Đề Xuất 2/2023 # Chuyên Đề Ngữ Văn Lớp 6: Dạy Học Truyện Dân Gian Qua Hình Thức Sân Khấu Hoá # Top 3 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Chuyên Đề Ngữ Văn Lớp 6: Dạy Học Truyện Dân Gian Qua Hình Thức Sân Khấu Hoá # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chuyên Đề Ngữ Văn Lớp 6: Dạy Học Truyện Dân Gian Qua Hình Thức Sân Khấu Hoá mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Học văn là gì? Học văn là cảm thụ và tiếp nhận cái hay, cái đẹp cả về giá trị nội dung lẫn hình thức của một tác phẩm văn chương. Cốt lõi của việc học văn là rèn luyện con người biết yêu cái đẹp, có lối sống nhân văn, trở thành một con người có ích cho xã hội.

Chuyên đề môn Ngữ văn lớp 6 được cô giáo Phan Thị Ngọc Lệ thực hiện ngày 20/10/2020 đã giúp HS hiểu thế nào là học văn, thế nào là học văn học dân gian.

Văn học dân gian -món ăn tinh thần của người dân lao động – là tâm tư tình cảm của con người. Nó bao gồm nhiều thể loại, trong đó truyện cổ tích là một trong những thể loại lớn tạo nên những giá trị vượ thời gian; đó là những câu chuyện đêm khuya bà và mẹ vẫn kể, đó là những giấc mơ huyền diệu của tuổi thơ về những nàng công chúa xinh đẹp, những chàng hoàng tử thông minh, anh dũng, những vị vua anh minh, nhân hậu, những trạng nguyên thông thái, lỗi lạc…

Hôm nay các em học sinh khối 6 trường THCS Đồng Mai được trải nghiệm một tiết học truyện cổ tích theo một cách rất tự nhiên. Các em được hóa thân vào các nhân vật trong truyện, thỏa sức sáng tao cho nhân vật của mình. Các em đã chọn nhiều hình thức kể chuyện: đóng kịch, kể chuyện theo tranh, kể diễn cảm…

Bằng ngôn ngữ hình ảnh của mình, các em đã khiến nội dung câu chuyện trở nên đơn giản, gần gũi và sinh động. Tự nhiên như thế, các em đã thấm, hiểu nội dung và yêu thích truyện cổ tích.

Một giờ học văn vui vẻ và bổ ích.

”Bài Viết Chuyên Đề Văn Học Dân Gian”

Đây là những bài viết có sự đầu tư về thời gian, công sức. Tuy mới làm quen với kiểu bài nghị luận văn học của bậc THPTnhưng các em chứng tỏ có sức viết bền bỉ, dẫn chứng phong phú, so sánh mở rộng, liên hệ thực tế sinh động.

Đề 1:

Truyền cổ tích là những giấc mơ. Theo em, nhân dân lao động gửi gắm những giấc mơ nào vào truyện cổ tích.

Bài làm của học sinh Ngô Phương Liên 10D2

Truyện cổ tích là một trong những loại truyện cổ dân gian ra đời khi xã hội phân chia giai cấp. Truyện cổ tích hay kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật như: nhân vật bất hạnh, nhân vật có nhiều phép lạ, nhân vật thông minh hoắc ngốc ngếch,… Truyện cổ tích thường mang yếu tố hoang đường, nó thể hiện ước mơ và niềm tin của nhân dân về cái thiện cái ác, cái tốt thay thế cái xấu ước mơ về ấm no hạnh phúc.

Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp, là một thế giới thần tiên, đầy phép nhiệm màu, nó thể hiện những khát vọng tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội. Đọc truyện cổ tích, ta bắt gặp những giấc mơ đẹp của người lao động xưa. Vâng có khi nào ta tự hỏi tại sao họ phải mơ ước không? Con người xưa ta mơ khi thực hiện không đáp ứng được sự mong mỏi, cho nên phải hướng về một thế giới khác, tươi đẹp hơn, đúng như mong đợi của họ. Người xưa cũng vậy, cuộc sống của họ là một bể khổ tưởng như khó lòng thoát ra khỏi được. Một cuộc sống luôn bị áp bức chiến tranh, một cuộc sống bị đè nén bóc lột cả về thể chất lẫn tinh thần. Họ phải làm việc cực nhọc ngày qua ngày năm qua năm những luôn phải chịu đói khổ cực nhọc như anh nông dân nghèo Thạch Sanh… Họ luôn bị khinh thường rẻ rúng, bị tước đoạt quyền được yêu thương, quyền làm người như Cô Tấm, Sọ Dừa… Vì thế họ phải mơ. Khát vọng công bằng trong xã hội, một khát vọng thường trực mà ta luôn gặp trong truyện cổ tích. Dễ dàng thấy nhân vật chính nằm trong chuyện là những con người riêng, những người dị dạng xấu xí, những kẻ làm thuê, những người nghèo khó… họ bị ngược đãi. Cô Tấm bị dì ghẻ hắt hủi, bắt làm việc tối ngày, anh nông dâ bị phú ông lừa bóc lọt sức lao động một cách thậm tệ. Sọ dừa bị mọi người coi ngường, không được coi ngường, không được coi là người. Nhưng họ có thể làm gì được nay chỉ là thân phận thấp cổ bé họng, thân phận con sâu con kiến? Bởi thế họ luôn mơ ước có những thế lực siêu nhiên như ông Bụt, cô tiê, vua thủy tề hay chiếc đàn thần, nồi cơm thần… Sự xuất hiện của những vị thần tiên này đào tạo lên sự công bằng trong truyện cổ tích. Sự công bằng ở đây tức là sự chiến thắng của cải thiện trước những thế lực đen tối, tội ác. Chính vì thế trong truyện ta mới bắt gặp những kết thúc có hậu, Thạch Sanh nghèo lấy được công chúa, cô Tấm đáng thương trở thành hoàng hậu. Rõ ràng dây là khát vọng của họ, mơ ước của họ những chỉ là giấc mơ không có thật nhưng cũng đủ để họ giảm bớt những âu lo của tháng ngày lao động vất vả.

Không chỉ dừng ở đó, người xưa còn ao ước được tự do hôn nhân, tự mình quyết định lấy hạnh phúc của mình. ƯỚc mơ này là chính đáng, bởi xã hội phong kiến đã trói buộc con người đặc biệt là người phụ nữ trong các luật lệ hà khắc như ” cha mẹ đặt đâu con ngồi đó nam nữ thụ thụ bất thân”, “tam tòng tứ đức”. Vì thế mà tự do hôn nhân có thể coi như mơ ước rất quan trọng đối với người xưa. Nói về vấn đề này Chử Đồng Tử hay cụ thể hơn là cuộc hôn nhân Chử Đồng Tử – Tiên Dung là một minh chứng hùng hồn, đây là mối tình đẹp. Đẹp vì đó là mối tính thực sự của hai trái tim bất chấp mọi luật lệ hà khắc của xã hội phong kiến về đẳng cấp, về địa vị xã hội. Tiên Dung khi lấy Chử Đồng Tử không có một băn khoăn nào vì mình là một công chúa đã lấy anh thuyền chài nghèo rớt mùng tơi.Nàng bất chấp sự ngăn cản của vua cha, đó là một thiếu nữ có bản lĩnh. Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử một cách bất ngờ tại một vùng trời bao la. Mối tình của họ cũng đột ngột và phóng khoáng như thiên nhiên vậy. Đẹp là vì nó hợp với lòng người nên được thần tiên giúp đỡ. Nhờ vậy, mà vợ chồng Tiên Dung đã sống những ngày hạnh phúc, rồi lại cùng trở về cõi vĩnh hằng. Mối tình Tiên Dung và Chử Đồng Tử chỉ có thể trở thành hiện thực trong truyện cổ tích mà thôi. Vì thế trải qua nhiều thế kỉ nó vẫn là giấc mơ đẹp, là tiếng nói khao khát tự do yêu thương, đặt tình yêu lên tất cả.

Những ước mơ trên không thể thực hiện được trong đời sống hằng ngày, nó chỉ có thể thực hiện được trong các truyện cổ tích nhờ những phép nhiệm màu. Tuy nhiên, chính nhờ có những giấc mơ đẹp mà truyện cổ tích trở thành niềm an ủi, thành nguồn động viên, thành người bạn tin cậy của nông dân từ thế kỉ này sang thế kỉ khác, Vâng có một nhà văn nổi tiếng đã từng nói “chuyện cổ tích là những giấc mơ đẹp”, giấc mơ nuôi dưỡng nhân cách con người. Truyện cổ tích không có thạt nhưng giấc mơ cổ tích là đôi cánh kì diệu để nâng đỡ cho nhân cách của con người ngay trong ngập ngụa đau khổ đời thường, là điểm tựa để họ sống và hi vọng một ngày mai giấc mơ không còn là giấc mơ nữa.

Khép lại những câu chuyện cổ tích thần kì, ta lại trở về hiện thực đương thời với biết bao chuyển động như nó vốn có. Ngày nay khi thế giới đã bước vào một thời đại hoàn hảo, có thể nói nơi mà chúng ta đang sống giống như một thế giới thần tiên vậy, ngày xưa trong truyện cổ tích những ước muốn xa hoa hay nhà cao cửa rộng còn xa vời nhưng ngày nay chúng ta có thể có được một cách dễ dàng. Trong xã hội ngày nay, khi mà mọi điều kiện về cả vật chất lẫn tinh thần của con người đều đã tiền bộ và vượt xa hơn rất nhieuf so với thời kì khi mà những truyện cổ tích ra đời, liệu rằng trong thế giới thực này, còn có những câu chuyện cổ tích thực sự? Ngay trong thực tế đã chứng minh, vẫn còn tồn tại rất nhiều câu chuyện cổ tích trong đời thực. Mọt cô bé đến từ bang hẻo lánh của Mĩ, em bị mù, điếc và không nói nói được. Từ lúc em sinh ra bị mọi người kì thị và mơ ước được đến trường còn quá xa vời với em, nhưng một điều kì lạ xảy ra một bác sĩ đi làm từ thiện đã giúp em từ từ học chữ nổi bằng những động lực cố gắng không ngừng nghỉ, em đã từ từ nói được và nghe được. Điều này chắc hẳn đã chạm đén tim của mỗi người chúng ta. Tuy cuộc sống không như một giấc mơ vậy nên hãy tự tạo nên giấc mơ riêng của mỗi người và biến giấc mơ đấy thành sự thật.

Ngày nay những giấc mơ đã thành sự thật ngoài đời và những giấc mơ cổ tích lại tiếp tục gieo mầm cho những giấc mơ mới của ngày hôm nay. Những câu chuyện cổ tích dậy tuổi thơ ta biết ước mơ, khát vọng, biết tin vào những giấc mơ chân chính để sống trong cuộc đời.

(Xem tiếp đề và bài số 2)

Chuyên Đề Dạy Học Bài “Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí”

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ” MỞ ĐẦU

– Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân là mối quan hệ hai chiều, tác động qua lại, biện chứng. Nếu không có ngôn ngữ chung thì không có lời nói cá nhân và như thế con người sẽ không thể giao tiếp nhằm trao đổi thông tin, tình cảm… để xây dựng một cộng đồng, một quốc gia vững mạnh.

– Phân môn tiếng Việt với tác dụng giúp cho học sinh hiểu được ngôn ngữ chung, vận dụng ngôn ngữ chung trong lời ăn tiếng nói hằng ngày:

” Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

Bởi ngôn ngữ có sức mạnh vạn năng là chìa khóa mở cửa kho tàng tri thức, là sự kết nối yêu thương giữa trái tim đến với trái tim. Từ đó học sinh sẽ có ý thức giữ gìn, phát huy và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt.

– Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Viêt là giữ gìn một phần tâm hồn dân tộc. Việc tích hợp tình yêu tiếng Việt với các giá trị về lòng yêu nước, tinh thần dân tộc nhất là tấm lòng hướng về biển đảo quê hương sẽ hình thành cho học sinh năng lực thực tiễn, định hướng học sinh hiểu rõ vai trò trách nhiệm của bản thân trước tiếng gọi của tổ quốc từ đó có thái độ và hành vi ứng xử hợp lý để chung tay bảo vệ những giá trị vật chất và tinh thần của đất nước. Qua đó hình thành những phẩm chất cần thiết của thế hệ trẻ – chủ nhân tương lai của đất nước.

– Việc học môn Ngữ văn trong thực tiễn hiện nay còn chưa có sự gắn kết giữa lý luận với thực tiễn để có một thái độ và hành động tích cực trong cộng đồng và xã hội. Việc liên kết kiến thức trong các phân môn Ngữ văn, liên môn là cơ hội để giáo viên phát triển năng lực và hình thành những phẩm chất cho học viªn đáp ứng với yêu cầu giáo dục hiện tại.

Chủ đề: Lớp: 11 ban cơ bản Thời lượng: 6 tiết PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ

– Hiểu được khái niệm ngôn ngữ báo chí, các thể loại chủ yếu của văn bản báo chí và đặc điểm của phong cách ngôn ngữ báo chí.

– Nhận biết được 3 thể loại cơ bản của ngôn ngữ báo chí, các yêu cầu cơ bản của các thể loại này.

– Phân biệt được phong cách ngôn ngữ báo chí với các phong cách ngôn ngữ khác đăng tải trên báo

– Có niềm yêu thích hứng thú với các chương trình báo chí.

– Có ý thức quan tâm theo dõi tin tức báo chí để có những hiểu biết xã hội và thái độ sống đúng đắn tích cực.

– Biết tích luỹ những kinh nghiệm cần thiết để có thể viết được những bản tin, trước mắt là để phục vụ cac hoạt động trong nhà trường và sau đáp ứng các vấn đề trong cuộc sống.

– Năng lực tự học: Tự giác chủ động thực hiện các nhiệm vụ học tập.

– Năng lực giải quyết vấn đề: Học sinh biết vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ để giải quyết các nhiệm vụ học tập mà giáo viên đặt ra trong tiết học.

– Năng lực quản lý bản thân: Học sinh biết tự điều chỉnh hành vi, thái độ của bản thân trước các vấn đề xã hội như: biết lên án những thái độ sống vô cảm, biết quan tâm chia sẻ và dành tình yêu thương cho những hoàn cảnh khó khăn cần giúp đỡ.

– Năng lực hợp tác: lắng nghe chia sẻ, phối hợp với các bạn trong nhóm và trong lớp.

– Năng lực sáng tạo: Sáng tạo trong việc đọc hiểu văn bản báo chí, viết 1 văn bản báo chí hấp dẫn, sáng tạo.

* Năng lực chuyên biệt:

– Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông: Học sinh biết khai thác các văn bản báo chí dưới dạng viết (báo in, báo mạng, tranh ảnh) hay dạng nói (báo phát thanh, báo truyền hình).

– Năng lực đọc – hiểu văn bản báo chí: thông qua việc tìm hiểu về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ báo chí, HS biết cách phân tích những đặc trưng (tính thông tin thời sự, tính ngắn gọn, tính sinh động hấp dẫn) của các thể loại báo chí

– Năng lực tạo lập văn bản: biết cách sử dụng các phương tiện diễn đạt của phong cách ngôn ngữ báo chí (từ vựng, ngữ pháp, biện pháp tu từ) để viết một bản tin về những sự kiện xảy ra trong cuộc sống, thực hiện phỏng vấn cũng như trả lời phỏng vấn.

– Tự chủ, tự tin trong giao tiếp và trình bày trước lớp

Bảng mô tả các mức độ nhận thức:

– Bồi dưỡng tinh thần nhân ái, yêu thương giúp đỡ nhau trong cuộc sống, trách nhiệm của bản thân trước các vấn đề cộng đồng

Hệ thống câu hỏi bài tập tương ứng

Hoạt động trải nghiệm

Hiểu được tầm quan trọng của báo chí trong đời sống nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Hoạt động hình thành kiến thức mới

I. Phong cách ngôn ngữ báo chí

Nhận biết được các dạng, các thể loại báo chí

Hiểu được khái niệm ngôn ngữ báo chí, yêu cầu riêng về sử dụng ngôn ngữ của các thể loại chủ yếu của văn bản báo chí và đặc điểm của phong cách ngôn ngữ báo chí.

Xác định được những thể loại văn bản báo chí trên một tờ báo.

Phân tích được đặc trưng phong cách ngôn ngữ báo chí với các phong cách ngôn ngữ khác đăng tải trên báo

II. Bản tin

Nắm được mục đích yêu cầu cơ bản của bản tin

Nắm được các bước cơ bản để viết bản tin, bố cục và yêu cầu của các phần trong 1 bản tin.

Khai thác và lựa chọn tin, xây dựng bố cục cho 1 bản tin

III. Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

Thấy được mục đích, tầm quan trọng của phỏng vấn và trả lời phỏng vấn trong đời sống

Nắm được những yêu cầu cơ bản và cách thức thực hiện phỏng vấn cũng như trả lời phỏng vấn

-Tích hợp với các phân môn Ngữ văn:

+ Bài hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (SGK Ngữ Văn 10 – Tập 1)

+ Bài: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (SGK Ngữ Văn 10 tập 1)

– Tích hợp với các môn:

+ Với môn GDCD:

Quan niệm về đạo đức (bài 10, SGK GDCD lớp 10)

Công dân với cộng đồng (bài 13, SGK GDCD lớp 10);

III. Phương tiện, thiết bị dạy học và học liệu:

+ Với môn Tin học: Sử dụng CNTT để tra cứu và tìm kiếm tài liệu

– Đọc chuẩn kiến thức kỹ năng, SGK, SBT, SGV, sách tài liệu tập huấn “Tích hợp giáo dục kỹ năng sống” trong chương trình GDTX – Tháng 10 năm 2014

– Tài liệu tập huấn “Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh” năm 2014

– Phiếu học tập A4, bút dạ, băng đĩa…

– Máy chiếu, Máy soi…

( Phần này yêu cầu HS chuẩn bị ở nhà)

Sưu tầm các thể loại văn bản báo chí dưới dạng viết (báo in, báo mạng, tranh ảnh) hay dạng nói (báo phát thanh, báo truyền hình) có nội dung phê phán lối sống vô cảm hoặc ca ngợi những tấm lòng nhân ái sẵn sàng giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống.

Đọc văn bản, tập trả lời các câu hỏi ở phần luyện tập

Phương pháp, kỹ thuật dạy học:

Phương pháp dạy học truyền thốngPhương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực

– Phương pháp thuyết trình

– Phương pháp vấn đáp

– Phương pháp nghiên cứu tài liệu

– Phương pháp dạy học theo dự án

– Phương pháp dạy học tích hợp

– Kỹ thuật chia nhóm

– Kỹ thuật đặt câu hỏi

– Kỹ thuật “Phòng tranh”

– Kỹ thuật bản đồ tư duy.

Bước 1: Giao dự án

Sưu tầm tư liệu minh họa cho bài học

Trước một tuần – Tại nhà

1. Hoạt động trải nghiệm (10 phút)

2. Hoạt động hình thành kiến thức mới (3 tiết)

3. Hoạt động thực hành (1 tiết)

4. Hoạt động ứng dụng (2 tiết)

5. Hoạt động bổ sung (1 tiết)

Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực

* Bước 1: Giao dự án thực hiện (Thời gian trước một tuần tổ chức hoạt động trên lớp)

Giáo viên: SGK, SBT, SGV, Các phiếu học tập, băng đĩa, máy vi tính trình chiếu

Học sinh: Đọc, soạn bài trước ở nhà, chuẩn bị chu đáo các vấn đề đã được giao

– Sưu tầm các thể loại văn bản báo chí

– Đọc và tìm hiểu:

+ Một số thể loại văn bản báo chí

+ Phương tiện diễn đạt và đặc trưng của ngôn ngữ báo chí.

? Đọc 2 văn bản báo chí sau và cho biết ý nghĩa và vai trò của báo chí đối với sự phát triển của xã hội ? Văn bản 1: Một video clip ghi lại cảnh người giúp việc bạo hành trẻ em đang gây phẫn nộ rất lớn cho cộng đồng mạng.

Giáo viên kiểm tra sĩ số lớp, kiểm tra sự chuẩn bị của HS

Theo báo Dân trí, camera của 1 gia đình tại Quảng Nam đã ghi lại cảnh người vú nuôi giúp việc cho gia đình này hành hạ và đánh đập con gái 2 tuổi của họ.

Theo đó, ngày 24/9, bé N.K.L (29 tháng tuổi) được gia đình đưa vào Bệnh viện Nhi Trung ương trong tình trạng li bì, lơ mơ, sưng nề và xây xước ở vùng mặt và lưng, xung huyết vùng mắt. Hiện người vú nuôi độc ác này đang bị giam giữ trong tù và chờ ngày ra tòa vào giữa tháng 12 tới đây.

Bé Kiều Oanh là nhân vật trong bài “Bé 7 tuổi nguy kịch trước bệnh suy tủy 3 dòng hiếm gặp”. Những ngày tết vừa rồi, bé và mẹ cũng không được về quê đón tết cùng gia đình chòm xóm do bệnh của Oanh vẫn đang nặng. Hai mẹ con thui thủi ăn tết tại bệnh viện trong nỗi nhớ xa nhà giữa thuốc men và những người bệnh như mình ở xung quanh.

Thấy lại chúng tôi, bé Oanh rất vui mừng. Sắc diện bé bên ngoài hồng hào và khỏe mạnh không như ngày báo vào gặp để viết bài. Được sự chăm sóc tận tình của các y bác sĩ Khoa Nhi Tổng hợp 2, và tấm lòng thơm thảo của bạn đọc trong, ngoài nước hay điện thoại hỏi thăm cũng như gửi về nhà chị Tỉnh hơn 10 triệu đồng, hai mẹ con đã đỡ đần phần nào tiền thuốc, sữa, thức ăn bồi dưỡng.

HS phát biểu ý kiến

GV lí giải và dẫn dắt vào bài: Báo chí là nhân tố, là phương tiện có sức mạnh đặc biệt to lớn trong việc định hướng nhận thức, hình thành dư luận xã hội. Báo chí không chỉ cung cấp thông tin thời sự mà còn phản ánh dư luận và ý kiến của quần chúng đồng thời nêu lên quan điểm, chính kiến của tờ báo. Thông qua báo chí nhiều vấn đề tiêu cực trong cuộc sống được phát hiện đề cập và lên án nhưng cũng có rất nhiều hình ảnh đẹp về lối sống nhân ái sẵn sàng chia sẻ giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn được ca ngợi và nêu gương sáng. Thông qua đó báo chí đã góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội.

Hoạt động hình thành kiến thức mới (3 tiết)

Hoạt động 1: Phong cách ngôn ngữ báo chí (tiết 1)

GV chia lớp thành 6 nhóm

Nhóm 1, 4 sưu tầm ở nhà những văn bản báo chí thuộc thể loại bản tin.

GV đưa ra bản tin yêu cầu đại diện nhóm đọc bản tin

? Hãy cho biết 1 bản tin cần có những yêu cầu gì về nội dung cơ bản?

Xác định nội dung cơ bản đó trong bản tin sưu tầm được?

Báo điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 4/12/2013 đã đưa tin: “Trưa ngày 4/12/2013, xe tải chở 1.500 thùng bia đi từ chúng tôi ra Phan Thiết, khi đến vòng xoay Tam hiệp (TP. Biên Hòa) bất ngờ gặp tai nạn khiến cả ngàn thùng bia trên xe đổ ào xuống đường. Nhân cơ hội đó, người dân xung quanh đã lao ra “hôi của” mặc cho lái xe khóc lóc van xin”

GV chốt:

Nội dung bản tin:

Thời gian: Trưa ngày 4/12/2013

Địa điểm: Thành phố Biên Hòa

Sự kiện: Hiện tượng “hôi của” của người dân khi chứng kiến tai nạn của xe chở bia.

àMột bản tin cần có thời gian, địa điểm, sự kiện chính xác nhằm cung cấp những tin tức mới cho người đọc

Nhóm 2, 5 sưu tầm ở nhà những văn bản báo chí thuộc thể loại phóng sự

GV trình chiếu phóng sự yêu cầu đại diện nhóm đọc phóng sự.

Hãy cho biết 1 phóng sự có đặc điểm gì khác so với 1 bản tin ?

Xác định nội dung cơ bản đó trong phóng sự sưu tầm được ?

“Chiếc vòng tử tế” – chiến dịch lan tỏa những hành động đẹp“Chiếc vòng tử tế” là một hoạt động nằm trong chiến dịch “Tử tế là” – do Viện Nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường chủ trì phát động nhằm hướng mọi người suy nghĩ về giá trị của sự tử tế và thực hành giá trị đó trong đời sống. “Chiếc vòng tử tế” là tên gọi của 100 chiếc vòng đặc biệt trong chiến dịch được trao cho những người có uy tín trong cộng đồng như bà Tôn Nữ Thị Ninh, MC Diễm Quỳnh, ca sĩ Thái Thùy Linh, hot girl Chi Pu… Mỗi chủ nhân của 100 chiếc vòng cam kết sẽ thực hiện một điều tử tế trong vòng bốn ngày từ ngày nhận vòng, đồng thời chia sẻ lại câu chuyện rồi chuyển giao chiếc vòng cho một người khác.Luật chơi của chiếc vòng tử tế là trong vòng 4 ngày sau khi nhận được chiếc vòng, bạn phải làm 1 điều tử tế và chia sẻ câu chuyện của mình trên Facebook. Sau đó bạn tặng lại chiếc vòng cho 1 người khác, người cam kết sẽ làm những việc như trên. Cứ như thế, chiếc vòng tử tế sẽ được truyền từ người này sang người khác.Trong ngày đầu phát động chiến dịch, 100 “chiếc vòng tử tế” được đánh số từ 1 đến 100 đã được trao cho những chủ nhân đầu tiên ở hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tính tới thời điểm này, đã có rất nhiều việc tốt được thực hiện với những câu chuyện thật sự “tử tế” được chia sẻ trên cộng đồng mạng.Đó là chia sẻ của anh Hoàng Đức Minh, Giám đốc Tổ chức Hành động vì tương lai và cũng là một trong những người đứng đầu dự án “chiếc vòng tử tế”, khởi xướng chiến dịch này. Anh bày tỏ: “Chúng tôi muốn mọi người suy nghĩ về giá trị sống tử tế, từ đó cố gắng thúc đẩy họ hành động theo giá trị sống tử tế mà họ tự định nghĩa và cuối cùng là làm cho xã hội tử tế hơn. Tên của chiến dịch này xuất phát từ việc Tử tế được hiểu theo những cách khác nhau, tùy từng người, thúc đẩy người ta suy nghĩ về sự tử tế, chứ không đưa ra định nghĩa chính xác về nó.”Đó là những hành động nhỏ thường ngày như vứt rác đúng chỗ, không vượt đèn đỏ, dắt một cụ già, em nhỏ qua đường, dừng xe nhặt hộ đồ bị rơi khi người đi trước không thể vòng lại,… Đó cũng có thể là hành động lớn hơn như kêu gọi bảo vệ môi trường, thành lập tổ chức từ thiện, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn,… Nhưng điều quan trọng hơn cả, việc làm đó xuất phát từ một cách nghĩ đẹp, lối sống văn minh, “tử tế” với chính mình và với những người xung quanh. Một hành động tử tế sẽ giúp bản thân cảm thấy vui và hạnh phúc. Nhiều hành động tử tế sẽ giúp xã hội trở nên tốt đẹp hơn. Vậy tại sao chúng ta không chung tay lan tỏa những giá trị sống tử tế?

Theo chúng tôi ngày 30 – 10 – 2014

GV chốt:

Nội dung phóng sự:

Cung cấp thông tin chi tiết về chiến dịch: Chiếc vòng tử tế (người tham gia, luật chơi, hiệu quả lan tỏa) đồng thời kêu gọi mọi người chung tay thực hiện chiến dịch sống tử tế để bản thân cảm thấy vui và hạnh phúc đồng thời giúp xã hội trở nên tốt đẹp hơn.

à So với bản tin phóng sự tường thuật sự kiện và thể hiện cảm xúc thái độ đánh giá của bài báo để cung cấp cho người đọc một cái nhìn đầy đủ, sinh động và hấp dẫn.

Nhóm 3, 6 sưu tầm ở nhà những văn bản báo chí thuộc thể loại tiểu phẩm

GV trình chiếu tiểu phẩm yêu cầu đại diện nhóm đọc tiểu phẩm.

Xác định nội dung cơ bản đó trong tiểu phẩm

Từ đó rút ra đặc điểm của thể loại tiểu phẩm

Nội dung: Phê phán thói vô cảm trong cuộc sống

Mục đích mỉa mai châm biếm

àTiểu phẩm thường ngắn gọn, giọng văn thân mật, dân dã, thường có sắc thái mỉa mai, châm biếm nhưng hàm chứa chính kiến về thời cuộc.

– Hình thức dạy học: Trong lớp

– Phương pháp vấn đáp, thuyết trình

– Phương tiện: Máy tính, máy chiếu, Phiếu học tập.

– Phương pháp đọc hợp tác

– Năng lực tự học

-Năng lực quản lý bản thân

– Năng lực hợp tác

– Năng lực giao tiếp tiếng Việt

– Năng lực giải quyết các vần đề

-Phẩm chất: Tự tin

GV mở rộng và tích hợp với thực tiễn: Chức năng chung của báo chí là cung cấp các thông tin thời sự giúp định hướng dư luận. Việc lên án và phê phán các hành động vô cảm, thờ ơ, lãnh đạm, ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân của 1 bộ phận xã hội đã có tác động tuyên truyền làm thay đổi nhận thức và hành động. Đồng thời thông qua báo chí nhiều hoàn cảnh khó khăn được giúp đỡ sẻ chia, nhiều việc làm tử tế được nêu gương và nhân rộng.

Hoạt động 2: Các phương tiện diễn đạt và đặc trưng của ngôn ngữ báo chí

* GV chia lớp thành 6 nhóm

Nhóm 1, 4 tìm hiểu về các phương tiện diễn đạt và đặc trưng của ngôn ngữ báo chí trong thể loại bản tin

Nhóm 2, 5 tìm hiểu về các phương tiện diễn đạt và đặc trưng của ngôn ngữ báo chí trong thể loại phóng sự

Nhóm 3, 5 tìm hiểu về các phương tiện diễn đạt và đặc trưng của ngôn ngữ báo chí trong thể loại tiểu phẩm

Phiếu học tập:

1. Các phương tiện diễn đạt

Ngôn ngữ báo chí sử dụng vốn từ ngữ như thế nào?

Về ngữ pháp có điều gì đáng lưu ý?

Ngôn ngữ báo chí sử dụng các biện pháp tu từ như thế nào?

2. Đặc trưng của ngôn ngữ báo chí

Hãy nêu một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ đặc trưng ngôn ngữ báo chí?

Tại sao phong cách ngôn ngữ báo chí phải đảm bảo tính thông tin thời sự?

Tính ngắn gọn trong phong cách ngôn chí được biểu hiện như thế nào?

Tính sinh động hấp dẫn được biểu hiện như thế nào?

– HS làm việc nhóm dựa trên văn bản báo chí đã sưu tầm được, viết trên giấy A0, sau khi hoàn thành treo sản phẩm trên bảng.

– Nhóm trưởng đại diện đọc văn bản sưu tầm được và phân tích

– Các nhóm khác nghe và nhận xét góp ý.

* GV kết luận:

Phương pháp vấn đáp, thuyết trình

Phương pháp hoạt động nhóm

– Kỹ thuật “Phòng tranh”

– Phương tiện: Máy tính, máy chiếu, phiếu học tập

– Kỹ thuật sơ đồ tư duy

– Năng lực hợp tác

– Năng lực giao tiếp tiếng Việt

– Năng lực tự học

– Phẩm chất: tự tin, tự chủ

Hoạt động 3: Bản tin ( 1 tiết )

I. Mục đích, yêu cầu cơ bản của bản tin.

GV đưa ra bản tin, yêu cầu HS đọc và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc Thụy Điển kêu gọi thay vì bấm Like trên Facebook để an ủi, bày tỏ sự thương cảm cho một số phận hay phản đối một hành động xấu, mọi người nên thực hiện các việc làm thiết thực hơn như là quyên góp tiền bạc.Đoạn phim ngắn kể về 2 cậu bé bị bệnh nhưng vẫn tràn đầy hy vọng bởi tài khoản Facebook của UNICEF Thụy Điển đã thu hút 177.000 người bấm Like và sẽ sớm đạt 200.000 Like vào mùa hè, do đó mọi thứ sẽ ổn thôi. Nhưng thực tế, không đứa trẻ nào lại khỏi bệnh hay hết nghèo đơn thuần nhờ những lượt Like vô nghĩa trên mạng xã hội.Video lên án những tài khoản lợi dụng các bức ảnh thương tâm, những câu chuyện cảm động… để “câu Like”. Thậm chí, có những kẻ còn khẳng định mỗi lượt Like có giá trị tương tương 1-5 USD để mua thuốc chữa trị hoặc trả viện phí cho nạn nhân. UNICEF cho rằng, nếu Like có thể quy ra thành tiền thì người ta sẽ dùng nó để trả tiền bữa tối, hoặc để mua quần áo… Tương tự, Like cũng không chuyển hóa thành vaccine cứu trẻ nhỏ, mọi người nên quyên góp tiền hơn là mù quáng đi tiếp tay cho những kẻ câu Like.Theo chúng tôi ngày 2 – 5 – 2014

1. Bản tin thuộc loại tin nào? Bản tin đã thông báo điều gì? Tin đó có ý nghĩa như thế nào đối với các hoạt động từ thiện nhân đạo cứu người nhất là những trẻ em bị bệnh ra sao?

2. Vì sao tin trên lại có tính chất thời sự (ở thời điểm công bố)?

3. Việc đưa tin cụ thể, chính xác từ thông báo của UNICEF có tác dụng gì? Vì sao?

HS trả lời

GV chốt kiến thức:

Bản tin có tính thời sự vì nó đưa tin kịp thời chính xác sự kiện có ý nghĩa trong đời sống giúp cho độc giả đặc biệt là các bạn trẻ sử dụng facebook nhận thức được bấm like để cửu người chỉ là hành động vô nghĩa. Mọi người nên thực hiện các việc làm thiết thực hơn như là quyên góp tiền bạc.

? Theo anh (chị), yêu cầu cơ bản của một bản tin là gì?

Kết luận: Yêu cầu của bản tin đó là:

+ Bản tin phải có tính thời sự (kịp thời, nhanh, nhậy)+ Bản tin phải có ý nghĩa xã hội, thúc đẩy cuộc sống, có tác dụng đối với mọi người mọi ngành.+ Bản tin phải chân thực, cụ thể và chính xác mới tạo được niềm tin, mới có giá trị thuyết phục.

– Phương pháp: Vấn đáp, thuyết trình

– Kỹ thuật: động não

– Năng lực giải quyết vấn đề.

– Năng lực tự học

II. Các viết bản tin.1. Khai thác và lựa chọn tin

GV yêu cầu HS đọc bản tin số 2 và trả lời những câu hỏi nêu ở dưới:

Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên Hà Nội đã gặp mặt, tuyên dương 16 thành viên, sinh viên trong nhóm phượt Phong Vân tham gia cứu nạn vụ xe khách lao xuống vực ngày 1/9 vừa qua.

Sáng 6/9, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên thành phố Hà Nội đã gặp mặt, tuyên dương 16 thanh niên, sinh viên tham gia cứu nạn trong vụ tai nạn xe khách xảy ra ngày 1/9 tại xã Tòng Sành, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.16 thanh niên, sinh viên được tuyên dương là thành viên của nhóm du lịch mạo hiểm Phong Vân đang trên đường từ Hà Nội lên Sa Pa du lịch. Trực tiếp chứng kiến vụ tai nạn thảm khốc là chiếc xe khách lao xuống vực khiến 13 người tử nạn và 41 người khác bị thương, cả nhóm đã kịp thời thông báo tới các đơn vị chức năng tham gia ứng cứu và dùng đèn pin, điện thoại soi đường, mò mẫm xuống vực sâu gần 200 mét để cấp cứu, hỗ trợ các nạn nhân trên chuyến xe gặp nạn.Bạn Vũ Mạnh Hùng (ở huyện Ứng Hòa, Hà Nội) là thành viên đầu tiên của nhóm du lịch mạo hiểm Phong Vân xung phong xuống vực sâu cứu người. Hùng chia sẻ cảm xúc lúc ấy là khá sợ, trời tối đen, bản thân Hùng cũng chưa biết vực đó sâu bao nhiêu, có những nguy hiểm gì tiềm tàng… Nhưng xuất phát từ suy nghĩ có nhiều người đang gặp nạn, họ rất cần sự hỗ trợ kịp thời để cứu lấy tính mạng, Hùng đã dùng đèn pin của điện thoại soi đường, bám vào vệ cỏ, cành cây để tụt xuống và tham gia cứu giúp các nạn nhân.16 thành viên này đến từ nhiều cơ quan, đơn vị, trường học khác nhau nhưng đều chung một tấm lòng nhân ái cao cả. Với tinh thần làm việc quên mình, cả nhóm đã dũng cảm, dám hy sinh, bỏ qua nỗi sợ hãi để cùng phối hợp giúp đỡ người gặp nạn. (Theo TTXVN, 6 – 9 – 2014)

? Bản tin trên đã lựa chọn đưa tin những sự kiện nào? Có phải mọi sự kiện đều có thể là nguồn tin của bản tin không?

Từ việc phân tích trên, anh chị hãy cho biết tiêu chuẩn để lựa chọn tin và những nội dung cơ bản cần làm rõ của bản tin ?

2. Viết bản tin.

? Bố cục cơ bản của 1 bản tin thường?

Phần tiêu đề có quan hệ như thế nào với nội dung? Vì sao tiêu đề cần gây được chú ý để triển khai nội dung chính?

Phần mở đầu có tầm quan trọng như thế nào? Phần mở đầu phải đảm bảo những yêu cầu nào về nội dung và hình thức.

Phần triển khai được viết cụ thể cho phần tin khái quát ở đầu. Tuy nhiên so với bản tin 1, bản tin 2 có sự triển khai khác nhau. Hãy chỉ ra điều đó.

GV chốt lại cách viết bản tin:

Tiêu đề và phần mở đầu của bản tin thường được nêu trực tiếp, chưa đựng những thông tin khái quát quan trọng nhất. Phần sau có thể chi tiết hóa, giải thích nguyên nhân hoặc kết quả tường thuật chi tiết sự kiện.

Phẩm chất: trau dồi vốn ngôn ngữ tiếng việt, bảo vệ và phát huy làm giàu tiếng mẹ đẻ

Hoạt động 3: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn ( 1 tiết )

Xin chào chị! Được biết chị là người nhiệt huyết trong công tác từ thiện, hiện tại chị có một gia đình với 18 đứa con. Vậy mục đích của chị khi làm những công tác từ thiện này là gì?Đã từ lâu rồi, Phi Nhung luôn coi công việc từ thiện là bổn phận của mình. Mình đã làm tròn trách nhiệm với những đứa của mình, với những đứa con của chính mình thì trách nhiệm lại càng cao hơn. Đó không chỉ là trách nhiệm của một người mẹ nuôi dạy các con sao cho thật tốt mà phải vừa là một người cha khuyên răn các con đi theo con đường mà chúng đam mê nhưng tuyệt đối không được làm việc gì trái với lương tâm. Làm từ thiện bằng tiền bạc và tâm sức của mình, có bao giờ chị nghĩ mình sẽ bị lợi dụng lòng tốt không?Chắc không ai nỡ làm điều đó đâu.Nhưng sẽ có nhiều người cho là chị khờ. Nhiều người làm ra tiền, họ sẽ cất giữ để làm chuyện lớn. Còn chị, có bao nhiêu làm từ thiện bấy nhiêu. Không làm được hôm nay thì sẽ làm được vào những dịp khác. Nhưng có nhiều người, hôm nay nếu không được giúp đỡ thì sẽ không kịp. Nói như thế không phải là tất cả mọi người sống nhờ sự hỗ trợ của Nhung. Nhung chỉ làm những gì cần thiết và trong khả năng.Chị có thể chia sẻ một số dự định âm nhạc trong thời gian tới của chị không?Sắp tới mình sẽ ra mắt CD ‘‘Mẹ và con”Theo Việt Hoàng, chúng tôi ngày 7 – 10 – 2014và tham gia liveshow Sol Vàng. Đây là một liveshow mình sẽ thể hiện tất cả những vai trò mà Phi Nhung đã từng làm. Và ở chương trình này, Phi Nhung sẽ hát lại những ca khúc gắn liền tên tuổi trong 20 năm qua, bên cạnh đấy mình cũng phát huy thêm các “năng khiếu” đóng kịch, hát cải lương… của chính mình khi tham gia các show diễn trong và ngoài nước.

Cảm ơn chị đã trả lời phỏng vấn, chúc chị sẽ thành công hơn nữa!

?Mục đích của việc hỏi và trả lời trong đoạn phỏng vấn trên?

HS trả lời

GV chốt:

– Phỏng vấn, trả lời phỏng vấn là hoạt động không thể thiếu trong một xã hội dân chủ, văn minh

? Xác định hệ thống câu hỏi phỏng vấn:

2. Tiến hành phỏng vấn.

+ Các câu hỏi đã thực sự hợp thành một hệ thống hợp lí chưa? Có cần điều chỉnh lại thứ tự câu hỏi cho mạch lạc và chặc chẽ hơn không?

+ Để thu thập được nhiều thông tin , người phỏng vấn nên xây dựng những câu hỏi như thế nào và tránh những câu hỏi như thế nào ?

? Khi phỏng vấn có phải bao giờ người phỏng vấn cũng chỉ sử dụng những câu hỏi đã chuẩn bị sẵn không ?Tại sao ?

3. Biên tập sau khi phỏng vấn.

Trong quá trình phỏng vấn, ngoài sự khiêm tốn, nhã nhặn và chăm chú lắng nghe người phỏng vấn cần có thái độ thế nào?

II. Những yêu cầu cơ bản đối với hoạt động trả lời phỏng vấn.

Khi kết thúc phỏng vấn, người phỏng vấn cần nhớ làm việc gì để bày tỏ sự trân trọng đói với người trả lời phỏng vấn?

? Theo em khi biên tập người phỏng vấn có được phép sửa lại lời nói của người được phỏng vấn cho hay hơn và đứng ý của mình hơn không? Vì sao?

? Có những yêu cầu nào đối với người trả lời phỏng vấn? Nhận xét về cách trả lời phỏng vấn của ca sĩ Phi Nhung trong đoạn phỏng vấn trên.

Đến khoa Nội Bệnh viện Ung bướu TPHCM hỏi Nguyễn Hữu Ân thì từ bệnh nhân đến bác sĩ ai cũng biết. Bởi ở chàng trai ấy, nỗi đau mất mẹ chưa kịp nguôi, đành gạt nước mắt để tiếp tục chăm sóc cho người mẹ nuôi mới nhận trong thời gian chăm sóc mẹ ruột.

Ngày tốt nghiệp lớp 12, cũng là ngày mẹ ruột phát bệnh ung thư. Ân phải tức tốc khăn gói xuống Sài Gòn để ôn thi đại học và cũng tiện để chăm sóc mẹ. Số tiền 4 triệu mà cả nhà phải chạy đôn chạy đáo vay mượn mới hơn tháng đã hết sạch.Tiền chỉ để mua thuốc, nên hai mẹ con phải sống qua ngày dựa nhờ vào những chén cơm từ thiện của bệnh viện. Một buổi đi học, một buổi vào viện chăm sóc mẹ. Bằng tất cả tình thương và trách nhiệm của mình, Ân đã chăm sóc mẹ ruột bị bệnh ung thư trong Bệnh viện Ung bướu suốt mất tháng trời.Những ngày chăm sóc mẹ trong bệnh viện, Ân có dịp chứng kiến bao cảnh đời cơ cực, bất hạnh. Nằm chung phòng với mẹ, có một bệnh nhân mà hoàn cảnh cũng đáng thương tương tự, đó là bà Nguyễn Thị Phẳng quê ở Buôn Mê Thuột. Bà cũng bị bệnh ung thư nhưng ngặt nghèo hơn khi nằm đây đã sáu năm rồi mà chưa bao giờ thấy con cái, người nhà đến thăm hoặc chăm sóc.Cảm thông trước hoàn cảnh trớ trêu của bà Phẳng, hằng ngày bên cạnh việc chăm sóc cho mẹ, Ân còn kết hợp chăm lo cho bà Phẳng.Chăm sóc mẹ được sáu tháng thì căn bệnh hiểm nghèo đã cướp mất mẹ của Ân. Trước lúc nhắm mắt, người đàn bà bất hạnh nhân hậu đó đã trăn trối lại cậu con trai nhỏ của mình là hãy cố gắng chăm sóc bà Phẳng, và nhận bà Phẳng làm mẹ, để khi bà có vĩnh viễn ra đi thì vẫn có một người mẹ nữa để chăm sóc, để có dịp gọi tiếng mẹ thiêng liêng như bà vẫn đang ở cạnh con như ngày nào…Nói về ước mơ sau này, cậu sinh viên năm 4 ngành Du lịch, khoa Đông Nam Á, trường Đại học mở bán công TPHCM cho biết: “Nếu có điều kiện sẽ vận động cùng mọi người lập ra quỹ hỗ trợ cho những bệnh nhân ung thư, nghèo khổ và đơn độc”.

– HV làm việc theo nhóm, ghi kết quả vào phiếu học tập

– Luân chuyển phiếu học tập cho nhau để cùng nghiên cứu, góp ý với nhóm bạn cho đến khi nhận lại phiếu học tập của nhóm mình

– Các nhóm cử đại diện lên trình bày kết quả, các nhóm khác có ý kiến đóng góp

* GV đánh giá, tổng hợp chốt lại vấn đề:

– Tính thông tin thời sự:

Địa điểm: Bệnh viện Ung bướu TP HCM

Đối tượng: Nguyễn Hữu Ân

Vấn đề: Hành động nhân đạo của chàng trai trẻ Nguyễn Hữu Ân không chỉ chăm sóc người mẹ mắc bệnh ung thư của mình, cảm thông trước hoàn cảnh trớ trêu của bà Phẳng cậu còn nhận bà làm mẹ nuôi và dành thời gian của mình để chăm sóc và nỗ lực thực hiện ước mơ của mình.

– Tính ngắn gọn: Bản tin ngắn gọn (1 mặt giấy) nhưng lượng thông tin cao giúp người đọc nắm được: hoàn cảnh của Nguyễn Hữu Ân, lí do cậu nhận người phụ nữ cùng phòng làm mẹ nuôi và dành thời gian chăm sóc bà, ước mơ của cậu…

– Tính sinh động, hấp dẫn:

Cách đặt nhan đề mang tính ẩn dụ thu hút được sự chú ý của người đọc.

Nội dung tạo được cảm xúc cho người đọc không chỉ đồng cảm trước hoàn cảnh khó khăn của Nguyễn Hữu Ân mà còn khâm phục trước tấm lòng nhân ái sẻ chia sẵn sàng hi sinh dành thời gian của mình để quan tâm tới những người có hoàn cảnh đặc biệt.

– Phương pháp làm việc theo nhóm

– Kĩ thuật đặt câu hỏi

– Kĩ thuật công đoạn

– Phương tiện: máy chiếu

– Năng lực cảm thụ văn học

– Năng lực giải quyết vấn đề

– Năng lực hợp tác nhóm

– Năng lực giao tiếp

– Phẩm chất: tự chủ

– Năng lực tự quản bản thân

– Bản tin về hoạt động tuyên truyền hiến máu nhân đạo mang tên “Giọt máu hồng” của Đoàn thanh niên tình nguyện huyện Vụ Bản.

– Phóng sự về những trẻ em mồ côi và khuyết tật bẩm sinh được nuôi dưỡng tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định.

– Phỏng vấn một HS trong trường có hoàn cảnh khó khăn biết vươn lên trong học tập đạt thành tích học tập cao được nhà trường tuyên dương.

Các nhóm lựa chọn các hình thức thể hiện:

– Đăng tải trên trang điện tử của nhà trường tại địa chỉ: thptluongthevinhvuban.edu.vn

– Làm phóng sự truyền hình bằng video sử dụng CNTT.

– Ghi âm và phát thanh trên đài phát thanh nội bộ nhà trường.

GV: phân nhóm, bầu nhóm trưởng, giao nhiệm vụ cho từng nhóm.

GV hướng dẫn HS cách làm:

– Khai thác và lựa chọn thông tin:

+ Không phải sự kiện nào cũng cho vào bản tin. Muốn trở thành tin có tính thời sự thì sự kiện đó phải tiêu biểu kích thích suy nghĩ và sự quan tâm của mọi người.

+ Phản ánh thực tế, nêu biểu hiện, có số liệu thống kê cụ thể.

– Tiêu chuẩn lựa chon tin:

Việc gì đã xảy ra?

Việc xảy ra ở đâu?

Việc xảy ra khi nào?

Ai làm việc đó?

Việc xảy ra như thế nào?

. Kết quả ra sao?

– Yêu cầu về việc triển khai nội dung và hình thức bài báo:

+ Đảm bảo đặc trưng của ngôn ngữ báo chí: mang tính thông tin thời sự, ngắn gọn, sinh động hấp dẫn.

+ Biết cách đặt tiêu đề, viết phần mở đầu đúng nội dung và hấp dẫn thu hút người đọc.

+ Triển khai bài viết có bố cục logic, câu hỏi phỏng vấn phải sâu sắc, khai thác được nhiều nội dung thông tin và có trình tự hợp lí.

+ Phân tích được những tác động tích cực của hoạt động từ thiện và ý nghĩa của chúng đối với cộng đồng xã hội. Thể hiện được thái độ đồng cảm sâu sắc trước những số phận còn chưa may mắn trong cuộc sống. Định hướng được thái độ và hành động của người đọc để có cái nhìn nhân văn trong cuộc sống: biết vượt qua giới hạn của bản thân và sẵn sàng mở lòng trước những hoàn cảnh khó khăn.

– HS về nhà thực hiện dự án trong một tuần và báo cáo kết quả bằng một bài thuyết trình vào tiết học tuần sau.

– Phương pháp làm việc theo nhóm

– Phương pháp dạy học theo dự án

– HS tìm kiếm hình ảnh, tư liệu và tìm hiểu thông tin cần thiết trên mạng

– Năng lực giải quyết vấn đề

– Năng lực giao tiếp tiếng việt

– Phẩm chất tự tin, tự chủ.

– Phẩm chất sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, môi trường…

E. Hoạt động bổ sung ( 2 phút )

Câu hỏi:

1. HS sưu tầm những bài báo thuộc các thể loại báo chí nội dung về lòng yêu thương, tinh thần nhân ái sẻ chia. Đặc biệt là các bài viết, các chương trình phát thanh, truyền hình góp phần làm thay đổi hoàn cảnh và số phận của những con người bất hạnh trong cuộc sống.

2. Tự viết kịch bản và đóng vai phỏng vấn giả định một tác giả văn học trong chương trình về tư tưởng nhân đạo yêu thương con người được gửi gắm thông qua tác phẩm của họ

– Phương pháp làm việc cá nhân

– Kĩ thuật động não

– Năng lực giải quyết vấn đề

– Năng lực giao tiếp tiếng việt

– Phẩm chất: tự chủ, tự tin, yêu tiếng việt

– Đã khắc phục được tình trạng dạy học truyền thống thiên về thuyết trình

– Phát huy được năng lực học sinh, phân cấp được các đối tượng

– HS nắm được kiến thức cơ bản, biết trân trọng giữ gìn tiếng việt

* Hướng dẫn về nhà:

– Giờ học có sức lôi cuốn HS tham gia, phát huy được kĩ năng sống, phẩm chất năng lực của các em trước các tình huống

– Hoàn thành bài tập còn lại trong vở bài tập ngữ văn 11 ( tập 1)

Vụ Bản, ngày 24 tháng 02 năm 2015 Giáo viên

– Mặt khác, bằng việc sử dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học. Tôi đã phát triển cho HS năng lực tự học, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác nhóm, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp tiếng việt, năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mỹ. Với những năng lực này, tri thức các em có được không “chết” lặng trên trang giấy mà sẽ hình thành cho các em thái độ, kĩ năng, phẩm chất giúp các em vận dụng tốt vào đời sống trở thành công dân hiện đại, năng động, sáng tạo, làm chủ tương lai, làm chủ chính mình.

Truyện Cổ Tích Trong Văn Học Dân Gian

Trước cách mạng Tháng Tám, ở nước ta, tên gọi cổ tích, hay truyện cổ, hay truyện đời xưa được sử dụng để gọi chung cho các thể loại truyện kể dân gian, bao gồm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn và truyện cười. Về sau, khi công tác nghiên cứu văn học dân gian phát triển, truyện cổ được phân chia thành các thể loại truyện kể dân gian. Tuy nhiên, do bản chất nguyên hợp của văn học dân gian mà việc phân loại đã gặp nhiều khó khăn, ngày nay vẫn chưa thể đi đến thống nhất.

Trong khối truyện kể dân gian người Việt, cổ tích chiếm dung lượng trội hơn nhiều so với các thể loại khác. Một phần vì đặc trưng lịch sử, một phần vì đặc trưng xã hội và tính cách dân tộc mà cổ tích được lưu giữ hiệu quả hơn trong kho tàng truyện cổ người Việt.

Có thể hiểu cổ tích là “một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia đình phụ quyền), có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt”1.

Mặc dù xuất phát từ thần thoại và thời kì thần thoại, song cổ tích không vì thế mà không thể thoát khỏi cái bóng lớn của thần thoại. Nếu “nhân vật thần thoại thường có ý nghĩa tượng trưng và thể hiện những nỗi gian khổ chung, những niềm hoan lạc chung, những lo âu chung và những ước mơ chung của thị tộc, bộ lạc” thì “truyện cổ tích xuất hiện phần lớn khi công xã thị tan rã và được thay thế bằng gia đình riêng lẻ”; nếu thần thoại có sự gắn kết gần gũi với tôn giáo nguyên thủy và thể hiện tinh thần tự do, ý thức dân chủ của con người khi xã hội chưa phân chia giai cấp thì cổ tích lại phản ánh tình trạng đấu tranh xã hội và thể hiện ý thức hệ của thời đại; nếu thần thoại xây dựng vẻ đẹp kì vĩ, hùng tráng, mĩ lệ, mang tầm vóc của toàn thể bộ lạc thì cổ tích lại hướng về những số phận, những ước mơ cải mệnh của con người trong cái hạn hữu chật hẹp của xã hội.

Trong tính nguyên hợp của văn học dân gian, sự gặp gỡ, hàm chứa nhau giữa các thể loại là hiện tượng không xa lạ. Trong đó, hiện tượng chuyển hóa chất liệu từ tác phẩm này sang tác phẩm khác, thể loại này sang thể loại khác tạo nên một dòng chảy thú vị. Chẳng hạn trường hợp hình tượng con rùa, nó xuất phát từ thần thoại trong vai thần biển, đã tái sinh trong thời đại truyền thuyết qua “An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy” và tiếp tục đời sống của mình trong cổ tích “Rùa và Thỏ”.

Vấn đề phân loại truyện cổ tích đến nay vẫn tồn tại như một thách thức. Có lẽ, đặc trưng nguyên hợp là trở lực vĩnh cửu trước mọi nỗ lực phân định văn học dân gian ở bất cứ cấp độ nào. Tuy nhiên, để quán xuyến được việc nghiên cứu, các học giả, theo cách nào đó, phải đưa ra kiến giải về việc phân loại cổ tích.

Nguyễn Văn Ngọc trong Truyện cổ nước Nam chia cổ tích thành 5 loại: những truyện thuộc về lối cổ tích hoặc dã sử; những truyện mà kết cục trở thành phương ngôn; những truyện thuần về văn chương; những truyện ẩn một triết lí cao xa và những truyện vui chơi cười đùa lí thú nhưng chưa phải tiếu lâm. Cách phân chia này đưa ra những tên gọi dài dòng, đồng thời có sự chồng lấn giữa các loại một cách phức tạp.

Theo Nghiêm Toản, cổ tích được chia làm 4 loại: truyện mê tín hoang đường; truyện luân lí ngụ ngôn; truyện phúng thế hài đàm và sự tích các thánh. Cách phân chia này đã sử dụng nội hàm của thuật ngữ truyện cổ. Các loại được phân chia thành tương ứng với các thể loại truyện kể dân gian, song chưa đầy đủ. Ngay cả thể loại cổ tích cũng không tìm thấy vị trí cụ thể trong cách phân chia trên.

Theo Hoàng Trọng Miên, cổ tích được chia làm 6 loại: cổ tích lịch sử; cổ tích phong tục; cổ tích tình cảm; cổ tích thế sự; cổ tích tôn giáo và cổ tích hoang đường. Thanh Lãng thì chia cổ tích thành 7 loại: cổ tích ma quỷ; cổ tích anh hùng dân tộc; cổ tích ái tình; cổ tích luân lí; truyện thần tiên; truyện phong tục và truyện khôi hài. Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam chia cổ tích thành 3 loại: truyện cổ tích thần kì; truyện cổ tích thế sự và truyện cổ tích lịch sử.

Giáo trình Văn học dân gian của các trường Đại học Sư phạm chia cổ tích thành 3 loại: cổ tích hoang đường; cổ tích sinh hoạt và cổ tích lịch sử. Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên trong giáo trình Văn học dân gian của trường Đại học Tổng hợp chia cổ tích thành 2 loại: cổ tích thế sự và cổ tích lịch sử. Nhóm tác giả Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ chia cổ tích thành 3 loại: cổ tích loài vật; cổ tích thần kì và cổ tích sinh hoạt.

Theo giáo trình Văn học dân gian của Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, căn cứ vào việc có hay không có yếu tố thần kì, có thể chia thành cổ tích thần kì và cổ tích hiện thực; căn cứ vào nội dung phản ánh, có thể chia thành cổ tích thế sự và cổ tích lịch sử.

Như vậy, vấn đề phân loại cổ tích hẳn là vô cùng phức tạp. Dù phân chia theo quan điểm nào thì bên cạnh những kiến giải hợp lí cũng tồn tại kèm theo những bất cập. Điều này xuất phát từ nhiều lí do. Trong đó, tính nguyên hợp của văn học dân gian là trở ngại tất yếu, không thể khắc phục. Với các cách phân loại đã trình bày, chúng tôi tán thành hơn cả quan niệm của Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên. Đây là cách phân loại đơn giản, mặc dù không chi tiết, song đảm bảo được tính hệ thống trong phân loại. Hai bộ phận cổ tích thế sự và lịch sử có thể được minh định sáng rõ nhất. Hẳn nhiên, sự minh định ấy không bao giờ là sự tách biệt hoàn toàn.

Về vấn đề xác lập thể loại truyền thuyết và tiểu loại cổ tích lịch sử, đến nay vẫn chưa nhận được ý kiến thống nhất từ các nhà nghiên cứu. Có ý kiến không thừa nhận truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian. Theo đó, những truyện kể dân gian có nội dung gắn với lịch sử được xếp vào tiểu loại cổ tích lịch sử. Tuy nhiên, trong tính hệ thống của các thể loại và truyện kể dân gian, cổ tích mang không khí sinh hoạt đời thường trong không gian hẹp hơn so với truyền thuyết. Truyền thuyết là một thu hẹp của thần thoại về không gian và thời gian. Song, với đặc thù biểu đạt, truyền thuyết gắn với không gian đất nước và thời gian lịch sử. Nó mang tầm vóc của cộng đồng, thay vì cổ tích mang giới hạn của những mối quan hệ cụ thể giữa một số ít người. Nhân vật truyền thuyết là nhân vật của cộng đồng, trong khi nhân vật cổ tích là đại diện cho tâm tình của một bộ phận người trong xã hội. Phân tích như vậy để thấy rằng những truyện kể có nội dung gắn kết với sự kiện hay nhân vật lịch sử, nó mang không khí truyền thuyết hơn là cổ tích. Vì vậy, chúng tôi tán thành ý kiến xem truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian.

Cổ tích các dân tộc anh em thể hiện khá phong phú, sinh động phong tục, tập quán sinh hoạt văn hóa dân gian. Truyện “Quả Pa Pao” của người HMông, “Tung còn lấy vợ tiên” của người Tày kể về tục ném còn. Kề về các nhạc cụ dân gian có truyện “Sự tích chiếc kèn môi” của người HMông, “Sự tích chiếc kèn đá” của người Raglai. Truyện kể về sự tích các điệu múa thì có “Sự tích điệu múa công” của dân tộc Thái, “Sự tích điệu múa bắt ba ba” của người Dao.

Bộ phận cổ tích gắn liền với việc lí giải các sự vật trong thiên nhiên như “Sự tích dưa hấu”, “Sự tích trái sầu riêng”, “Sự tích cây huyết dụ”, “Sự tích hồ Ba Bể”, “Sự tích núi Vọng Phu”, “Sự tích núi Bà đội om”, “Sự tích núi Ngũ Hành”, “Sự tích sông Tô Lịch và sông Thiên Phù”…

Phần lớn cổ tích xoay quanh đề tài sinh hoạt gia đình, phản ánh và lí giải những xung đột, mâu thuẫn có tính riêng tư nhưng phổ biến giữa anh em trai: “Cây khế”, chị em gái: “Sọ Dừa”, giữa dì ghẻ con chồng và chị em cùng cha khác mẹ: “Tấm Cám”…

Những xung đột bên ngoài gia đình cũng chịu sự ảnh hưởng, chi phối từ những mâu thuẫn trong gia đình. Giải quyết các xung đột, mâu thuẫn trong gia đình là động lực giải quyết xung đột, mâu thuẫn xã hội.

Suốt quá trình phát triển qua lịch sử lâu dài, những hình tượng nhân vật trong cổ tích không ngừng được nhào nắn lại, bổ sung thêm, đây là yếu tố giúp làm tăng tính khái quát và điển hình hóa cho hình tượng, phản ánh được nhiều vấn đề lịch sử của đời sống xã hội.

Triết lí sống là phần quan trọng trong kết cấu nội dung của thể loại. Vì ở đó phản ảnh chân thực sự đấu tranh không khoan nhượng của nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, chống lại những thế lực xâm phạm quyền sống, quyền làm người của họ, đồng thời, khẳng định ý nghĩa, giá trị cao quý trong cuộc sống của họ thành triết lí.

Trước sự nghiệt ngã trong xã hội có giai cấp, người dân lao động đấu tranh chống lại những thế lực xâm phạm nhân quyền của họ; đồng thời tự khẳng định bằng cách nâng lối sống của mình lên thành một triết lí.

Trong cổ tích, phần cốt lõi nhất trong triết lí sống của nhân dân là tinh thần lạc quan, yêu đời, lòng ham sống, tình yêu thương và quý trọng đồng loại. Có thể truyện hướng đến sự ca ngợi, biểu dương những hành vi cao đẹp như tình nghĩa thầy trò trong “Sự tích đầm mực”; hay phê phán, lên án những hành vi trái quy chuẩn đạo đức xã hội, như lừa thầy, phản bạn, ăn ở hai lòng, hay những đứa con bất hiếu như “Cái cân thủy ngân”, “Đứa con trời đánh”…

Nói đến tinh thần lạc quan trong cổ tích người ta thường đề cập đến kết thúc của thể loại này, phần nhiều kết thúc có hậu. Kết thúc có hậu chỉ là một biểu hiện phổ biến nhất, không phải biểu hiện cao nhất cũng như duy nhất của tinh thần lạc quan, yếu tố chủ đạo được đề cập trong thể loại này.

Thực tế cho thấy, kho tàng cổ tích Việt Nam nói riêng, của nhân loại nói chung không phải tất cả đều có kết thúc có hậu. Và cũng không vì thế mà cho rằng những truyện kết thúc không có hậu là bi quan. Không ít cổ tích có kết thúc bi thảm, nhân vật chính diện hoặc phải chết hoặc ra đi về miền khổ ải đọa đày, nhưng đó là cái chết nhằm giúp tỏa sáng, khơi dậy tinh thần lạc quan, niềm tin đối với những phẩm chất tốt đẹp của những con người hiền lành, lương thiện, khẳng định những giá trị đạo đức cao quý giữa dòng tuần lưu vô tận của dòng chảy lịch sử nhân loại.

Triết lí sống của nhân dân trong cổ tích còn thể hiện ở sự thưởng công phạt tội được nhìn nhận và giải quyết theo yêu cầu đạo đức. Chàng Thạch Sanh có những hành vi đạo đức cao đẹp mà chắc chắn còn rất lâu mới có thể trở thành hiện thực một cách phổ biến trong xã hội loài người nói chung và trong xã hội Việt Nam nói riêng – đó là sự hào hiệp, vô tư, sẵn sàng xả thân vì việc nghĩa trong mọi tình huống. Từ quan niệm đó, nhân dân ta khẳng định triết lí “ở hiền – gặp lành”. Niềm tin ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ vừa là triết lí sống lạc quan, tích cực, vừa là ước mơ công lí và đạo đức. Tuy hình thức bề ngoài nó khá giống với giáo lí của nhà Phật nhưng nội dung phục vụ cho ý nguyện của nhân dân. Đó là chỗ dựa tinh thần vững chắc trong hoàn cảnh nghiệt ngã của nhân dân lao động.

Trong gia đình, mặc dù chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi nhưng họ luôn sống có đạo đức. Đạo đức bộc lộ ở sự hiền hậu, thật thà, ngay thẳng, hiếu thảo, thủy chung, chịu thương chịu khó… Họ không hay và không thích trả thù những kẻ đàn anh, những người bề trên trong gia đình, dù những kẻ đó đã gây cho họ nhiều tổn thương, đắng cay, điêu đứng.

Nhân vật người em trong “Cây khế” mặc dù bị người bị người anh chiếm hết gia tài nhưng khi được chim thần đưa ra đảo lấy vàng và trở nên giàu có thì vẫn giữ nguyên tình anh em như trước. Hơn nữa, đã chỉ chỗ đảo vàng cho anh để anh cũng có đời sống sung túc. Còn Thạch Sanh dù bị Lí Thông lừa đảo năm lần bảy lượt một cách trắng trợn, bội nghĩa bạn bè nhưng khi có quyền binh trong tay vẫn sẵn sàng tha cho Lí Thông một con đường sống. Những điều nói trên nhằm bảo vệ quan hệ tình cảm, đạo đức huyết thống của gia đình thị tộc trong cổ tích.

Nạn nhân của những xung đột trong gia đình phụ quyền đang hình thành đáng lẽ phải đứng lên phá vỡ tôn ti trật tự bất công để xây dựng một kiểu gia đình khác, giải phóng mình khỏi những nỗi oan trái. Nhưng quy chuẩn xã hội đương thời không cho họ quyền được làm điều đó, nên họ chỉ có thể phủ nhận, chống lại những quan hệ áp bức, bóc lột của gia đình phụ quyền bằng cách quay về với những quan hệ tốt đẹp của gia đình thị tộc đã và đang trên bờ vực tan rã. Sự lí tưởng hóa những nhân vật đàn em là để củng cố những quan hệ gia đình lung lay, rạn nứt, nhằm cứu vãn nó, làm cho nó trở lại với thời kì “tổ ấm” xa xưa.

Nhưng mọi thứ không diễn ra một cách tốt đẹp như thế. Xã hội đương thời đầy rẫy bất công đã nhẫn tâm đưa họ vào những cạm bẫy, tai ương. Những người đàn em và những người bề dưới luôn chịu thiệt thòi, cay đắng mặc cho phẩm hạnh sáng ngời của họ là vì sự độc ác, vô đạo của những kẻ đàn anh, bề trên. Cổ tích phản ánh nỗi cùng quẫn của những kiểu nhân vật “đức hạnh nhưng bất hạnh” này trong việc tìm đường giải thoát cho mình. Nhưng ở một số truyện, sự sáng tạo của tác giả dân gian đã mang đến cho tác phẩm những làn gió mới, thể hiện ở phần kết thúc các nhân vật đàn em đã dám vượt qua khuôn khổ gia đình, tìm đến sự công bằng, hạnh phúc cho bản thân mình. Trí tưởng tượng của tác giả đã đưa con người khổ hạnh, bị áp bức bất công vượt biên giới gia đình, nhờ việc tạo ra, khai thác những hình tượng hư cấu, các yếu tố kì ảo như: Ông Tiên, Bà Bụt, Chim thần, Rắn thần, Vua, Công chúa, Hoàng tử… Tuy vai trò khác nhau nhưng những nhân vật ấy gắn liền với việc thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của nhân dân. Đây là chiếc cầu nối giữa cuộc đời thực bất hạnh với cuộc đời hạnh phúc công bằng mộng tưởng của nhân vật chính diện. Nếu như các lực lượng thần – ảo góp phần thể hiện lí tưởng xã hội – thẩm mĩ, các nhân vật như vua chúa, hoàng tử, công chúa là phương tiện nghệ thuật, vừa là hiện thực vừa lí tưởng xã hội được hình tượng hóa. Các nhân vật đế vương trong cổ tích được phân thành hai loại đối lập: chính diện và phản diện, tức tốt và xấu. Vua tốt như ông vua trong truyện “Thạch Sanh”, “Tấm Cám”; còn vua xấu như ông vua trong truyện “Ai mua hành tôi”, vua xấu như ông vua Trang vương trong “Phạm Tải Ngọc Hoa”.

Loại truyện về những chàng trai khỏe, dũng cảm hay truyện dũng sĩ của các dân tộc nhằm ca ngợi những tấm gương tài hoa, hiệp nghĩa, những bậc anh hùng trong lao động và chiến đấu. Truyện “Cẩu Khây” của người Tày kể về bốn anh em kết nghĩa có sức khỏe phi thường, dùng sức khóe của mình tham gia lao động sản xuất, giúp đỡ đồng bào. Truyện “Chàng Voi con” của người Thái cũng có cốt truyện tương tự. Hay truyện “Chê Hấu” của người HMông kể về các chàng trai khỏe mạnh hợp sức khai phá đất đai, chế ngự thiên tai, lao động sản xuất. Mở đầu là chàng Nhổ Cây, đến chàng Cắt Tranh, tiếp theo là chàng Chê Hấu trồng trọt, sau đó là chàng Hút Nước chống lũ, cuối cùng là chàng Đục Đá làm cối xay để chế biến lương thực. Truyện “Cẩu Khây” chủ yếu ca ngợi kì tích làm thủy lợi, chế ngự thiên tai. Truyện “Chàng Voi con” ca ngợi kì tích săn bắn. Truyện “Chê Hấu” xây dựng một tập thể những người lao động có trình độ kĩ thuật cao, có sự phân công lao động hợp lí, hiệu quả. Đây là những con người tài ba trong xã hội nông thôn.

Bên cạnh đó người Việt còn có những truyện mang tính hiện thực hơn như truyện “Lê Như Hổ” có tài ăn khỏe, một buổi phát luôn ba mẫu cỏ, một ngày gặt xong hai mẫu lúa. Truyện “Yết Kiêu” ca ngợi tài lặn nhiều giờ trong nước để đánh bắt cá, lặn xuống biển đục thuyền giặc. Lại có những truyện đề cao sự khéo léo trong lao động như: “Ba chàng thiện nghệ”, “Người thợ mộc Nam Hoa”, “Bùi Cầm Hổ”… Đặc biệt như truyện “Phân xử tài tình” ca ngợi vị quan thông minh tài giỏi. Nhưng cốt truyện loại này khá hiếm trong thể loại cổ tích, vì đa số quan lại là đối tượng châm biếm, đả kích của cổ tích …

Nhân dân tin rằng, nếu những con người tài đức làm mẫu nhi thiên hạ, những người khỏe mạnh cường tráng đóng góp công sức lao động sản xuất thì cuộc sống này sẽ tốt đẹp hơn nhiều, nhân dân sẽ được sống đời bình yên, hạnh phúc.

2/ Đặc trưng nghệ thuật

Nhân vật hay vật thần kì là hiện thân của các thế lực mang sức mạnh thần diệu, phi phàm, đứng ra giúp đỡ nhân vật tuyến thiện hay cùng với nhân vật tuyến ác tạo ra sự hủy diệt cuộc sống. Nhân vật kì diệu thường gặp: Tiên, Bụt (Phật); vật kì diệu: Rùa thần, Chim thần, Cá Bống… hiện ra giúp đỡ người tốt thiệt thòi. Trái lại, Đại Bàng có thể bắt cắp bất kì cô gái đẹp nào, Trăn tinh có thể ăn thịt bất cứ ai… Đôi khi nhân vật hay vật thần kì là phép thử lòng người, phân định bản chất con người thiện ác như Đại Bàng hai lần xuất hiện trong cổ tích “Cây khế” đã tạo ra hai kết cục trái ngược nhau cho hai nhân vật thuộc hai tuyến thiện ác khác nhau, với hai anh em cùng một huyết thống nhưng tính cách thiện ác đối lập.

Nhân vật trong cổ tích trung gian và cổ tích hiện thực không phân tuyến hoặc phân tuyến không rõ. Nhân vật đôi vợ chồng trong truyện “Sự tích đá vọng phu” không phải là nhân vật phân tuyến. Nhân vật người vợ trong “Sự tích con muỗi” là nhân vật phân tuyến không rõ ràng giữa mối quan hệ với chồng và với tình nhân. Những truyện cổ tích lí giải về sự tích không hẳn là cổ tích thần kì, mà là dạng cổ tích trung gian, gần với cổ tích hiện thực. Nhân vật trong “Trương Chi”, “Gái ngoan dạy chồng”… không phải nhân vật lí tưởng hóa, không phân tuyến như nhân vật trong cổ tích thần kì. Nhân vật trong cổ tích thần kì thường không rõ tính cách. Nhân vật thuộc cùng một tuyến có tính cách hao hao giống nhau theo khuôn mẫu đã định.

Kết cấu cổ tích thường gặp là kết cấu đường thẳng. Cốt truyện tuân theo một trật tự nhất định từ trước đến sau, cái gì xảy ra trước kể trước, cái gì xảy ra sau kể sau. Cuộc đời Thạch Sanh trong cổ tích cùng tên đi theo một trình tự thời gian cụ thể, từ lúc đi đốn củi, qua thăng trầm, cưới công chúa, thuần phục chư hầu, được truyền ngôi báu… là một dạng của kết cấu này.

Loại kết cấu này có ưu điểm: dễ nhớ, đơn giản; nhược điểm: thiếu sinh động. Cổ tích với đặc trưng thể loại không thực hiện sự đảo ngược kết cấu, đôi khi làm giảm hiệu quả diễn đạt, gây nhàm chán.

Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ trong cổ tích cũng tương thích với đặc trưng và chức năng thể loại. Ngôn ngữ mang tính trần thuật, tính kể đặc trưng cho ngôn ngữ kể chuyện. Các câu tả và các đoạn đối thoại ít có mặt trong truyện. Hình thức tả chủ yếu mang tính phác họa những nét đặc trưng nhất của ngoại hình nhân vật. Ta chỉ biết chàng Thạch Sanh khỏe mạnh, thật thà, còn cụ thể chàng khỏe đến mức nào và thật thà ra sao cổ tích không đề cập. Đó cũng có thể là “độ không sáng tạo” dành cho độc giả, theo điểm nhìn hiện đại.

Về phương diện cú pháp, cổ tích thường có ba loại chủ yếu: câu tồn tại, câu luận, câu hoạt động. Câu tồn tại nhằm mục đích giới thiệu nhân vật: “Hồi ấy ở gần làng có anh học trò nghèo, bố mẹ chết sớm” (Lấy vợ cóc). Câu luận nhằm định tính, định danh nhân vật: “Chàng rất hay chữ, tuy chưa đỗ đạt gì, người ta cũng gọi chàng là Tú Uyên” (Tú Uyên). Phổ biến nhất vẫn là câu hoạt động.

Trong cổ tích, có môtip mở đầu và kết thúc. Mở đầu thường có câu: “Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, tại một làng nọ…” hoặc “Ngày xưa, có một nàng công chúa xinh đẹp, nàng sống cùng vua cha trong cung điện tráng lệ nhưng nàng luôn cảm thấy không vui”. Câu mở đầu thường có sự xuất hiện của cả không gian và thời gian theo thủ pháp ước lệ.

Ngôn ngữ cổ tích không có chức phận xác định cụ thể không gian – thời gian, mọi thứ đều hiện lên mơ hồ: thời gian quá khứ xa xưa, không gian xa xôi đâu đó. Ngoài ra, cổ tích còn sử dụng ngôn ngữ của tục ngữ, ca dao… nhằm gây ấn tượng. Cổ tích chứa đựng các câu văn đa dạng, phong phú về kiểu câu, phong cách ngôn ngữ. Càng về sau câu văn cổ tích càng gần với phong cách văn học hơn.

Thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích cũng được xây dựng theo hệ quy chiếu thể loại, góp phần xác định diện mạo chung của thể loại. Không gian cổ tích là không gian đời thường, không gian sinh hoạt bao quanh cuộc đời nhân vật chính. Chính vì vậy, không gian còn mang tính chất khép kín, tức không quan tâm những nhân vật phụ, những diễn biến khác trong cuộc sống. Không gian cổ tích khó xác định giới hạn, nơi chốn, đặc điểm. Ta sẽ bắt gặp những không gian quen thuộc trong cổ tích, bởi vì các truyện thường được xây dựng trong một không gian hao hao nhau. Dường như cổ tích chỉ gọi tên địa danh bằng danh từ phiếm chỉ để không gian bớt mơ hồ, còn thực sự địa danh ấy đặc điểm ra sao thì cổ tích không quan tâm đến.

Thời gian cổ tích là thời gian vĩnh hằng, bất biến. Thời gian cổ tích kéo dài theo số phận của đời người. Khi nhân vật chính được giải phóng số phận, thời gian theo đó dừng lại. Tính chất ước lệ được thể hiện rõ trong thời gian cổ tích; chẳng hạn ta thường bắt gặp các thời điểm như: “một hôm”, “một ngày kia”, “ngày xửa ngày xưa”… Ngoài ra, ta có gặp thời gian ước định bằng tuần trăng, “Ba tuần trăng… Rồi sáu… rồi chín tuần trăng” (Sự tích hòn vọng phu). Thời gian trong cổ tích chỉ được gợi ra một cách mơ hồ, hầu như không xác định năm nào, đời vua nào…

Như vậy, không gian – thời gian trong cổ tích có tính ước lệ, áng chừng. Hai yếu tố này luôn đi cùng nhau, vì thời gian chỉ diễn tiến trong không gian nhân vật hoạt động. Trong cổ tích, mọi thứ thường mơ hồ xa xôi, nhưng đôi lúc rất quen thuộc như trong chính ngôi làng của mình là vì thế.

Đặc trưng nghệ thuật của cổ tích còn có sự đóng góp của các thủ pháp nghệ thuật. Trước hết, nghệ thuật phiếm chỉ, cũng tương tự kết cấu đường thẳng, nhằm phục vụ nhu cầu truyền miệng, cổ tích thường gạt bỏ những yếu tố khó nhớ. Do vậy, nhân vật, không gian, thời gian thường có tính phiếm chỉ. Trong cổ tích ít sử dụng danh từ riêng. Điều này khác với truyền thuyết, thường sử dụng danh từ riêng. Nhân dân không có nhu cầu đặt tên, gọi rõ nhân vật, chỉ muốn tạo dựng hình tượng những nhân vật có tính phổ quát cao, nhằm biểu đạt những ý nguyện của mình, mong ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn, công bằng hơn. Một cụm từ thường được sử dụng trong cổ tích là: “ngày xửa ngày xưa”; một số danh từ phiếm chỉ thường gặp trong cổ tích như: một phú ông, một quý cô, một anh tiều phu nọ… Việc chỉ sử dụng danh từ phiếm chỉ như vậy có tác dụng tạo ra một mảnh đời, một số phận có tính khái quát cao.

Nghệ thuật tưởng tượng, hư cấu là một phần quan trọng nhằm giúp con người có thêm trợ lực để hoàn thành được mơ ước của mình. Dĩ nhiên kết quả cuối cùng như thế nào vẫn do bản chất, sự lương thiện hay lòng tham của con người quyết định. Anh canh điền chiến thắng phú ông, lấy được vợ nhờ sự giúp đỡ của Bụt, nhưng muốn có cây tre trăm đốt làm sính lễ, anh đã phải bỏ công sức trèo đèo lội suối, vất vả gian truân không ít. Hơn thế, dù cho hư cấu thế nào, các yếu tố thần kì vẫn phải tuân theo luân lí thông thường. Trong “Cây khế”, phượng hoàng đưa người ra đảo lấy vàng, giúp người trở nên giàu có sung túc, nhưng không phải muốn lấy bao nhiêu của cải cũng được. Thánh thần chỉ giúp đỡ những ai chăm chỉ lao động, nhưng gặp khó khăn. Yếu tố thần kì chỉ là phương tiện nhiệm mầu trong cổ tích, hiện thân của những mong ước quá sức của con người. Yếu tố thần kì giúp nhân vật cổ tích đạt được mong ước tốt đẹp, hợp luân lí; còn ta trong đời thực phải lao động không ngừng mới mong nhận được điều tốt đẹp.

Cổ tích là mơ ước của nhân dân lao động về xã hội tốt đẹp, công bằng, về đời người ấm no, hạnh phúc. Cổ tích cũng là những bài học về lòng thiện, tình yêu thương và đức tính chăm chỉ, cùng tài năng, dũng khí của con người. Đó là những ước mơ gần gũi, là động lực hiện thực mà con người có thể vươn tới.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chuyên Đề Ngữ Văn Lớp 6: Dạy Học Truyện Dân Gian Qua Hình Thức Sân Khấu Hoá trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!