Đề Xuất 2/2023 # Chùm Truyện Cười Về Ông Già Noel # Top 8 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Chùm Truyện Cười Về Ông Già Noel # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chùm Truyện Cười Về Ông Già Noel mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

  

Tại sao ông già Noel không sợ chó?

Một tên trộm cố gắng tìm hiểu tại sao ông già Noel vào nhà người ta tặng quà mà không báo giờ bị chó cắn hoặc sủa. Hóa ra bí quyết là ông già Noel đã “láu cá” cho bầy Tuần Lộc ăn một loại thức ăn có mùi sườn nướng và hậu môn của chúng được phẫu thuật khéo léo để sao cho mỗi lần “ị”, sản phẩm đều có hình dạng một khúc xương. Mà cái giống Tuần Lộc hễ thoáng nhìn thấy chó là sợ “vãi” cả ra.

Do ông già Noel thường tặng quà rất khuya, khi các cháu đã ngon giấc. Quà tặng cho các cháu nhiều khi là các món bánh kẹo, nếu cứ để vậy có thể chuột gián sẽ tấn công. Do đó một lần ông đã nảy ra sáng kiến: Cho quà vào chiếc bít tất của mình. Quả nhiên, với mùi khá “khủng” từ chiếc bít tất này mà không một loài gặm nhấm nào dám bén mảng tới. Chuyện này được kể rộng rãi, thêm bớt, thi vị hóa như ngày nay.

* * *

 Đổi phương tiện

Năm nay do giá cả xăng giầu trên thế giới giảm, ông già Noel muốn sắm cho mình một chiếc phi cơ đi cho tiện. Tuy nhiên ông lại phải cân nhắc lại tí chút, do ở Việt Nam các ngôi nhà toàn lợp nóc bằng tôn nên hơi khó đỗ. Hơn nữa nếu đi bằng máy bay thì bà già Noel lại đòi theo cũng khó từ chối, trong khi các cháu bé ngoan, nhất là các cháu nữ thì ngày một lớn.

* * *

 Noel thời @

Khi xuất hiện những ông già Noel (

dịch vụ

) vừa đến gia đình người ta đã xin nước uống hoặc xông thẳng vào nhà… vệ sinh. Trên đường không may quần bị “rách”nên khi gặp các cháu thiếu nhi, ông già Noel cứ “khúm núm”, không được thoải mái và sợ các cháu phát hiện ra. Râu của ông già Noel do phóng “tuần lộc uống xăng” quá nhanh và nhiều nên bị tơi tả và rất bẩn. Có ông quên cả đi ủng, quên mặc quần đỏ, thậm chí có ông quên cả kéo phéc mơ tuya…

* * *

Ông già Noel về nhà là cởi ngay quần vợ

– Sau khi phát quà cho mọi người xong, công việc đầu tiên ông làm khi về nhà là gì?

– Tôi phải cởi phăng ngay quần của vợ…

– Ái chà, không ngờ ông già Noel lại hăng thế!

– À, tôi muốn nói là cái quần đỏ này là do vợ mua cho tôi hành nghề “ông già Noel”, nó quá chật. Thêm nữa ông già Noel mà đi vệ sinh nhờ nhà người ta thì mất mặt quá.

* * *

 Tại sao ống khói phải làm trên nhỏ dưới to?

Câu trả lời rất đơn giản. Người ta làm như vậy để phòng ông già Noel “chôm” đồ mà thôi. Ai cũng biết ông thường xuống bằng ống khói. Làm ống khói kiểu trên nhỏ dưới to để đảm bảo rằng ông không thể vác ngược ra ngoài những đồ vật lớn hơn lúc chui vào được.

* * *

Email của ông già Noel cũng bị nhập nhèm

Do tình trạng “nhái” ông già Noel ở Việt Nam mấy năm gần đây trở nên khá phổ biến nên ông già Noel thật tỏ ra rất bức xúc. Đợt vừa qua ông đã tới Cục Sở Hữu Trí Tuệ để đăng ký bản quyền với các đặc điểm phân biệt “hàng thật, hàng giả”. Tuy nhiên trong bộ mặt đỏ gay như đã nói ở trên của ông khiến các cán bộ ở đây cho rằng ông đến đăng ký trong tình trạng thiếu tỉnh táo nên đã từ chối. Cực chẳng đã ông đành công bố địa chỉ email của mình trên mạng. Tuy nhiên sau khi ông công bố email chưa được một tuần, hàng loạt email “nhái” đã xuất hiện kiểu như: onggianoel thật, onggianoel cũ, onggianoel chính hiệu, onggianoel chuẩn… v.v và v.v…

* * *

 Tin… vịt cồ

Đêm 24 rạng ngày 25 tháng 12 năm ngoái, gần trụ sở nhà băng ANZ, tổ tuần tra nhân dân phường X tóm được một người đàn ông say bí tỉ, hai tay ngật ngưỡng ôm một cây thông Noel to đùng. Khi được hỏi tại sao giờ này còn không về nhà mà còn lảng vảng ở khu vực nhạy cảm. Anh ta đã lè nhè đáp: “Tôi cũng muốn về lắm, một ai đó hãy giúp tôi ra khỏi khu rừng này với!”.

* * *

 Những dấu hỏi về ông già Noel

Tổ chức Y tế thế giới nghi ngờ rằng: Ông già Noel có thể là một dược sỹ có hạng. Ông có loại thuốc kế hoạch hóa gia đình rất tốt mà hiện tại ngoài ông ra chưa ai biết bí quyết bào chế. Bằng chứng là chưa bao giờ người ta nói đến hoặc nhìn thấy con cái của ông. Tất nhiên cũng không loại trừ trường hợp do ông quá béo nên lười “sinh hoạt”.

Ủy ban Olympic thế giới thì không đồng ý với quan điểm này bởi họ cho rằng, những hoạt động thể thao có cường độ lớn của ông như: Đua xe, cưỡi tuần lộc, vác vật nặng, leo trèo ống khói… còn không nhằm nhò gì thì huống hồ ba cái vụ lẻ tẻ chiều vợ dăm mười phút.

 

(Theo 24h)

Sự Tích Ông Già Noel

Truyền thuyết Santa Claus được bắt đầu bởi một vị Thánh có tên là Nicholas. Thánh Nicholas sinh vào năm 280 tại một thành phố nhỏ ở miền Tiểu Á. Cha Mẹ ông rất giàu nhưng qua đời khi ông còn nhỏ.

Suốt cuộc đời, Thánh Nicholas sống trong sự hy sinh, tận tụy và đầy lòng yêu thương. Ông đã được dân chúng bầu làm Giám Mục cho thành phố Myra. Thánh Nicholas bị giam trong thời gian bắt bớ đạo của Hoàng Đế Diocletian, nhưng sau đó ông được Hoàng Đế Constantine thả ra. Ông dành những ngày ngắn ngủi còn lại của cuộc đời để giúp đỡ người nghèo khó. Ông thường cải trang để đem các món quà đến cho các em nhỏ nghèo trong những làng mạc. Có lần Thánh Nicholas cũng tặng vàng cho một người cha nghèo để làm của hồi môn cho ba đứa con gái. Ông qua đời vào năm 314, lúc 34 tuổi. 

Ngày nay, nhiều ngôi thánh đường được đặt tên St. Nicholas, nhất là tại Âu Châu. Câu chuyện Santa Claus thực sự bắt đầu tại nước Đức khi St. Nicholas được gọi là Kriss Kringle và trở thành biểu tượng của Mùa Giáng Sinh. Sau đó, truyền thuyết Kriss Kringle đã lan rộng tới nước Pháp và được người Pháp gọi là Père Noél. Về sau, di dân Hà Lan đem theo truyền thuyết này với họ qua Mỹ nơi mà họ đã lập ra vùng “New Amsterdam”, chính là thành phố “New York” ngày nay. Rồi… hết năm này qua năm khác, “ông già Nô-en” từ tên Hà Lan là “Sinter Klass” dần dần được gọi trại ra thành “Santa Claus” là vì vậy.

“Santa Claus” sau đó từ Mỹ đã theo chân những người Anh hồi hương, vượt Đại Tây Dưng đến với Anh Quốc, và ở đây ông được gọi là “Father Christmas”. Khi nói tới Santa Claus thì người ta nghĩ ngay tới xe trượt tuyết và những con tuần lộc (hươu tuyết) Tất cả những con tuần lộc này được gọi chung là “Rudolph”. Riêng từng con một thì tên chúng là: Dasher, Dancer, Prancer, Vixen, Cupid, Dinder, Blitzen, và Comet. Trong số 8 con nai này, con nào có nhiệm vụ làm đầu đàn dẫn đường sẽ có chiếc mũi đỏ  như một ngọn đèn màu để soi sáng đường đi.

Mặc dầu câu chuyện Santa Claus đã thay hình đổi dạng qua nhiều thế kỷ, nhưng vẫn giữ được ý nghĩa đẹp đẽ ban đầu của nó. Thánh Nicholas hay Santa Claus đã thể hiện ý nghĩa chính của Lễ Giáng Sinh, đó là đem tình thương vô vị kỷ đến cho những con người đau khổ.

Truyền thuyết ông già Noel (Santa Clause) và phong tục tập quán trong ngày lễ Giáng sinh 

Qua thời thiếu niên thì người ta không còn tin chuyện ông già Noel đến phát quà trong đêm 24 tháng 12 nữa. Tuy nhiên, các bậc cha mẹ vẫn thường dùng câu chuyện ông già Noel để răn dạy con trẻ. Theo truyền thuyết thì ông già Noel chỉ thưởng cho các em nào ngoan và biết vâng lời. Đêm Giáng sinh, ông già Noel sẽ trèo qua ống khói hoặc cửa sổ nhà để đặt quà trong các đôi tất màu đỏ mà các em đã treo gần lò sưởi. Nhiều ngày trước Noel tại Mỹ, cha mẹ thường bảo các con của họ viết thư cho ông già Noel kể lại những điều tốt mà các em đã làm trong năm và muốn được quà gì. Nhiều người vẫn cho rằng chuyện ông già Noel là huyền thoại, nhưng trên thực thế đây là truyền thuyết có thật và được chép như sau. 

“Santa Claus lại xuất phát từ truyền thuyết về một nhân vật có thật sống ở thế kỷ thứ 4 tên là Ni-kô-la. Ông là con một trong một gia đình theo đạo Cơ Ðốc giàu có. Ni-kô-la sinh ra vào khoảng những năm 280 tại Patara, một cảng nhỏ của thị trấn Lycia ở Thổ Nhĩ Kỳ. Khi còn nhỏ cậu bé đã được mẹ dạy rất nhiều về kinh thánh nhưng không may, cha mẹ qua đời do bệnh dịch, bỏ lại cậu cùng toàn bộ gia tài. 

Ni-kô-la được nhiều người biết đến vì biết thương người nghèo và dành cả đời mình để phục vụ Chúa. Một lần, gặp ba cô gái trẻ không có người cầu hôn vì cha họ quá nghèo, ông liền lấy ba túi vàng và bỏ vào phòng ba cô gái nọ. Nhờ đó mà họ lấy được chồng và sống rất hạnh phúc. Mặc dù vậy, những người La Mã lại luôn khinh miệt ông, Họ bắt giam và tra tấn ông trong ngục tối. Khi Công-xtăng-tin trở thành hoàng đế La Mã thì ông đã trả tự do cho thánh Ni-kô-la . Cũng từ đó Công-xtăng-tin trở thành con chiên của đạo Cơ Ðốc. Ông triệu tập hội nghị Ni-a-xê-a và thánh Ni-kô-la được mời làm đại biểu của hội nghị. Thánh Ni-kô-la được đặc biệt ca tụng vì tình yêu của ông dành cho trẻ em. Người ta đồn rằng các món quà bất ngờ đều do thánh Ni-kô-la mang đến và cũng chính ngài là người luôn mang quà đến cho trẻ em vào các dịp Nô-en. 

Bên cạnh đó, thánh Ni-kô-la còn là người bảo vệ cho các thuỷ thủ đảo Xi-xin-li của nước Hy Lạp và nước Nga. ở đất nước Hà Lan, truyền thuyết về thánh Ni-kô-la luôn sống mãi trong lòng mỗi người dân. Vào thế kỉ thứ 16, ở Hà Lan trẻ em thường đặt những chiếc giầy gỗ của mình bên cạnh lò sưởi với hy vọng là chúng sẽ được thánh Ni-kô-la thết đãi no nê. Người Hà Lan phát âm từ St. Nicholas (thánh Ni-kô-la) thành Sint Nicholaas, sau đó nói chệch thành Sinterklaas và cuối cùng được những người theo giáo phái Anh đọc thành Santa.”

Bức Thư Về Ông Già Noel Vẫn Lay Động Con Tim Sau Hơn Một Thế Kỷ

Cô bé viết: “Xin chào quý báo. Cháu 8 tuổi. Một số bạn của cháu nói rằng Ông già Noel không có thực. Bố cháu thì bảo nên hỏi The Sun. Xin hãy cho cháu biết sự thật: Có Ông già Noel không?”.

Cô bé Virginia O’Hanlon.

Đúng thế, Virginia, ông già Noel có thực. Ông có thực cũng như tình yêu và lòng quảng đại luôn hiện diện quanh ta, nhờ đó mà cuộc sống của chúng ta được vui tươi và hạnh phúc. Nếu không có ông già Noel thì thế giới của chúng ta ảm đạm biết bao. Nếu không có những em bé như cháu thì thế giới của chúng ta sẽ như thế nào? Khi đó cuộc sống sẽ chẳng có những tâm hồn trẻ thơ, chẳng có thi ca, chẳng có lãng mạn. Con người chỉ là những cỗ máy khô khan. Ánh sáng niềm tin và hy vọng của trẻ em trên khắp thế giới cũng sẽ tiêu tan. Biên tập viên Francis Pharcellus đã viết một bức thư trả lời cô bé, đồng thời đăng câu chuyện này lên số báo ngày 21/9/1897. Nội dung bức thư trả lời:”Virginia, các bạn cháu nói không đúng. Những người như họ luôn hoài nghi mọi thứ. Họ chỉ tin vào những gì họ tận mắt nhìn thấy và hiểu được, mặc dù trí óc của họ nhỏ bé biết bao. Virginia à, trí tuệ của con người, dù là người lớn hay trẻ em, tất cả đều nhỏ bé. Trong vũ trụ vĩ đại mà chúng ta đang sống, nếu ta hình dung chân lý rộng lớn như là một không gian bao la thì kiến thức của con người chỉ nhỏ nhoi bằng một con kiến mà thôi.

Nếu không tin có ông già Noel, cháu cũng sẽ chẳng tin vào những chuyện thần tiên. Cháu có thể nói với bố nhờ người canh cửa trong đêm Giáng sinh để bắt gặp bằng được ông già Noel, nhưng ngay cả nếu như không gặp được ông đi chăng nữa thì cũng đâu chứng minh được điều gì? Chưa ai tận mắt gặp ông già Noel bằng xương bằng thịt cả nhưng điều đó không có nghĩa là ông già Noel không có thực. Những điều chân thực nhất trong thế giới chúng ta là những điều mà trẻ em và người lớn đều không thể thấy được. Cháu có bao giờ nhìn thấy các nàng tiên nhảy múa trên thảm cỏ chưa? Dĩ nhiên có thể là chưa nhưng đó đâu phải là bằng chứng để cho rằng không có chuyện đó.

Không ai có thể hiểu và tưởng tượng được những điều kỳ diệu mà họ chưa từng thấy và không thể thấy được trong thế giới của chúng ta. Cháu có thể dễ dàng đập vỡ một cái lúc lắc để tìm xem cái gì kêu lách cách bên trong, nhưng trên đời này có một thế giới kỳ diệu được bao phủ bởi một bức màn kiên cố mà không một sức mạnh nào của thế gian có thể xuyên qua được. Chỉ có bằng niềm tin và tình yêu chúng ta mới vén được bức màn và cảm nhận được vẻ đẹp lộng lẫy huy hoàng bên trong. Những chuyện đó có thực không? Virginia à, đó là điều chân thực nhất trên thế gian này.

Ông già Noel không có thực ư? Nhờ Chúa, ông vẫn sống và sẽ sống mãi. Hàng nghìn năm sau Virginia à, mà không phải, hàng trăm nghìn năm sau, ông vẫn sẽ tiếp tục mang đến niềm vui và hạnh phúc cho những tâm hồn trẻ thơ trên khắp hành tinh này. Chúc cháu Giáng sinh hạnh phúc”.

Chúc mọi người Giáng sinh an lành, nhiều niềm vui.

Cảm Nhận Về Hình Ảnh Nhân Vật Ông Đồ Già Trong Bài Thơ Ông Đồ

Theo dòng thời gian bất tận, mọi thứ sẽ lui vào dĩ vãng mịt mờ, để lại cho con người bao nỗi niềm tiếc nuối. Nhất là khi những vẻ đẹp tài hoa một thời chỉ còn vang bóng. Cũng bắt nguồn từ cảm hứng ấy, bài thơ Ông Đồ thể hiện một hoài niệm day dứt, thương cảm cho một giá trị tinh thần sắp tàn lụi. Bài thơ là tấm gương phản chiếu cho hồn thơ giàu lòng thương người và hoài cổ của Vũ Đình Liên.

Được ra đời trong phong trào Thơ mới, nhưng bài thơ thoát khỏi hai trục cảm xúc chính thời bấy giờ là tình yêu và thiên nhiên. Trong lúc những nhà thơ lãng mạn đang chìm đắm trong cái tôi cá nhân, muốn vẽ nên hiện thực mà họ muốn có, say sưa trong mộng ảo thì Vũ Đình Liên – một trí thức tây học trong lúc sững người, ngoảnh đầu quay lại phía sau đã bất chợt nhận ra “cái di tích tiều tuỵ, đáng thương của một thời”. Ông đồ – hình ảnh cuối cùng của nền Nho học đã từng tồn tại trong suốt một ngàn năm phong kiến Việt Nam.

Sự trượt dốc của nền Nho học đã kéo theo cả một lớp người trở thành nạn nhân đau khổ. Ông đồ của Vũ Đình Liên là một chứng tích cho một vẻ đẹp không bao giờ trở lại. Là hình ảnh đã ăn sâu vào tiềm thức mọi người và vì thế chưa mất đi hoàn toàn, nhất là đối với những con người có tâm trạng hoài niệm cho vẻ đẹp quá khứ như Vũ Đình Liên. Khi mà chữ nghĩa thánh hiền cao quý không còn vị trí, phải ra tận vỉa hè, đường phố, đã trở thành một món hàng… con người ta mới thảng thốt, giật mình, xót xa cho ánh hào quang rực rỡ một thời. Tâm sự ấy đã được thể hiện trong bài thơ tạo nên sự giao thoa đồng cảm giữa nhân vật trữ tình và chủ thể trữ tình:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua.

Ở đó là những hình ảnh, ấn tượng đã hằn sâu trong kí ức của chàng thanh niên còn rất trẻ. Là sự tuần hoàn của hoa đào, của ông đồ, của mực tàu, giấy đỏ tạo nên một nét riêng thiêng liêng của không gian văn hoá dân tộc khi Tết đến, xuân về. Nhưng ta không khỏi chạnh lòng trước cảnh ông đồ phải sống lay lắt trên con đường mưu sinh của mình. Vẻ già nua đáng thương hay là đạo học sắp suy tàn? Trớ trêu thay, nơi ông có thể níu giữ vẻ đẹp văn hoá, nơi ông có thể kiếm sống lại là “bên phố đông người qua”. Hình bóng lẻ loi, cô độc của con người như bất lực trước hiện thực phũ phàng. Trong dòng đời hối hả trôi, hiện lên hình ảnh ông đồ đang gò trên từng con chữ tài năng và tâm huyết của một đời người ngay giữa chợ đời:

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay.

Đó là dư vang của một thời, nhưng cũng là hình ảnh đáng buồn trong sự chống chọi vô vọng, như một ánh nắng cuối ngày rực rỡ, bùng lên khi ngày đã sắp tàn. Cái cảnh xúm xít, chen lấn để mua một câu đối, một đôi chữ Nho mới đau đớn làm sao. Trong từng người ấy, có ai thật sự cảm thấy xót xa cho sự xuống cấp thảm hại của chữ Thánh Hiền – một giá trị tinh thần được đặt xuống ngang hàng với giá trị vật chất?

Dẫu rằng sự hiện hữu của ông đồ góp thêm nét đẹp truyền thống ấm cúng, trang trọng cho ngày Tết và nét chữ “như phượng múa rồng bay” kia cố níu kéo lấy chút thể diện cuối cùng, được mọi người thán phục, ngưỡng mộ nhưng tránh sao khỏi cảm giác bẽ bàng, sượng sùng? Nhưng cái danh dự còn sót lại nhỏ nhoi ấy cũng đâu tồn tại mãi, nó vẫn bị thời gian khắc nghiệt vùi lấp không thương tiếc:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu.

Khổ thơ là một sự hụt hẫng trong ánh mắt kiếm tìm: “Người thuê viết nay đâu?”, là nhịp thời gian khắc khoải đến đau lòng: “mỗi năm mỗi vắng”. Sự tàn lụi của nền văn hoá Nho học là một điều tất yếu, cái mới sẽ thay thế cái cũ, ánh hào quang nào trước sau cũng dần một tắt, bị lãng quên, thờ ơ trong dòng đời vất vả với những kế mưu sinh, nhưng hiện thực phũ phàng cũng khiến cho lớp hậu sinh như Vũ Đình Liên không khỏi ái ngại, tiếc thương khi trước mặt mình là một cảnh vật hoang vắng, đượm buồn. Trong sắc phai bẽ bàng của giấy, sự kết đọng lạnh lòng của mực tự thân nó đã dâng lên một nỗi buồn tủi. Là ngoại cảnh nhưng cũng là tâm cảnh, một nỗi buồn thắm thía, khiến cho những vật vô tri vô giác cũng nhuốm sầu như chủ nhân của chúng “một mình mình biết, một mình mình buồn”, “trĩu nặng những ưu tư, xót xa trước thời thế đổi thay”. Và càng đáng buồn hơn, đến khổ thơ thứ tư thì còn lại cái hình ảnh của ông đồ lặng lẽ, cô đơn giữa quang cảnh lạnh lẽo:

Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay.

Bằng hi vọng mong manh còn lại, chút gắng gỏi vì miếng cơm manh áo,ông đồ vẫn kiên nhẫn ngồi đợi. Nhưng đáp lại sự đợi chờ vô vọng đó là những dáng tấp nập qua lại của mọi người, hờ hững, quên đi sự hiện diện của ông. Giữa cái ồn ào, náo động xung quanh là bóng dáng cô độc của ông đồ. Sự đối lập giữa ông đồ và cuộc sống tất bật khiến nhà thơ ngậm ngùi thương cảm. Giữa không gian đông người ấy, ông đồ vẫn ngồi, bóng dáng trầm tư có khác chăng Nguyễn Khuyến trước kia “tựa gối ôm cần lâu chẳng được”. Từng đợt lá vàng rơi xuống đường, rơi trên giấy cùng ánh mắt thẫn thờ như ngơ ngác trông ra màn mưa bụi mịt mờ thật ám ảnh, khiến cho con người dâng lên bao nỗi xót xa, đánh động vào lương tri của mỗi người. Không gian hoang vắng đến thê lương. Bất chợt tôi lại nghĩ đến câu thơ của Yến Lan trong Bến My Lăng: “Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách”. “Lá vàng rơi trên giấy” cũng gợi ra cái không gian thấm đẫm nỗi buồn. “lá vàng rơi”, cũng như số phận hẩm hiu của ông đồ đã đến hồi kết thúc:

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Thực sự đến giờ bài thơ “chứa đựng cả một hệ vấn đề: bi kịch của sự gặp gỡ Đông và Tây, sự suy vong và cáo chung của một thời đại, sự biến mất vĩnh viễn của một lớp người”. Vòng tuần hoàn của đất trời vẫn tiếp tục, nhưng bóng dáng của ônd đồ không còn nữa. Cảnh đấy, còn người ở đâu? Hoa đào kia như một biểu tượng của dòng thời gian, của tạo hoá. Cái còn, cái mất ám ảnh trong tâm trí mọi người. Ở đó là một niềm nhớ thương vời vợi:

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Khi bóng dáng ông đồ không còn, liệu nét chữ – “hồn” của ông – còn chăng? Những tinh hoa của giá trị tinh thần đã hoàn toàn mất hẳn? “Những người muôn năm cũ” là ông đồ, là người thuê viết hay chính là thế hệ của lớp người mới trong đó có chính nhà thơ? Dẫu là ai, câu thơ vẫn gợi lên một niềm ray rứt, ngậm ngùi. Mạch đồng cảm của người xưa và người nay được nối liền: Sự chán ngán cùng cực của ông đồ và nỗi lòng ân hận, tiếc nuối của lớp hậu sinh đã vô tình lãng quên thế hệ cha ông.

Hỏi để đánh thức dậy trong tiềm thức sâu xa của mỗi người dân Việt những nỗi niềm vọng tưởng, đánh thức dậy nỗi ân hận, day dứt nhưng cũng đồng thời nhắc nhở mọi người đừng quên lãng đi quá khứ, lãng quên đi lòng yêu nước và văn hoá dân tộc. Bởi lẽ, đó cũng là hồn nước, hồn thiêng sông núi, là quốc hồn quốc tuý. Đánh mất đi hồn dân tộc có khác chi là mất nước?

Và có lẽ, Vũ Đình Liên không đến nỗi bảo thủ khư khư mực tàu giấy đỏ mà quan trọng hơn đó là tình cảm gắn bó và trân trọng một lớp người tài hoa, đáng kính của nhà thơ. Để rồi, trong tâm hồn ta bất chợt một lúc nào đó lại vọng về tiếng bà ru cùng tiếng đua nôi kẽo kẹt:

Chẳng ham ruộng cả ao liền

Chỉ ham cái bút, cái nghiên anh đồ.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chùm Truyện Cười Về Ông Già Noel trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!