Đề Xuất 2/2023 # Chuyện Tình Bi Tráng Có Thật Trong Bài Thơ “Núi Đôi” # Top 10 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Chuyện Tình Bi Tráng Có Thật Trong Bài Thơ “Núi Đôi” # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chuyện Tình Bi Tráng Có Thật Trong Bài Thơ “Núi Đôi” mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Người 17 tuổi đã trẻ nhất làng? Nhà thơ Vũ Cao từng nói, nếu không có chất liệu cuộc sống hàng ngày thì ông không viết được. Ông kể rằng bài thơ được ông viết vào một ngày cuối năm 1956. Hồi đó ông về công tác ở sư đoàn 312, đóng quân ở huyện Sóc Sơn (Hà Nội), cạnh đó có ngọn núi Đôi.

Một hôm, theo mấy người dân đi chợ, ông nghe họ kể chuyện tình của một cô gái du kích trong làng yêu một anh trai làng, rồi anh đi bộ đội. Khi anh trở về thì cô gái đã hy sinh.

Núi Đôi, Vũ Cao

Vũ Cao liền tìm đến thăm mộ người nữ liệt sỹ đó ở xóm Chùa, thôn Xuân Đoài (còn gọi là Xuân Dục – Đoài Đông), thuộc xã Phù Linh (còn gọi là Lạc Long). Đến tận nơi và nghe người dân kể lại câu chuyện tình giữa anh bộ đội và cô du kích, cảm hứng xuất hiện khiến ông đã chấp bút viết ra bài thơ Núi Đôi…Cả tên làng, tên chợ, tên người và quang cảnh đều hoàn toàn có thật. Mộ cô gái hiện vẫn còn. Chỉ có anh bộ đội là người yêu của cô du kích thì lúc ấy Vũ Cao không gặp được, không rõ còn sống hay đã mất.

Về lý do tại sao ngay trong hai câu thơ đầu, ông lại cho rằng đôi nam nữ, trong đó cô gái 17 tuổi và chàng trai đôi mươi là “trẻ nhất làng”?. Vũ Cao sau này nói rằng, ngay chính ông cũng… không hiểu vì sao ông lại viết như vậy.

Ông kể: “Quả thật hồi đó trong làng còn có cả trẻ nhỏ và thanh thiếu niên cùng trang lứa với họ. Có lẽ tôi đã quá cảm động trước chuyện tình đẹp như mơ và cũng đầy tình tiết bi kịch của đôi lứa ấy mà “thậm xưng” lên như vậy.

Tuy nhiên, nói trẻ nhất làng thì cũng có khía cạnh không ngoa. Người ta tiếc cho cuộc tình không thành ở lứa tuổi 17, lứa tuổi nhiều sức sống nhất, yêu tha thiết nhất, thế mà giặc Pháp xâm chiếm quê hương, giết cô du kích”.

Sự đồng cảm lạ kỳ giữa nhà thơ – hình mẫu

Hai ngọn núi Đôi bây giờ vẫn còn, người dân ở khu vực xã Phù Linh đều biết câu chuyện trong bài thơ cùng tên ngọn núi, hỏi ai cũng đều có thể nhận được câu trả lời: “Cô ấy chính là người làng này”.

Nhân vật nữ trong bài thơ chính là liệt sỹ Trần Thị Bắc, con gái đầu trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Lớn lên trong thời kỳ giặc Pháp xâm lược, năm 15 tuổi Bắc đã tham gia các hoạt động đoàn thể. 17 tuổi cô vào đội du kích với nhiệm vụ làm giao thông liên lạc, tiếp tế cho đội du kích rồi được giao cả ba nhiệm vụ: quân báo, cứu thương và binh vận.

Ngày 21/3/1954, dẫn một đoàn cán bộ đi công tác, khi trở về núi Đôi thì Bắc gặp ổ phục kích của địch. Cô giao liên dù bị địch bịt miệng nhưng vẫn kịp thời la lớn để cảnh báo những người trong đoàn cùng đi phía sau, giúp các cán bộ chạy thoát.

Tức tối, địch tra hỏi nhưng không khai thác được thông tin gì từ cô du kích gan dạ này. Giặc Pháp xử bắn Bắc ngay tại chỗ. Khi đồng đội tìm đến nơi thì Bắc đã tắt thở. Đồng đội đắp mộ cho cô ở khu vực cầu Cốn, Vệ Sơn, xã Tân Minh.

Người ta cũng xác định được nhân vật “Anh đi bộ đội sao trên mũ” ấy cũng là một người có thật: ông Trịnh Khanh, người cùng xã Phù Linh. Theo lời ông Khanh kể lại, ông và cô Bắc quen nhau trong thời gian Bắc đang học y tá, và đơn vị của ông đóng quân gần đó. Là đồng hương nên có nhiều điều quý mến nhau, giữa đôi trai gái này đã hẹn ước với nhau trước khi cô Bắc học xong khoá y tá rồi quay về Phù Linh.

Đầu năm 1953, ông Khanh và cô Bắc gặp lại nhau và hai người quyết định tổ chức đám cưới ngay tại đơn vị của chú rể. Đám cưới tổ chức đơn sơ, đại diện họ nhà trai là đồng đội cùng đơn vị, đại diện họ nhà gái là mẹ của Bắc.

Vợ chồng sống với nhau được hai ngày thì chia tay, ông Khanh theo đơn vị chuyển quân đến địa điểm mới, chị Bắc trở về quê nhà Phù Linh. “Tôi không ngờ đó là cuộc chia ly vĩnh viễn”, ông Khanh nhớ lại.

Ba tháng sau ngày cưới, ông Khanh nhận được tin vợ mình đã hi sinh. Đau đớn nhưng không biết làm sao, ông tiếp tục theo đơn vị bước vào những trận đánh mới.

Khi Hiệp định Genève được ký kết, một buổi chiều cuối năm 1954, người ta nhìn thấy một anh bộ đội vai đeo ba lô bước về, nhưng không vào làng ngay mà ngồi thẫn thờ bên ngôi mộ chi Bắc ven gò Cầu Cốn. Ông Khanh nghẹn ngào “Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng cây, bờ cỏ, con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em”. “Không hiểu vì sao nhà thơ Vũ Cao lại có thể đồng cảm, hiểu tâm trạng của người trong cuộc đến như thế”, ông Khanh nói.Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, ông Khanh đã tới tìm gặp nhà thơ Vũ Cao, nhà thơ lúc đó mới bàng hoàng: “Thế Bắc có chồng rồi à?”.

Theo nhà thơ Vũ Cao, khi mới bắt gặp câu chuyện, ông đã dự định sẽ viết một truyện ngắn về đề tài này chứ không phải là một bài thơ. “Không hiểu vì sao, sau khi đi thực tế, tứ thơ dâng lên và bài thơ ra đời”, ông kể lại.

Hàng chục năm sau khi bài thơ ra đời, nhiều bạn đọc còn nhầm tưởng bối cảnh và tình huống trong bài thơ là của chính tác giả. Trong một lần nói chuyện với sinh viên Trường cao đẳng Sư phạm Hà Nội, thậm chí còn có một cô sinh viên nước mắt lưng tròng thầm thì với nhà thơ “Cháu thương bác quá”.

Một nhà thơ từng nói, Vũ Cao là nhà thơ hiền hiếm có. Rằng Vũ Cao nổi tiếng sau kháng chiến chống Pháp với bài thơ Núi Đôi bất tử, Vũ Cao lẽ ra có thể nhân thành công đó để đưa thơ mình lên. Nhưng ông lại cứ như người bộ hành chậm rãi, nhường đường cho người khác, cho các nhà thơ khác. Vũ Cao nói, ông làm thơ, mục đích cũng chỉ là để phục vụ bộ đội mà thôi.

Mẹo du lịch:

Để tự vệ khi bị cướp hoặc khủng bố, bạn nên tự học Vịnh Xuân Quyền miễn phí online.

Mang theo một lọ tinh dầu thiên nhiên diệt virus, đề phòng bệnh dịch, và đảm bảo sức khoẻ.

Khi ở khách sạn, hãy để ý gài chốt an toàn để phòng tránh trộm cướp.

Nên đeo trên người theo một món trang sức đá phong thuỷ để gặp may mắn.

Đọc các mẹo vặt về sức khoẻ để tự sơ cứu và điều trị khi gặp sự cố.

Chuyện Cổ Tích Có Thật Hay Không?

Những câu chuyện cổ tích thú vị, đậm chất nhân văn luôn là một phần trong ký ức tuổi thơ của mỗi người. Khi còn nhỏ chúng ta tin rằng chuyện cổ tích có thật. Theo thời gian, thực tế phũ phàng của cuộc sống khiến những người trưởng thành mất đi niềm tin vào thế giới thần thoại. Nhưng trong quá trình phát triển của nhân loại, một số chuyện cổ tích đã được giới khoa học xác nhận rằng chúng không quá xa vời thực tế.

Bạn có thể đã từng đọc Nàng bạch tuyết và Bảy chú lùn. Vậy thế giới của những chú lùn có thật sự tồn tại?

Nàng tiên cá có nửa trên là người, nửa dưới là cá. Liệu có thế giới của người cá dưới đại dương sâu thẳm kia?

Trước cái chết trong đêm đông giá lạnh, bé gái trong truyện Cô bé bán diêm đã không hề sợ hãi. Trái lại, em cảm thấy ấm áp, vui tươi, và còn được gặp người bà thân yêu của mình. Đó có thật là những cảm xúc diễn ra trong tình huống cận tử hay chỉ là trí tưởng tượng của tác giả?

Hay câu chuyện Những bông hoa của cô bé Ida miêu tả những bông hoa biết nói, cười và khiêu vũ. Vậy thực vật có cảm xúc không?

Chuyện cổ tích ‘Bảy chú lùn‘ có dấu ấn từ tiền sử

Theo tạp chí Nature, các nhà khoa học đã phát hiện một chủng người lùn – gọi là “người Flore”. Họ sống ở đảo Flores (Indonesia) 18.000 năm về trước.

Di vật khảo cổ được tìm thấy là bộ xương của một phụ nữ trưởng thành, cao khoảng 1m. Thêm vào đó là một số mảnh xương, ước đoán thuộc về 7 cá thể khác nhau. Não của chủng người lùn này chỉ bằng khoảng 1/4 não người hiện nay. Họ biết chế tạo công cụ bằng đá, dùng lửa, săn bắn tập thể…

Điều thú vị là cư dân hiện nay của đảo Flores vẫn còn kể lại không ít truyền thuyết về chủng người lùn này.

Có bằng chứng của ngành địa chất học cho thấy, 12.000 năm trước một trận núi lửa dữ dội đã chôn vùi người Flores vào lịch sử. Các động vật đặc thù trên đảo cũng chịu số phận tương tự.

Câu chuyện cổ tích ‘Nàng tiên cá‘

Tượng nàng tiên cá nằm trên đá tại cảng Copenhagen, Đan Mạch là biểu tượng cho thành phố du lịch Copenhagen. Kích thước bé nhỏ của bức tượng làm những du khách đến xem lần đầu rất ngạc nhiên. Bức tượng Nàng tiên cá chỉ cao 1.25 m nhưng nặng khoảng 175 kg.

Năm 1738, Nhật báo London đã đăng tải bức hình chứng minh người cá là có thật. Sự kiện này khiến người dân xứ sương mù bàng hoàng. Bức hình chụp sinh vật đó dạt vào bờ biển Hebrides phía tây của Scotland, trong tình trạng đã chết.

Sau đó, nàng được mai táng cẩn thận. Người dân trong làng cũng ra sức bảo vệ sự tích người cá này. Bất cứ ai tỏ ý ngờ vực, họ sẵn sàng thề độc để minh chứng rằng đó là câu chuyện hoàn toàn có thật.

Và người cá thật sự

Tại vùng biển ngoài khơi Cuba, trong một lần tìm kiếm xác tàu, các chuyên gia thuộc Liên Xô cũ đã bắt được một người cá nhỏ. Đó là một bé trai, trên người mọc đầy vẩy cá, thở bằng mang và có màng chân.

Các nhà khoa học Liên Xô đã nhốt người cá này trong một cơ sở nghiên cứu bí mật ở Biển Đen. Từ đó trở đi không có thêm thông tin gì về cậu bé người cá đó nữa. Nhưng những suy luận, phỏng đoán về các cá thể khác cùng giống nòi với cậu bé kia vẫn còn sôi nổi trên các diễn đàn khoa học.

Bằng chứng được coi là thuyết phục nhất về người cá là bộ hài cốt của một “nàng tiên cá”. Bộ hài cốt này bị dạt vào bờ biển năm 1222 và được lưu giữ tại ngôi đền ở Kukuoka, Nhật Bản. Bộ hài cốt được ngâm trong nước biển gần 800 năm qua, đến nay chỉ còn một ít xương sót lại.

‘Cô bé bán diêm’ và câu chuyện trải nghiệm cận tử

Tạp chí Popular Medicine (ấn bản số 5, 1993) đã công bố kết quả điều tra về trận động đất kinh hoàng tại Đường Sơn (Trung Quốc) năm 1976. Trận động đất mạnh dữ dỗi khiến 24.000 người chết, và 160.000 người bị thương. Theo đó, hơn một nửa số người trải qua tình huống cận tử. Họ đã mô tả cảm xúc phức tạp lúc ấy. Phần lớn trong số họ cảm thấy bình tĩnh, không hề sợ hãi. Cũng như ‘Cô bé bán diêm’ đã không hề sợ khi nhìn thấy bà của mình.

Bé Lý lúc đó 12 tuổi, chia sẻ: “Dường như tôi đang ở nhà xác của bệnh viện. Ở đó có rất nhiều ma quỷ và cả những người không quen biết. Cơ thể hình như đã không thuộc về bản thân tôi nữa. Nửa thân dưới dường như không có. Còn các bộ phận khác thì rơi lả tả trong không gian. Sau đó dường như tôi rơi vào một vực sâu vạn trượng bốn bề tối om.

Tôi nghe thấy những âm thanh kỳ lạ. Cảm giác này kéo dài tới nửa giờ, tôi nghĩ lần này chắc mình xong rồi. Chưa kịp trưởng thành đền đáp công ơn cha mẹ đã phải rời xa họ. Lúc này bỗng nhiên bản thân hồi tưởng lại những ký ức ngắn ngủi trong cuộc đời của mình. Tuy nhiên đó chỉ đơn thuần là “một luồng ý thức”, nghĩ tới đâu thì xuất hiện ở đó, dường như không bị não chi phối nữa”.

‘Những bông hoa của bé Ida’ và thí nghiệm thực vật

Năm 1966, Cleve Baxter- chuyên gia phát hiện nói dối người Mỹ đã làm thí nghiệm với một số đối tượng thực vật. Ông gắn máy dò nối dối lên lá một cây hoa ngưu thiệt lan và tưới nước để xem phản ứng thế nào.Khi đó bút điện tử của máy dò nói dối ghi lại đồ hình giống như khi con người vui mừng.

Ông kinh ngạc và nghĩ “Hay mình thử đốt lá nó xem sao?”. Ngay khi ý nghĩ đó hình thành, bút điện tử đã vẽ ra một đường cong giống như kết quả kiểm tra đối với một người đang sợ hãi. Phát hiện của ông gây chấn động thế giới. Câu chuyện này cũng được đề cập đến trong cuốn sách Chuyển Pháp Luân, một cuốn sách được cả trăm triệu người đọc.

Còn có giáo sư Jack Schultz – Đại học Missouri (Columbia, Hoa Kỳ). Ông cùng đồng nghiệp dành 40 năm để nghiên cứu tương tác giữa côn trùng và thực vật. Trong quá trình thí nghiệm, ông cho một con sâu đang đói ăn lá cây. Tiếng gặm lá của sâu đã kích thích cái cây bên cạnh tiết ra một lượng lớn hoạt chất hóa học để xua đuổi côn trùng. Thực vật không có tai, vì sao chúng có thể phòng thủ trước những âm thanh đe dọa mình?

Không gian chúng ta sống có vạn điều bí ẩn, giống như chuyện cổ tích nhưng lại hiện hữu

Đến ngày nay, các nhà khoa học không thể đưa ra giải thích hoàn chỉnh cho những hiện tượng này. Có hàng vạn điều bí ẩn và kỳ diệu ta không nhìn thấy. Nhưng vẫn hiện hữu trong đời sống hàng ngày. Giống như bạn không nhìn thấy sóng âm. Nhưng những ca khúc vẫn đi trong không gian và đến chiếc radio, hay những bộ phim hành động được chiếu trên TV qua sóng VHF…Tôi tin các câu chuyện cổ tích. Tôi hiểu chúng không đơn thuần là sản phẩm sáng tạo của trí tưởng tượng. Mà chúng thực sự có thật và đã đồng hành với lịch sử nhân loại. Còn bạn thì sao?

Italia Lặp Lại Câu Chuyện Cổ Tích Có Thật

DỰ WORLD CUP TRONG HÌNH ẢNH TAN TÁC

Nếu như có sự tương đồng giữa hai câu chuyện “cổ tích có thật”, thì sự tương đồng chỉ là nội dung: đội tuyển Italia luôn biết cách xiết chặt tay nhau, đoàn kết và cùng nhau vượt qua sóng gió với thành công mỹ mãn. Cả hai danh hiệu vô địch World Cup trong kỷ nguyên hiện đại của Italia đều đến sau những cơn đại hồng thủy làm Calcio tan tác.

Nhưng xét về “cường độ” của sự việc thì Calciopoli 2006 lớn gấp bội Totonero 1980, và chức vô địch World Cup 2006 của Italia do vậy cũng kỳ diệu hơn chức vô địch World Cup 1982.

Khác biệt quá lớn, khi người ta phanh phui, tố tụng và kết luận việc dàn xếp trọng tài của Juventus. Đó là sự gian lận cực kỳ công phu, có tổ chức, có hệ thống, có tính toán, và kéo dài rất lâu. Nó nghiêm trọng hơn hẳn so với việc dàn xếp tỷ số những trận đấu cụ thể chủ yếu chỉ để trục lợi trên thị trường cá cược.

Tinh thần bất lợi thì hẳn nhiên rồi. Nhưng còn biết bao vấn đề quan trọng như chuyển nhượng, lương bổng. Hoặc giả, liệu sẽ lại có những cuộc điều tra mở rộng? Sẽ có cầu thủ liên lụy trong tương lai…? Suy cho cùng, Fabio Cannavaro và nhiều cầu thủ khác đã phải trả lời thẩm vấn. Đã có lời kêu gọi Italia rút tên khỏi World Cup!

Hàng ngày, Cannavaro hoặc các ngôi sao như Gianluigi Buffon, Andrea Pirlo đều xuất hiện trên mặt báo, nhưng không phải với các đề tài chuyên môn mà chỉ với những câu chuyện ngoài sân cỏ. Ác ở chỗ: scandal Calciopoli bùng nổ ngay trước thềm World Cup (tháng 5/2006), và nó tiếp diễn, song song với World Cup.

Từ Đức, các cầu thủ thuộc CLB Juventus trong hàng ngũ Azzurri như Alessandro Del Piero hoặc Gianluca Zambrotta phải cấp tốc trở về Turin để thăm Gianluca Pessotto. Cựu danh thủ Pessotto khi ấy là một quan chức Juventus và ông đã nhảy lầu tự tử vì stress. Tóm lại, thật khó mà kể xiết những khó khăn của thầy trò Marcello Lippi, khi họ bước vào World Cup trong bối cảnh như vậy.

Cũng cần nói thêm: trong điều kiện bình thường, Azzurri vốn đã bị xem là một đoàn quân không có ngôi sao tại World Cup 2006. Dĩ nhiên họ có Fabio Cannavaro hoặc Andrea Pirlo, nhưng chưa đủ. Thủ môn Buffon là thành viên duy nhất trong hàng ngũ Azzurri có thể sánh với siêu sao của các đội khác về mặt tên tuổi.

Pháp có Zinedine Zidane. BĐN có Cristiano Ronaldo. Argentina có Juan Riquelme. Brazil có Ronaldinho. Toàn các nghệ sỹ lớn. Còn Azzurri dự World Cup với 4 cầu thủ đến từ… Palermo. Tiền vệ Gennaro Gattuso, luôn được đánh giá rất quan trọng trong đội hình Italia, chỉ là “công nhân” chứ không bao giờ là “nghệ sỹ”.

Azzurri khởi đầu một cách tốt đẹp, với chiến thắng 2-0 trước Ghana. Sau đó, tuy tỏ ra mờ nhạt trong trận hòa Mỹ 1-1, Italia vẫn thắng CH Czech 2-0 để tiến vào chặng knock-out với ngôi đầu bảng. Đấy là trận thắng giúp HLV Marcello Lippi, nếu ông nói đúng, thật sự tin rằng Italia có khả năng vô địch World Cup.

Tại Đức, các tuyển thủ Italia luôn tập trung cao độ mỗi khi ra sân, như thể họ không biết gì về scandal Calciopoli. Còn ở đất nước hình chiếc ủng, hiếm khi người dân Italia treo quốc kỳ tràn ngập như trong những ngày Azzurri lầm lũi tiến đi tại World Cup 2006. Áo đội tuyển được bày bán khắp các hè phố.

Cũng có lý khi người ta cho rằng Italia thắng Australia ở vòng 1/8 với hình ảnh kém thuyết phục, nhưng có bao giờ Azzurri cần đến sự thuyết phục? Điều quan trọng là Marcello Lippi đã xây dựng được một đội bóng tuyệt vời hơn là kết hợp những ngôi sao sáng với nhau.

Tinh thần và lối chơi đồng đội của Italia tại World Cup 2006 là điều mà các tifosi không thấy được tại World Cup 2002 hoặc EURO 2004. Có đến 10 cầu thủ khác nhau ghi bàn cho Italia tại World Cup 2006. Trừ 2 thủ môn dự bị, mọi thành viên còn lại trong đội đều lần lượt ra sân.

Thắng chủ nhà Đức trong hiệp phụ và thắng Pháp – một đối thủ trên tài – bằng loạt sút luân lưu 11m, Italia đã đăng quang vô địch World Cup lần thứ 4, một cách hiển hách. Việc FIFA trao danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất giải cho ngôi sao Pháp Zidane cùng việc Italia không hề là đội số 1 trong bảng xếp hạng của FIFA, cả trước lẫn sau World Cup, càng cho thấy nỗ lực của thầy trò Lippi tuyệt vời như thế nào.

(Từ 9/6 đến 9/7/2006, tại Đức)

– Vua phá lưới: Miroslav Klose (Đức, 5 bàn)

– Thủ môn xuất sắc nhất: Gianluigi Buffon (Italia)

– Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất: Lukas Podolski (Đức)

– Cầu thủ xuất sắc nhất: Zinedine Zidane (Pháp)

Phân Tích Cảm Hứng Lãng Mạn Và Âm Hưởng Bi Tráng Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Tây Tiến (1948) là bài thơ tiêu biểu nhất của đời thơ Quang Dũng, đồng thời cũng là một thành tựu đáng ghi nhớ của nền thơ ca kháng chiến chống Pháp. Là sản phẩm của một hồn thơ trẻ trung, phóng khoáng, hơn nữa nội dung lại nói về một thời gian nan mà hào hùng của lịch sử dân tộc, thật dễ hiểu khi bài thơ có hai nét đặc sắc cơ bản bao trùm là cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng.

Một tác phẩm có cảm hứng lãng mạn bay bổng là tác phẩm mà ở đó những cảm xúc của nhân vật trữ tình được thể hiện với cường độ mạnh, trí tưởng tượng được phát huy hết mức, những cái phi thường tuyệt mĩ được tô đậm và thủ pháp đối lập được sử dụng một cách rộng rãi, thường xuyên.

Tây Tiến quả là một tác phẩm hết sức lãng mạn. Điều dễ nhận thây trước tiên là độ sâu, độ mạnh trong cảm xúc của nó. Cả bài được bao bọc trong một nỗi nhớ ăm ắp, nổng nàn, vừa xoáy sâu, vừa lan tỏa. Không có nỗi nhớ đó thì chắc chắn không có cả bản thân bài thơ, bời tất cả những điều được nói tới trong bài đều thuộc về quá khứ, giò đây nhờ kí ức, nhờ nỗi nhớ mà sống dậy. Không phải tình cờ mà từ “nhớ” xuâ’t hiện nhiều lần trong bài và cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà thoạt đầu tên của tác phẩm gồm ba chữ: Nhớ Tây Tim. Mở đầu bài tho, tác giả đã viết

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi ! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Hai câu này đã nói lên rất rõ niềm thôi thúc bên trong khiên tác giả đã viết nên Tâỵ Tiến. Chính nỗi “nhớ chơi vơi” chứ không phải cái gì khác đã dẫn ngòi bút của tác giả đi miên man trong thế giới thơ. “Nhớ chơi vơi” có thể hiểu là nỗi nhớ vừa có vẻ xa xôi, vời vợi lại vừa có vẻ gần gũi, lửng lơ, ám ảnh hoài không cho người ta được yên, buộc người ta phải đắm chìm trong hoài niệm.

Như mọi bài thơ thấm dẫm cảm hứng lãng mạn khác; bài thơ Tây Tiến chứa đựng nhiều hình ảnh gây ấn tượng mạnh cho độc giả. Đối tượng miêu tả ở đây có thật nhiều nét phi thường. Hãy đọc một đoạn tả dốc trong bài:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Dốc cứ cao lên, cao mãi hút mắt nhìn để rồi đổ gập xuống, sâu dường như vô cùng tận. Ta tưởng như gặp lại mảnh núi non hiểm trở, hùng vĩ, đầy thách thức từng được thi hào Lí Bạch nói tới trong bài Thục đạo nan (Đường Thục khó): “Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên (Đường Thục khó đi, khó hơn cả lên trời xanh). Dốc đã thế, mưa cũng mịt mùng bùa vây tứ phía khiến cho trong mắt của các chiến sĩ đang hành quân, những ngôi nhà sàn như đang trôi bồng bềnh trong biển nước. Cái dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc còn được tô đậm trong hai câu có âm điệu hết sức mạnh mẽ:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Thật là một cuộc “diễu võ dương oai” đầy ngoạn mục của núi rừng, khiến cho những kẻ yếu bóng vía có thể run lên vì sợ hãi.

Nhưng địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến không phải chỉ thuần những cảnh ghê gớm như thế. Đã bao lần nó phô ra vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng, say đắm của mình trước con mắt háo hức quan sật của người lính chiến:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Đúng là một vẻ đẹp quá đỗi nguyên sơ, thanh khiết, gợi cảm đến nao lòng. Những bông lau xám bạc phất phơ bên bờ suối, những cánh hoa rừng chòng chành, “đong đưa” trên dòng nước lũ nhự giấu trong mình cả một câu chuyện cổ tích về núi rừng miền Tây mà ta chưa có điều kiện khám phá hết được.

Việc miêu tả những nét độc đáo khác thường của thiên nhiên là một trong những điều kiện quan trọng tạo nên cảm hứng lãng mạn cho bài thơ. Cảm hứng lãng mạn đó còn được đẩy lên một mức nữa khi tác giả đi sâu khám phá bản tính lãng mạn, mộng mơ của những người lính Tây Tiến. Thật ra thì tất cả những câu nói về vẻ đẹp của thiên nhiên Tầy Bắc đã dẫn ra trên kia đều đã bao hàm ý khẳng định chất thi nhân của các anh “bộ đội Cụ Hồ”. Trên đường hành quân, họ chưa một lần bỏ lỡ cơ hội ngắm nhìn những vẻ đẹp hiếm thấy trong đời. Mắt nhìn dốc cao, đầu gội trong mưa lớn, tai nghe tiếng thác thét gầm, cả sinh mạng đối diện cùng thú dữ, chừng ấy trải nghiệm đã khiến cho máu phiêu lưu trong họ bị kích thích rnạnh. Còn khi được sống với cảnh “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”, với cảnh chiều sương” nơi Châu Mộc, chắc chắn họ cảm thây nổi niềm thơ thức dậy dạt dào. Chẳng thế mà giữa những ngày gian khổ, họ vẫn hào hứng tổ chức các đêm lửa trại tưng bừng náo nhiệt. Trong cái đêm vui đó, những “dáng hồng” sơn cước đã làm họ ngất ngây say:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Làng mạn đến mức ấy, quả khó ai hơn được!

Trong các tác phẩm được viết theo cảm hứng lãng mạn, thủ pháp đối lập thường rất được chú ý khai thác, Bài Tây Tiến cũng nằm trong thông lệ đó. Sự đối lập ở đây có nhiều cấp độ, trước hết là đối lập về hình ảnh. Ta có thế thấy rõ điều này qua các đoạn của bài thơ. Ở đoạn một, ngòi bút tác giả nghiêng về miêu ta sự hào hùng, dữ dội của thiên nhiên, còn ở đoạn hai, nét thơ mộng của nó được ưu tiên nhấn mạnh. Cũng có khi, sự đối lập đó được thể hiện trong hai câu liền kề nhau:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Câu trên nhấn mạnh sự khắc nghiệt, đe dọa, còn câu dưới lại diễn tả một cảnh tượng làm ấm lòng người; Cũng qua hai câu này, đặc biệt là câu sau, ta còn nhận ra sự đối lập về thanh điệu đã được Quang Dũng sử dụng rất tài tình trong cả bài thơ: có những câu thơ “khổ độc” (khó đọc) dày đặc thanh trắc đi kèm những câu toàn thanh bằng gợi cảm giác nhẹ nhõm, lâng lâng. Thử so sánh câu “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” với câu “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, ta sẽ thấy rất rõ điều đó. Tất nhiên không phải sự đối lập nào cũng bao gồm những nét tương phản loại trừ nhau. Trên thực tế, các mặt đối lập, tương phản có thể gắn với nhau trong một thể thống nhất, như phẩm chất can trường gắn với phẩm chất lãng mạn trong bản thân mỗi người lính Tây Tiến vậy.

Ở bài Tây Tiến, Quang Dũng thường sử dụng những cách ví von độc đáo, táo bạo làm nổi bật tính chất khác thường của sự vật. Chẳng hạn theo góc nhìn từ dưới hắt lên, nhà thơ thấy mũi súng trên vai người lính đi trên đỉnh dốc đang “ngửi trời”. Ở một câu khác, tác giả diễn tả sự rình rập của cọp dữ bằng hai chữ “trêu người” rất ấn tượng… Tấ’t cả những điều này đều góp phần nhất định làm nên phong vị lãng mạn đậm đà của tác phẩm.

Có một thời kì dài bài thơ Tây Tiến bị ngại nhắc đến. Những người không thích nó chắc có lẽ dị ứng với âm hưởng bi tráng vốn thấm đẫm trong từng chữ từng câu của bài thơ. Giờ đây, đọc lại Tây Tiến, có lẽ không còn ai cảm thấy cấn cái với nó nữa, và chất bi tráng cũng đã được nhìn nhận khác đi. Khi nói đến chất bi tráng của một tác phẩm văn học nào đó, người ta thường nói sự tổn tại song song, hòa quyện giữa hai yếu tố “bi” và “tráng”. “Bi” là đau buồn, bi ai và “tráng” là khỏe khoắn, mạnh mẽ. Tác phẩm có giọng bi tráng thường không tránh né những chuyện xót xa, đau lòng nhưng bao giờ cũng đưa đến được cho độc giả những xúc cảm mạnh và rắn rỏi.

Đọc suốt bài thơ Tây Tiến, người ta dễ nhận ra một điều: Quang Dũng không ít lần viết về cái chết và chưa bao giờ nói cho nhẹ đi những gian khổ chất chồng mà các chiến sĩ phải đương đầu. Lắng nghe âm điệu của những câu tả dốc, ta thấy dội lên tiếng thở nặng nhọc của các anh lính Tây Tiến. Hành quân đường dài qua núi cao, vực sâu, trong “đoàn quân mỏi” có người đã ngã xuống:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời !

Dù đã cố dùng lối diễn tả khô, gọn, nhà thơ vẫn không giấu nổi lòng mình. Trong hai chữ “dãi dầu” ta đọc thấy có biết bao niềm xót xa thương cảm vô bờ bến.

Là người đã từng trải qua những ngày Tây Tiến, Quang Dũng nhìn rõ hơn ai hết khuôn mặt hung tợn của tử thần có tên gọi là “sốt rét”. Chính căn bệnh quái ác nơi núi rừng âm u này đã tàn phá thể chất các chiến sĩ một cách phũ phàng. Tóc họ không mọc nổi, da xanh mét như tàu lá, con người luôn đứng chân noi biên giới mong manh giữa cái chết và sự sống. Đã bao lần nhiều người trong họ đành phải ôm hận lìa đời. Các anh là ai trong số những nấm “mồ viễn xứ” nằm “rải rác biên cương’ dài vô tận? Đọc thơ Quang Dũng, có lẽ tất cả chúng ta đều cảm thấy đau nhói trong lòng. Chi tiết “Áo bào thay chiếu anh về đất” đã cực tả những thiếu thốn khó tưởng tượng nổi của đoàn quân Tây Tiến. Một chiến sĩ hi sinh, nhiều khi đồng đội không tìm nổi một mảnh chiếu để liệm xác.

Mặc dù thường đề cập những chuyện đau buồn, bài thơ Tây Tiến vẫn không đưa đến cho ta cảm xúc bi lụy. Đọc tác phẩm, chúng ta thường thấy có một cái gì đó mạnh mẽ và to lớn cứ dâng lên choáng ngợp lòng mình, khiến ta trở nên trầm tình hơn, cứng cỏi hơn. Cái gốc của vấn đề là ờ chỗ: một mặt bản thân Quang Dũng nói về mất mát với thái độ chấp nhận lặng lẽ mà kiên quyết, mặc khác, nhà thơ rất chú ý nêu lên các chi tiết về nghị lực sống vô tận cũng như chất trượng phu của những người chiến sĩ. Ví như hai câu nói về cái chết đã dẫn ra ở trên. Cái chết ấy một mặt gợi lên niềm xót thương, mặt khác, gợi sự kính trọng, ngưỡng mộ. Quang Dũng đã rất có ý thức nhấn mạnh tư thế người chiến sĩ lúc hi sinh. Các anh hi sinh ngay trên đường hành quân, trong lúc làm nhiệm vụ. Sức lực đã tàn và vẫn bước, đến khi không bước được nữa thì gục lên súng mũ và ra đi – một sự ra đi quá đỗi nhẹ nhàng như vịệc đắm mình vào giấc ngủ. Mấy từ “bỏ quên đời” được dùng rất sáng tạo đã góp phần chuyển biến am hưởng câu thơ từ ” bi” sang “tráng” . Hãy đọc tiếp những câu thơ có lối diễn tả khác thường này nữa :

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Ai chẳng hiểu cái sự ” không mọc tóc” kia là hậu quả của bệnh bốt rét, nhưng khi tác giả đã viết “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” thì ta lại có cảm tướng rằng đoàn binh ấy không thèm mọc tóc, rằng họ chù động như vậy (ý của Chu Văn Sơn). Tiếp theo, khi tác giả đặt cụm từ “dữ oai hùm” bên cạnh cụm từ “Quân xanh màu lá” thì âm điệu toàn bộ câu thơ không còn bi ai nữa mà trợ nên cứng cỏi lạ thường. Vũ Quần Phương từng khen Quang Dũng “tả lính ốm mà không thấy lính yếu’ – điều đó thật chí lí! Cần phải nói ngay rằng sở dĩ nhà thơ chọn cách diễn tả đó là bởi vì trong thực tế những người lính Tây Tiến vốn có cốt cách trượng phu khá rõ. Dù cuộc sông có gian nan thế nào, họ vẫn giữ được sự bình thản, yên tĩnh của tâm hồn. Trong giấc mơ, hình ảnh nhũng kiều nữ chốn đô thành thỉnh thoảng vẫn cứ hiện lên, tiếp thêm nguồn sinh lực mói cho họ. Từ ngày ra đi, họ đã xác định được những gian khổ của đời lính chiến, đã chấp nhận nó, xem nó như sự thủ thách đối với chí làm trai. Đến lúc hi sinh, nỗi hận lớn nhất cùa họ là việc lớn chưa thành. Có lẽ trong tiếng “gầm” của dòng sông Mã đổ về xuôi có tiêng “gầm” của nỗi hận đó. Chính nó đã được trời đất chứng kiến, cảm thông và nâng lên một tầm vóc mới khiến chúng ta phải kính cẩn nghiêng mình.

Có thể thấy thêm ở bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng đã dùng rất nhiều từ Hán Việt trang trọng, cố kính như “đoàn binh”, “biên cương”, “viễn xứ*” “độc hành”… Việc dùng từ như vậy đã góp phần đắc lực thể hiện tráng khí và chất chinh phu hào hùng của những người lính cũng có nghĩa là nó có tác dụng làm tăng thêm âm hưởng bi tráng cho tác phẩm.

Nửa thế kỉ trôi qua kể từ ngày bài thơ Tây Tiến ra đời. Đã có nhiều vấn đề , nhiều sự việc bị phôi pha cùng năm tháng , nhưng bài thơ Tây Tiến vẫn còn đó, sừng sững như một tượng đài bất tử về những người lính vô danh thời chống Pháp. Với cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng của mình, bài thơ luôn làm sống dậy trong ta kí ức về một thời kì lịch sử không được phép quên, không thể nào quên.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chuyện Tình Bi Tráng Có Thật Trong Bài Thơ “Núi Đôi” trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!