp đó là chiến thắng Tây Kinh, Đông Đô, Ninh Kiều,…

Tiếp đó là hàng loạt các chiến công liên tiếp và cuối cùng nghĩa quân của ta đã dành thắng lợi, khiến bọn giặc phải khiếp sợ.

Khi quân giặc thua trận, nghĩa quân của ta vẫn cho chúng đường lui, không những tha chết cho bọn chúng mà còn cấp ngựa, cấp lương thực và cấp thuyền cho chúng trở về nước. Điều đó cho thấy tư tưởng nhân nghĩa và tinh thần nhân văn của quân và dân ta.

– Giọng văn hào hùng, trịnh trọng xen lẫn niềm vui và tự hào dân tộc

– Lời tuyên bố ấy vừa thể hiện lòng tự hào dân tộc vừa cho thấy niềm tin vào một tương lai đất nước thái bình và thịnh vượng.

Khái quát những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” và nêu cảm nhận của bản thân.

II. Bài Văn Phân Tích Bình Ngô Đại Cáo 2019

Được viết theo thể cáo – một thể loại văn học cổ có nguồn gốc từ Trung Hoa, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi cũng có một bố cục rất chặt chẽ. Mở đầu bài cáo, tác giả Nguyễn Trãi đã khéo léo nêu lên luận đề chính nghĩa, làm cơ sở, nền tảng cho chân lí độc lập dân tộc.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Như chúng ta đã biết, “nhân nghĩa” là một trong số những phạm trù tư tưởng quen thuộc và gần gũi của Nho giáo, nó được dùng để nhắc tới mối quan hệ, cách ứng xử tốt đẹp giữa con người với con người trên cơ sở tình thương và đạo đức. Với Nguyễn Trãi, “việc nhân nghĩa” phải gắn liền với việc “yên dân” bởi ông luôn “lấy dân làm gốc”, làm nền tảng cho mọi hành động, việc làm của mình. Đặc biệt, trong bối cảnh quân Minh xâm lược nước ta, Nguyễn Trãi khẳng định, muốn “yên dân” thì trước hơn hết phải lo “trừ bạo” nghĩa là phải đánh đuổi quân xâm lược, những kẻ đang đàn áp nhân dân và đẩy nhân dân vào cuộc sống lầm than, cơ cực. Như vậy, với hai câu thơ mở đầu bài cáo, Nguyễn Trãi đã nêu lên tiền đề tư tưởng cho toàn bộ tác phẩm, đó chính là tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng ấy luôn lấy dân làm gốc, xét đến cùng đây là một tư tưởng tiến bộ và mới mẻ của ông. Thêm vào đó, trong phần mở đầu bài cáo, Nguyễn Trãi cũng đã nêu lên chân lí khách quan để khẳng định nền độc lập của dân tộc ta từ bao đời nay.

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có.

Dường như, đoạn văn đã gợi lại trong chúng ta những truyền thống đáng tự hào của dân tộc ta từ ngàn đời nay. Đại Việt là một dân tộc có truyền thống văn hiến, phong tục từ lâu đời, có bờ cõi, lãnh thổ riêng. Đồng thời, với lối so sánh các triều đại phong kiến của nước Đại Việt với các triều đại phong kiến phương Bắc, tác giả Nguyễn Trãi đã đặt nước ta ngang hàng với Trung Quốc, điều đó không chỉ khẳng định nền độc lập của dân tộc mà nó còn thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc với truyền thống văn hiến từ ngàn năm. Đồng thời, để khẳng định chân lí độc lập dân tộc, Nguyễn Trãi đã liệt kê, kể lại những chiến thắng hào hùng, tất thắng của quân ta trong các cuộc chiến đấu ở trước đó.

Lưu Công tham công nên thất bại

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

Trên cơ sở tiền đề chính nghĩa và chân lí độc lập ở đoạn một, đoạn hai của bài cao đi sâu chỉ rõ những tội ác man rợn của giặc Minh. Trước hết, tác giả đã vạch rõ âm mưu xâm lược của giặc Minh.

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nước lòng dân oán hận

Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa

Bọn gian tà bán nước cầu vinh

Lợi dụng tình hình rối ren trong nước của nhà Hồ, giặc Minh với luận điệu xảo trá “phù Trần diệt Hồ” để lừa bịp nhân dân, chúng đã tiến vào xâm lược nước ta. Để rồi, sau đó, chúng đã thi hành hàng loạt chính sách dã man và dưới ngòi bút của mình, Nguyễn Trãi đã lật mặt, vạch rõ hàng loạt tội ác không thể tha thứ của giặc Minh. Chúng đã tàn sát những người dân vô tội một cách tàn độc và dã man.

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

Bọn giặc Minh thật tàn ác biết bao, ngay đến cả “dân đen”, “con đỏ” chúng cũng không chịu tha. Hai động từ “nướng”, “vùi” được đặt lên đầu câu dường như đã lột tả đến tột cùng sự tàn sát man rợn, giết người không ghê tay của bọn chúng. Thêm vào đó, chúng còn tàn sát nhân dân bằng cách đẩy họ vào những noi đầy rẫy những hiểm nguy, nơi mà khi đã đi rồi thì rất khó để có thể sống sót để trở về.

Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc

Đồng thời, tội ác của giặc Minh còn ở đặt lên đầu nhân dân những chính sách thuế khóa nặng nề, và vô lí và không dừng lại ở đó, chúng còn hủy hoại cả môi trường sống, môi trường tự nhiên.

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng

Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt

Tàn sát cả giống côn trùng, cây cỏ,

Như vậy, bằng hàng loạt các hình ảnh chân thực, rõ nét cùng việc sử dụng phép đối lập giữa tội ác của kẻ thù với nỗi đau thống khổ của nhân dân và giọng văn đanh thép, hùng hồn, tác giả Nguyễn Trãi đã viết nên một bản cáo trạng về những tội ác man rợn của kẻ giặc và bản cáo trạng ấy khép lại bằng một hình ảnh so sánh giàu sức khái quát và đầy ám ảnh về tội ác của chúng.

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Tiếp đó, trong đoạn ba của bài cáo, tác giả Nguyễn Trãi đã tái hiện lại quá trình chiến đấu và giành chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu chống quân Minh xâm lược. Và trước hơn hết đó chính là hình ảnh của chủ tướng Lê Lợi.

Núi Lam Sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Với đại từ “ta” tự xưng gần gũi cùng cách sử dụng từ “nơi”, “chốn” đã cho thấy nguồn gốc xuất thân của chủ tướng Lê Lợi. Người anh hùng ấy cũng xuất thân từ nhân dân, cũng bước ra từ lòng nhân dân và thấu hiểu bao nỗi nhọc nhằn của nhân dân. Người anh hùng ấy mang trọn trong mình lòng căm thù giặc sâu sắc – “ngẫm thù lớn hạ độ trời chung”, “căm thù giặc thề không cùng chung sống’ cùng bao nỗi niềm nghĩ suy, trăn trở đến nỗi “đau lòng nhức óc”, “quên ăn vì giận” và cả “những trằn trọc trong đêm mộng mị” để đứng lên dấy binh khởi nghĩa. Dẫu cuộc khởi nghĩa ấy diễn ra giữa lúc “quân thù đương mạnh” và gặp phải muôn vàn khó khăn nhưng điều đó không thể ngăn được bước chân và ý chí của Lê Lợi, ông vẫn không nguôi nỗi lòng thương dân và niềm khát khao đánh thắng kẻ thù xâm lược và để rồi, dẫu trong hoàn cảnh khó khăn ấy, ông vẫn tìm ra con đường để tranh đấu, để đưa cuộc chiến của ta đi đến thắng lợi.

Đen đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy chí nhân để thay cường bạo

Chính nhờ chân lí, con đường ấy mà cuộc khởi nghĩa của ta đã từng ngày, từng ngày vượt qua khó khăn và đi đến thắng lợi. Tuy nhiên, khi tái hiện quá trình chiến đấu và chiến thắng của quân ta, Nguyễn Trãi không chỉ tái hiện hình ảnh của anh hùng Lê Lợi mà ông còn tái hiện rõ nét từng chặng đường trong cuộc kháng chiến ấy. Trong buổi đầu của cuộc kháng chiến, nghĩa quân của ta gặp phải rất nhiều khó khăn, thiếu thốn về nhân lực – “việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần”, thiếu thốn lương thực,… nhưng với lòng quyết tâm và ý chí, cả nghĩa quân vẫn sát cánh bên nhau và cùng cố gắng. Để rồi, trong giai đoạn sau của cuộc chiến, quân ta đã giành nhiều thắng lợi vẻ vang. Mở đầu là các chiến thắng ở trận Bồ Đằng, trận Trà Lân rồi tiếp đó là chiến thắng Tây Kinh, Đông Đô, Ninh Kiều,… và tiếp đó là hàng loạt các chiến công liên tiếp:

Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế

Ngày hai mươi, trận Mã An, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hai lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong

Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khanh cùng kế tự vẫn.

Có thể nói, bằng tất cả lòng quyết tâm, ý chí và lòng căm thù giặc sâu sắc, quân ta đã đánh thắng kẻ thù xâm lược, khiến chúng thất bại thảm hại và khiếp sợ. Đồng thời, trong trận chiến ấy, quân ta vẫn thể hiện rõ tư tưởng chính nghĩa đã đặt ra, bởi vậy nên khi quân giặc thua trận, nghĩa quân của ta vẫn cho chúng đường lui, không những tha chết cho bọn chúng mà còn cấp ngựa, cấp lương thực và cấp thuyền cho chúng trở về nước. Và có lẽ bởi vậy, chiến thắng của ta chính là sự chiến thắng của nhân nghĩa, của lòng nhân ái và tinh thần thượng võ.

Cuối cùng, trên cơ sở luận đề chính nghĩa và thực tiễn của cuộc chiến đấu đoạn cuối của bài cáo đã lên tiếng tuyên bố nền hòa bình, độc lập của dân tộc.

Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Xa gần bá cáo

Ai nấy đều hay.

Với giọng văn hào hùng, trịnh trọng xen lẫn niềm vui và tự hào dân tộc, lời tuyên bố độc lập được tuyên bố rộng rãi đến toàn thể mọi người. Lời tuyên bố ấy không chỉ thể hiện lòng tự hào dân tộc mà còn cho thấy niềm tin vào một tương lai đất nước thái bình và thịnh vượng.

Tóm lại, với sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố trữ tình và yếu tố chính luận cùng việc sử dụng nhiều hình ảnh độc đáo và giọng văn biến đổi linh hoạt, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi xứng đáng là “áng thiên cổ hùng văn” trong nền văn học Việt Nam.

dàn ý bình ngô đại cáo

dàn ý bài bình ngô đại cáo

phân tích bình ngô đại cáo

bình ngô đại cáo dàn ý

dàn bài bình ngô đại cáo

dàn ý bài bình ngô đại cáo

dàn ý phân tích bài thơ bình ngô đại cáo

Bình Luận Facebook

.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Con Cáo Đền Ơn trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!