Đề Xuất 2/2023 # Chùm Thơ Cửa Lò – Cửa Hội Của Nhà Thơ Nguyên Hùng # Top 2 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Chùm Thơ Cửa Lò – Cửa Hội Của Nhà Thơ Nguyên Hùng # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chùm Thơ Cửa Lò – Cửa Hội Của Nhà Thơ Nguyên Hùng mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

CỬA LÒ – CỬA HỘI Nhà thơ Nguyên Hùng 1. Cửa Lò càng nóng càng đông Về đây tránh lửa người không muốn rời Nắng thiêu ngỡ biển cũng sôi Một làn gió mặn đất trời đủ nghiêng.

Ba câu đầu của khổ thơ về Cửa Lò mới chỉ là một nhận xét, thông báo một cảm giác (Chứ chưa phải là cảm xúc). Cửa Lò nóng, người đông, nắng thiêu đến mức ngỡ biển cũng sôi…Hai chữ “biển sôi” ấy đã đập ngay vào trực cảm người đọc. Thi sĩ như đang muốn tuyệt đối hoá, tột cùng hoá cái nóng ở Cửa lò? Thế nhưng, dù mới chỉ là nêu nhận xét, câu thơ đã cuốn hút sự chú ý của người đọc bởi sự phát hiện: Cửa Lò càng nóng – càng đông. Phi lí quá! Một sự phi lý-hiển nhiên đến mức ít ai để ý và phát hiện… Câu thơ gợi lên câu hỏi (..vì sao thế?), nhưng nó không đợi trả lời để thành đối thoại mà chỉ là cái cớ để thành dòng độc thoại, bộc bạch tâm tình. Cái phi lí chuyển thành có lý khi câu thơ cuối khép lại bằng “hình ảnh” – Một làn gió mặn đất trời đủ nghiêng.

Trong con mắt của kẻ đa tình, bao giờ và ở đâu họ cũng tìm được cái lí do cho mình tìm đến. Thì ra, nguyên nhân người ta đổ về Cửa Lò là để được tận hưởng cái cảm giác mơn man, âu yếm, bao bọc đến mê hồn của “làn gió mặn”! Nắng càng “thiêu” thì Gió biển càng quyến rũ. Chỉ cần một làn gió nhẹ cũng đủ khiến cho “đất trời” ngả nghiêng . Thế mới biết nàng gió mặn mòi xứ biển quê tôi có sức mạnh lôi cuốn, vẫy gọi người phương xa đến nhường nào! Câu thơ giản dị …cớ sao mà gợi thế! Có lẽ một câu thơ hay không chỉ hay bởi nó mang sẵn các “tố chất” hay, mà còn vì những gì nó có thể gợi ra để người đọc liên tưởng, suy ngẫm. (Nhưng “đông” chưa hẳn đã “vui”. Ta chưa tìm thấy dấu hiệu gì chứng tỏ người thơ đã “hết mình” với biển, mặc dầu anh rất yêu biển!).

Đến khổ thơ về Cửa Hội, từng câu thơ không chỉ còn là cảm giác mà đã là cảm xúc, nỗi niềm

    Hòn Ngư, Hòn Mắt chung chiêng Sóng không từ biển – từ miền em thôi Ngồi đây ai cũng có đôi Thương về nơi ấy một trời một em.

    Cửa Hội không “đông” như Cửa Lò nhưng ai đã từng sống ở Cửa Hội sẽ nhận thấy Cửa Hội vẫn còn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ… Biển chiều nay giống như “biển ngày xưa” (trong “Chuyện tình của biển”), không có sóng vỗ bờ… “biển ngây thơ” giống như “biển chưa yêu bao giờ”… Điểm nhấn của bức tranh Cửa hội thuộc về những “nét vẽ” về Hòn Ngư, Hòn Mắt chung chiêng và Ngồi đây ai cũng có đôi. Cái “hữu tình” của cảnh không làm cho người thơ vui lên mà ngược lại chỉ thêm “chạnh lòng”. Thật bất ngờ, biển không có sóng nhưng lại có một cơn sóng được tạo nên bởi nỗi nhớ từ “miền em” ùa về. Cảm giác càng tinh tế, cảm xúc càng buồn. Biển đẹp đẽ là thế, hiện ngay trước mắt thế, nhưng bỗng mờ đi bởi nỗi nhớ thương về nơi ấy “một trời một em”. Tôi nhìn thấy con mắt đượm buồn của người thơ như đang vọng đến một bến bờ nào đó, rất xa xôi…

    Hai khổ thơ về Cửa lò – Cửa Hội vốn đứt đoạn, “nhảy cóc” đã được xâu chuỗi lại tự nhiên khăng khít bởi đó là sản phẩm nhất quán của của một tâm hồn nhạy cảm và một tình yêu mãnh liệt, thiết tha.

    Share this:

    Twitter

    Facebook

    Thích bài này:

    Thích

    Đang tải…

    Tiếng Đóng Cửa Của Đứa Con Hiếu Thảo

    Mẹ tôi khuyên: “Chúng ta mới chuyển đến, con làm như vậy có thể hơi thiếu suy nghĩ và dễ làm mất lòng hàng xóm”. Tôi suy nghĩ hoài và hỏi ý kiến mẹ: “Vậy thì chúng ta đi tìm trưởng dân phố, thử xin cô ấy giúp được không?” Mẹ tôi đồng ý.

    Cô trưởng dân phố nghe chúng tôi trình bày xong thì khuyên nhủ và an ủi tôi rằng: “Chị cố gắng chịu đựng tiếng đóng cửa của gia đình bất hạnh đó một thời gian. Nửa năm trước, người cha bị tai nạn xe qua đời; người mẹ bị ung thư, nằm dài trên giường không đi lại được. Tôi đoán, tiếng đóng cửa đó là của đứa con. Nghĩ lại cũng thật đáng thương, xin chị khoan dung cho!”.

    Đúng vậy, cậu ta khoảng 16, 17 tuổi, trông thật thông minh. Tôi tự nhủ: “Phải cố chịu đựng thôi”. Mấy ngày sau tiếng đóng cửa vẫn cứ như vậy, và rốt cuộc tôi đành lên gõ cửa căn hộ nọ. Cậu bé đó ra mở cửa, hốt hoảng run cầm cập xin lỗi tôi: “Dì! Cháu xin lỗi, sau này cháu sẽ ráng cẩn thận…”.

    Tối hôm sau, tôi vừa thiu thiu an giấc thì tiếng đóng cửa quen thuộc đó lại vang lên đập mạnh vào tai nghe chát chúa, mẹ tôi an ủi: “Nhẫn nhịn đi con, có lẽ thằng bé đã thành thói quen, từ từ rồi nó sẽ sửa đổi”.

    Mấy ngày kế tiếp, đúng như lời mẹ nói, tiếng đóng cửa đó biến mất. Tôi nằm trên giường nín thở lắng tai nghe, tiếng chân cũng nhỏ đi nhiều, bước đi nhè nhẹ xem ra rất cẩn thận.

    “Mẹ! Mẹ nói thật đúng”, tôi vừa dứt lời, hai mắt mẹ tôi bỗng nhiên ngấn lệ, bà nghẹn ngào nói: “Mẹ thằng bé trên lầu đã ra đi rồi, mấy ngày qua thằng bé ban ngày đi học, ban đêm đến quán ăn chạy bàn, nó đi làm thêm để kiếm tiền chạy chữa cho mẹ, nhưng rồi bà ấy vẫn mất…”.

    Một tối nọ, bất ngờ tôi gặp cậu bé ấy ở cầu thang của dãy lầu, nó cúi thấp đầu đau buồn bước đến gần tôi nói: “Dì! Chắc dì bị mất ngủ nhiều, mấy ngày trước cháu làm ảnh hưởng giấc ngủ của dì, thật là có lỗi”. Một lát sau, cậu bé nói như run lên: “Tiếng đóng cửa mạnh như vậy là do cháu cố ý. Mẹ cháu mỗi ngày một yếu, nói không được, khả năng nghe kém dần, cháu đóng cửa mạnh là muốn để mẹ biết được con mình đã về mà yên tâm đi vào giấc ngủ, sau này sẽ không còn nữa đâu…”.

    Cậu bé nói gì?! Tôi như không nghe được nữa, lệ từ hai khoé mắt tôi cứ tuôn trào ra…

    Liệt Sỹ, Anh Hùng Trần Thị Bắc, Nguyên Mẫu Trong Bài Thơ “Núi Đôi” Của Nhà Thơ Vũ Cao

    Chân dung Liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Bắc (1932-1954)

    Hình ảnh cao đẹp của người phụ nữ trong bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao “Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm”, đã đi theo bước chân các chiến sỹ trên đường hành quân ra trận thời chống Mỹ và gieo vào tâm khảm lớp lớp thế hệ hôm qua, hôm nay, niềm xúc động, tự hào về người liệt sỹ anh hùng, chính là một hình ảnh có thực. Những câu chuyện mà tôi được nghe người trong gia đình chị và người xã đội trưởng năm 1954 kể lại, ông Nguyễn Văn Lịch, đẹp hơn, anh hùng hơn, sâu đậm hơn những gì tôi đã mường tượng qua bài thơ của nhà thơ Vũ Cao.

    Ông Trần Văn Nhuận, em trai Liệt sĩ Trần Thị Bắc thắp hương tại phần mộ chị tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Sóc Sơn

    Câu thơ của Vũ Cao đã nói hộ chúng ta về thôn Xuân Dục Đoài, xã Phù Linh, quê hương chị, thuộc xã Lạc Long, huyện Đa Phúc, nay là huyện Sóc Sơn. Chị chào đời năm 1932 và tuổi thơ đã sớm phải chứng kiến cảnh cha bị thực dân Pháp bắt đi tù ở Sơn La, rồi Hỏa Lò. Khi đã là thiếu nữ, chị hiểu con đường cách mạng chông gai khi biết ông Trần Văn Bích là cơ sở của Huyện ủy Đa Phúc năm 1945-1946, chú ruột Trần Văn Nghiêm xung phong đi bộ đội giải phóng quân đã hy sinh. Năm 1949, 17 tuổi, chị tham gia Ban Chấp hành phụ nữ xã Lạc Long; sau đó xung phong vào du kích, như một lẽ tất yếu của lý tưởng cao đẹp, muốn dâng hiến tuổi trẻ cho độc lập tự do của đất nước, quê hương. Lúc đó, Núi Đôi – tên hai trái núi thơ mộng, cũng là cao điểm để quân đội Pháp xây dựng bốt kiên cố và trang bị hỏa lực mạnh. Ông Nguyễn Văn Lịch, nguyên xã đội trưởng kể: “Tháng 7 năm 1949, địch đã xây bốt gạch ở Núi Đôi cùng với hệ thống từ núi Thằn Lằn, Mán Tép, Đạc Tài, Tú Tạo, Phù Lỗ, tạo thành hệ thống phòng thủ, khống chế hoạt động của ta. Từ năm 1950, chúng cho xây hệ thống boong ke từ trung du về đồng bằng, lập vành đai trắng, triệt phá phong trào kháng chiến dữ dội với phương châm “Xuân Dục, Đoài Đông hai nhánh lúa/ Bữa thì anh tới bữa em sang”. “không cho lọt một tấc đất vào tay cộng sản”. Do đó, ở Núi Đôi, ngoài bốt gạch cũ, chúng xây thêm năm bốt mới bằng bê tông cốt thép và tăng cường lực lượng gồm một đại đội Tây trắng, Tây đen, một trung đội lính bảo hoàng, có cả bọn batizăng. Sóc Sơn là cửa ngõ để cán bộ ta từ vùng tự do vào vùng địch hậu, luồn sâu về Hà Nội và ngược lại. Do đó, nhiệm vụ bám dân, giữ đất, liên lạc đưa đón cán bộ là hết sức quan trọng. Du kích xã Lạc Long có khoảng 30 người, chia thành ba tổ: Tổ du kích Thượng Dược theo dõi bốt La-ni-vê; tổ du kích Lương Châu theo dõi bốt Miếu Thờ, tổ du kích Xuân Đoài theo dõi bốt Núi Đôi. Gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn, chị Bắc là tổ trưởng của du kích Xuân Đoài. Năm 1951, chị được giao làm cả ba nhiệm vụ: quân báo, cứu thương, binh vận. Thông minh, đẹp người, đẹp nết, chị làm công tác địch vận rất hiệu quả. Dân trong xã luôn thấy cô gái xinh tươi, tóc dài vấn trong vành khăn mỏ quạ, gánh thúng hàng đi bán ở chợ phiên, không ai biết chị đang làm nhiệm vụ, nắm tin tức. Dân làng còn lưu truyền đến tận bây giờ, câu chuyện tên chỉ huy vào làng càn quét, thấy chị xinh đẹp, muốn lấy chị làm vợ bé. Tận dụng cơ hội thuận lợi đó, chị đã binh vận được cai Năm và cai Đinh, tự động mang súng ra hàng. Ông Tám Hồng, thợ mộc trong bốt Núi Đôi và bà Tuệ là vợ Tây trở thành cơ sở nội ứng, cung cấp tin tức kịp thời cho chị kế hoạch càn quét của địch. Cũng nhờ có nhân mối mà du kích xã đã thâm nhập vào bốt Núi Đôi, lấy được lựu đạn, mìn của địch để đi mai phục chúng. Bọn giặc đánh hơi, biết chị hoạt động du kích, vào làng bắt cha chị tra tấn dã man, nhưng ông kiên gan chịu đòn thù, không nhận con là du kích.

    Tình yêu và sự hy sinh anh dũng, đẹp hơn cả trong thơ

    “Em sống trung thành chết thủy chung/ Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng thông bờ cỏ con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em”. Nhà thơ Vũ Cao nghe câu chuyện dân làng Phù Linh kể về chị, xúc động sáng tác nên bài thơ Núi Đôi nổi tiếng. Tôi cũng như bao người đinh ninh rằng, có một người con gái đã hy sinh giữa tuổi thanh xuân tươi đẹp. Chỉ đến khi lên Sóc Sơn, gặp bà Trần Thị Thiệp, em gái liệt sỹ, có khuôn mặt hao hao như ảnh chị Bắc, lại được đọc tư liệu của các nhân chứng lịch sử, tôi mới được biết thêm về cuộc đời và mối tình của chị với anh bộ đội Trịnh Khanh thuộc đại đội Trần Quốc Tuấn, trung đoàn 121- đơn vị chủ lực chiến đấu ở vùng đồng bằng- trung du Bắc Bộ.

    Tọa đàm: “Liệt sĩ Trần Thị Bắc với quê hương Sóc Sơn anh hùng”,

    Ngày 16-3-1954, 22 giờ đêm, chị dẫn đường cho đoàn cán bộ từ vùng tự do vào vùng tạm chiếm ở xã Phù Linh để chuẩn bị cho một trận chiến đấu. Vừa đến khu ruộng ở bãi Thái Hòa (nay ở gần trạm máy nước Xuân Đoài), cả đoàn rơi vào ổ phục kích của địch. Chị đã hô to lên cho các đồng chí biết. Giặc điên cuồng xả đạn vào người chị. Ngay trong đêm, xã đội cử bốn du kích là ông Túc, ông Thuộc, ông Hội, ông Viết Thị làm nhiệm vụ lấy xác chị Bắc. Các ông đến được nơi chị ngã xuống thì máu đã chảy loang trên bãi cỏ. Đồng đội gạt nước mắt, cõng chị về chùa Vệ Sơn Đoài (Tân Minh). Lễ mai táng liệt sỹ Trần Thị Bắc ở khu vực Cầu Cốn được tổ chức trang trọng với sự có mặt của các đồng chí huyện ủy Đa Phúc và đồng đội, nhân dân trong xã Lạc Long. Riêng gia đình chị đang ở Lương Sơn cùng bà con trong khu địch dồn dân, không có mặt trong giây phút thương đau ấy. Bà Trần Thị Thiệp, em gái liệt sỹ Trần Thị Bắc kể: Đêm ấy, nghe nó vãi đạn mooc chi ê liên tục từ Núi Đôi, mẹ tôi cũng không ngủ được, luôn cầu trời khấn phật cho chị thoát khỏi nguy hiểm. Sáng sớm hôm sau, chị Hợi tôi ra đồng Sen, thấy chiếc khăn láng đen giống hệt khăn của chị Bắc trên đồng, mang về cho mẹ tôi. Bà cụ khóc, đau cắt ruột mà cũng không ra mộ chị ở Cầu Cốn được. Bọn địch gọi hết dân làng ra bãi Chè thôn Lương Châu để điểm mặt, kiểm thẻ căn cước. Lúc ấy, cha tôi đang đi dân công hỏa tuyến phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, cũng không về được. Con gái mất, chồng đi dân công biền biệt không tin tức, mẹ tôi ốm mấy trận, tưởng không qua khỏi. Mãi đến sau hòa bình, mới thấy ông cụ về.

    Tôi hỏi bà Thiệp câu chuyện ông Trịnh Khanh, bà kể: Năm 1955, ông về Cầu Cốn tìm mộ vợ rồi chuyển mộ về quê ông ở làng Vệ Linh (sau này, các liệt sĩ của Sóc Sơn được chuyển về xã Tiên Dược, chị Bắc quây quần với đồng đội ở đó).

    Các đại biểu tham dự Tọa đàm: “Liệt sĩ Trần Thị Bắc với quê hương Sóc Sơn anh hùng”,

    Sau ba năm để tang vợ, chính mẹ chị Bắc cùng mẹ đẻ và mẹ nuôi của ông Khanh đã đi hỏi vợ cho ông. Từ đó đến trước khi ông mất (năm 2013), dù ông sống ở thôn Hậu Dưỡng, xã Kim Chung (Đông Anh), gia đình chị Bắc vẫn coi ông Khanh như anh rể lớn trong nhà, tình nghĩa trước sau vẹn tròn trong mỗi dịp lễ tết, hiếu hỉ của gia tộc chị.

    Lễ truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp cho liệt sĩ Trần Thị Bắc, tháng 7-2018

    Câu chuyện tình đời kết thúc có hậu, nhân nghĩa, có thủy, có chung. Hình ảnh chị sống trung thành chết thủy chung càng đẹp trong tâm khảm mỗi người hôm nay. Tháng 7-2018, Nhà nước đã vinh danh liệt sĩ Trần Thị Bắc là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Quê hương Sóc Sơn thật tự hào về người nữ Anh hùng đã trở thành biểu tượng cao đẹp cả trong thơ và trong đời cho thế hệ sau noi theo.

    Ths. Phạm Kim Thanh

    Mùa Xuân Bên Cửa Sổ – Bản Tình Ca Đương Đại Của Người Lính

    Posted on by quynhhop

    + HÀ NHẬT QUỲNH

    Giaidieuxanh – Nói đến nhạc xuân của nhạc sĩ Xuân Hồng, người nghe hay nhắc nhiều đến  Xuân chiến khu hay Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là bài Mùa xuân bên cửa sổ. Đây là 3 ca khúc tiêu biểu và đặc trưng về đề tài mùa xuân của nhạc sĩ Xuân Hồng mà hàng chục triệu khán thính giả cả trong và ngoài lực lượng vũ trang yêu thích.

    Chùm ca khúc 3 bài xuân này điển hình cho phong cách sáng tác âm nhạc của nhạc sĩ Xuân Hồng – Một cách ghi chép chân thực cuộc sống bằng âm nhạc. Đó là sự vươn tới vẻ đẹp rạng rỡ của tâm hồn nghệ sĩ khi được sống với những sự kiện cách mạng và lịch sử đất nước.

    Sáng tác về người lính và mùa xuân là sở trường của nhạc sĩ Xuân Hồng.

    Với ca khúc Xuân chiến khu, nhạc sĩ Xuân Hồng đã đưa chúng ta trở về những ngày đầu kháng chiến của thế kỷ trước. Nét nhạc vừa sáng trong, vừa vui tươi như những hoa nắng lấp lánh, sinh động. Bài hát như một món quà Xuân từ hậu phương gửi ra tiền tuyến và Xuân Hồng đã thể hiện niềm tin tất thắng vào cuộc chiến đấu của cả dân tộc.

    Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh, Bài hát được Nhạc sĩ lấy cảm hứng trên đường hành quân tiến vào Sài Gòn mùa xuân 1975. Nghĩ đến đâu, nhạc sĩ nhẩm hát đến đấy. Cứ thế bài hát ra đời. Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh là tiếng reo mừng trong nụ cười và nước mắt trào dâng của ngày thống nhất trong nhịp điệu rộn ràng và náo nức.

    Còn bài hát Mùa xuân bên cửa sổ là khúc hát dịu dàng, đằm thắm và da diết – Bản tình ca đương đại của người lính.

    Xuân chiến khu, Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh khi ra đời đã được phổ biến sâu rộng trong công chúng yêu âm nhạc, bởi nội dung gắn liền với những giai đoạn lịch sử sôi động nhất của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và chào mừng những ngày hội lớn của thành phố Hồ Chí Minh.

    Còn riêng bài Mùa xuân bên cửa sổ lại có những dấu ấn độc đáo trong “cách nhìn” của tác giả – một cách diễn đạt có những tìm tòi trong bố cục và có ý tứ sâu sắc.

    Mùa xuân bên cửa sổ, ca khúc được viết dựa trên ý thơ của nữ nhà thơ Song Hảo (Vĩnh Long), trong đó nhạc sĩ đã thêm và thay đổi ca từ cho phù hợp với nội dung của toàn bộ ca khúc. Bài hát toát lên vẻ đẹp của một tình yêu bình dị nhưng trong sáng và cao đẹp giữa người lính trẻ vào mùa xuân trở về thăm phố phường vào những ngày mặt trận bình yên và thăm người yêu là cô thợ trẻ. Đó là vẻ đẹp của tâm hồn trẻ trung, đầy hoài bão và khát khao cống hiến.

    Mùa xuân bên cửa sổ ra đời đã chinh phục ngay giới trẻ, đặc biệt là những chàng lính trẻ xa nhà với hình ảnh đầy lãng mạn và đẹp đến trong ngần: “Cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau/ Đường phố ơi hãy yên lặng để hai người hôn nhau!” – một cách phản ánh trực diện và “táo bạo” của NS Xuân Hồng khi đưa từ “hôn nhau” vào trong bài hát một cách nhẹ nhàng và tự nhiên đến vậy. Nói “táo bạo” vì trước Xuân Hồng trong những ca khúc được gọi là “nhạc đỏ” thì dường như chưa đề cập đến chuyện tế nhị như vậy trong ca từ.

    Và những nụ hôn mùa xuân đã là hình tượng chủ đạo và nổi bật trong bài hát, được quán xuyến trong toàn bài. Chúng ta bắt gặp hình tượng này ngay từ những ca từ đầu tiên của ca khúc: “Cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau. Đường phố ơi hãy yên lặng để hai người hôn nhau”. Rồi ở đọan kết bài hát “Ôi hạnh phúc đâu chỉ có cơm ngon và áo đẹp, mùa xuân đâu chỉ có hoa thơm và nắng hồng, cuộc đời còn có cả những nụ hôn”.

    Về bài thơ Mùa xuân bên cửa sổ, nhà thơ Song Hảo đã kể là: Bài thơ được viết trong một lần người ấy của chị đến thăm. Nơi chị ở là một căn gác trong cơ quan, phía dưới cửa sổ phòng có bụi hoa dạ lý. Đêm ấy hai người không ngủ, đứng bên cửa sổ, hoa dạ lý đẫm sương đêm toả hương bát ngát.

    Trên bầu trời ánh trăng sáng vằng vặc. Trước một không gian gợi tình, hai trái tim hòa nhịp, chị đã viết:

    “Đêm chín rồi rất khẽ Bên cửa sổ Có hai người yêu nhau… Hoa dạ lý – dâng hương Đêm nay – Hoa tinh tường hơn cả Nhớ nghe hoa – mùi hương thật khẽ”…

    Năm mới 2009 đã đến, chúng ta cùng nghe Mùa xuân bên cửa số – một bản tình ca ngọt ngào, dịu dàng, tràn đầy tình yêu và ước vọng của tuổi trẻ để cùng đón một năm mới đang về rộn rã khắp nơi.

    Hà Nhật Quỳnh

    Share this:

    Twitter

    Facebook

    Thích bài này:

    Thích

    Đang tải…

    Bạn đang đọc nội dung bài viết Chùm Thơ Cửa Lò – Cửa Hội Của Nhà Thơ Nguyên Hùng trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!