Đề Xuất 2/2023 # Cảm Nhận Về Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài) Của Phạm Ngũ Lão # Top 8 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Cảm Nhận Về Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài) Của Phạm Ngũ Lão # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cảm Nhận Về Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài) Của Phạm Ngũ Lão mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

Nhắc đến thời Trần, chúng ta vẫn tự hào về ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Những chiến tích của các vị danh tướng dệt nên triều đại bất khả chiến bại hào hùng, bất khuất, làm nên hào khí Đông A uy dũng khiến kẻ địch phải khiếp sợ. Không chỉ trên chiến trường đẫm máu, hào khí ấy còn được lưu lại trong thi ca. Đó là bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

(Múa giáo non sông trải mấy thu, Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu. Công danh nam tử con vương nợ, Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.)

Tuy chỉ có ít bài thơ được lưu lại đến tận bây giờ nhưng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ lão đã thật sự chạm đến tim người đọc, để lại những giá trị bất diệt và khắc họa một thời kỳ hào hùng của lịch sử dân tộc. Ngoài đời ông là một vị danh tướng lẫy lừng với lòng yêu nước, là một người có niềm kiêu hãnh và tự tôn dân tộc. Cả trong thi ca ông để lại, trên hết là bài “Tỏ lòng” cũng vậy, bao trùm là hào khí dân tộc, là sức mạnh nuốt trọn địch thù, nhưng bên trong lại là chí khí nam nhi, vùng vẫy dọc ngang trời đất, quyết trả món nợ “tang bồng” với đất nước, sử xanh.

Bài thơ Tỏ lòng viết vào thời điểm trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, như tiếng trống quân thôi thúc dồn dập đẩy ý chí và quyết tâm đánh thắng giặc ngoại xâm lên mức cao nhất. Ngay từ đầu bài thơ, Phạm Ngũ Lão đã xây dựng một bức tượng đài bất tử về hình ảnh người tráng sĩ với vận mệnh bảo vệ giang sơn, tiêu diệt kẻ thù. Sục sôi trong đó là hào khí Đông A đang hừng hực chảy.

Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu (Múa giáo non sông trải mấy thu)

Mở đầu bài thơ là hình ảnh người tráng sĩ hiên ngang bệ vệ “Cầm ngang ngọn giáo giữ gìn non sông đã mấy thu.” Đó là hình tượng của một nhân vật phi thường với sức mạnh vĩ đại, sự hùng dũng, hiên ngang, ngạo nghễ ngút trời đứng sừng sững như một pho tượng bảo vệ đất nước. Chỉ với hai từ “hoành sóc”, người tráng sĩ đã trở thành một nhân vật vĩ đại, ngọn giáo nằm hiên ngang từ tầm mắt trông ra như chắn cả sơn hà, khiêu khích bất cứ kẻ địch nào dám xâm phạm lãnh thổ. Ẩn sâu trong đó là tiềm lực của chí khí, sức mạnh, lòng tin cũng như hào khí Đông A đang càng lúc càng lớn mạnh. Phải chăng, đó cũng là ẩn dụ về hình ảnh của chính Phạm Ngũ Lão, vị tướng lĩnh hiên ngang trên chiến trường, từ cái nhìn cá nhân trông ra với tư thế cầm ngang ngọn giáo? Thật tiếc khi mà bản dịch hai từ “hoành sóc” lại thành “múa giáo”. Hai chữ “múa giáo” làm mất đi khí thế oai nghiêm, hùng dũng của người tráng sĩ. “Múa giáo” thiên về hành động, tuy làm cho hình ảnh trở nên linh hoạt nhưng không lột tả được ý nghĩa trang nghiêm, trịnh trọng cũng như cảm giác về một hình tượng anh hùng bất khuất trong bài thơ. Cụm từ “hoành sóc giang sơn” như dựng lên một chiếc trụ trời hiên ngang chống đỡ cả giang sơn. Thật hay khi bài thơ mở đầu bằng một hình ảnh tuy trang nghiêm, khí thế nhưng cũng không kém phần thi vị. Thường nhắc đến trấn giữ non sông người ta sẽ liên tưởng hình ảnh những đoàn binh lính hùng hậu với áo mũ chỉnh tề. Nhưng trong thơ của Phạm Ngũ Lão, chỉ cần một ngọn giáo đã có thể giữ giang sơn. Đó không phải là sự kiêu ngạo khi xây dựng hình tượng người tráng sĩ trong “Tỏ lòng”, đó là ý thức, trách nhiệm to lớn của cá nhân về việc gìn giữ non sông. Ngọn giáo tuy trông nhỏ bé nhưng có sức nặng của nó, như thể hiện sự tồn vong của đất nước đã trở thành chức trách đè nặng lên vai người tráng sĩ. Và điều đó đã “trải mấy thu” càng khẳng định khí thế và sức mạnh vượt mọi thời gian lẫn không gian, đề cao tinh thần cũng như nâng tầm vóc người anh hùng sánh ngang với vũ trụ. Dù bất kể gian lao, khó khăn, nguy hiểm, hình tượng người tráng sĩ vẫn sừng sững với non sông, bền bỉ và kiêu hãnh cùng lòng tự tôn dân tộc như vậy.

Người tráng sĩ trong “Tỏ lòng” với cá nhân đơn lẻ đã mang đến khí thế ngút trời, tầm vóc lớn lao qua ngòi bút điêu luyện của Phạm Ngũ Lão thì ắt hẳn đội quân nhà Trần, binh đoàn với hai chữ “Sát Thát” lại càng nổi bật hơn cả. Đặc biệt, trong đó còn là niềm tự hào dân tộc hòa quyện cùng hào khí Đông A thể hiện trong câu thơ

“Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” (Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

Với tinh thần, trí lực, sức mạnh to lớn khôn tả, “ba quân” trong thơ của Phạm Ngũ Lão đã hiện lên chân thực hơn bao giờ hết. Những người lính xăm lên mình chữ “Sát Thát” quyết tâm đánh đuổi quân thù ra khỏi đất nước, dòng máu sôi sục hào khí Đông A với khí lực như hổ báo, oai linh rừng già, có thế nuốt được cả trâu. Việc sử dụng điển cố trong Thi từ “Giống hổ báo nhỏ tuy chưa thành vằn, đã có sức nuốt được cả trâu” đã tăng tính trang trọng, kỷ luật quân đội được mô tả trong tác phẩm. Nhưng cũng có thể hiểu câu này qua thành ngữ “khí thôn Ngưu Đẩu” (khí mạnh nuốt sao Ngưu, sao Đẩu). Dù hiểu theo cách nào, chúng ta vẫn thấy một sức mạnh khủng khiếp cùng sự gan dạ, kiên cường đem theo một khí thế lấn áp quân địch tiến ra chiến trường. Hàng loạt các thanh bằng được sử dụng trong câu thơ thứ hai đã mang tới sự âm vang cộng hưởng đến vũ trụ, tầm vóc người anh hùng đã lớn lao, nay lại cả một đoàn quân với sức, trí, kiên trung không kém vọng tiếng giết địch oai hùng lên đất trời. Ắt hẳn sức mạnh ấy phải khủng khiếp và kinh hãi thế nào mới nuốt trọn được những vật bất biến như sao Ngưu, Đẩu trên trời. Câu thơ là niềm tự hào khôn kể về tiềm lực quân đội của đất nước cũng như ý chí, vẻ đẹp của người tráng sĩ trên đường bảo vệ đất nước trong thời đại nhà Trần. Cũng bởi qua lịch sử và cả thi ca, một thời hảo hùng vẻ vang những năm kháng chiến chống Nguyên Mông càng trở nên bất tử và vĩnh viễn sôi sục chiến công với những con người kiệt xuất, vĩ đại.

Nếu như hai câu thơ đầu, khí thế ra trận như vũ bão, hào hùng và rắn rỏi thì hai câu thơ cuối, Phạm Ngũ Lão như để lắng lại cho lời bộc bạch tự đáy lòng về chí làm trai cùng món nợ giang sơn của đấng nam nhi, còn là trách nhiệm với non sông đất nước. Nỗi lòng ấy đầy thiết tha, như một dấu lặng trầm xuống trong bản nhạc kiêu hùng được viết bằng cả tấm lòng.

Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu (Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu)

Vẻ đẹp của đấng nam nhi không chỉ là tầm vóc, khí thế hiên ngang, anh hùng bất khuất mà hơn cả chính là chí làm trai được để cao trong xã hội phong kiến đương thời. Và chí làm trai ấy trong quan niệm của Phạm Ngũ Lão chính là tiếng thơm, công danh lưu truyền lại muôn đời. Thế nhưng, khi bài thơ viết ra là thời điểm trước cuộc chiến Nguyên – Mông lần thứ hai, trách nhiệm trọng đại lúc bấy giờ là làm sao phải đánh thắng quân địch. Đó là công danh mà Phạm Ngũ lão hướng đến, toàn thể tráng sĩ Đông A hướng đến, đem về thắng lợi to lớn cho dân tộc, lưu danh sử sách muôn đời. Khát vọng ấy vô cùng cao cả và chính đáng, là sự ngưỡng mộ và tin tưởng với người tráng sĩ, anh hùng trong tác phẩm. Nhưng “Nam nhi vị liễu công danh trái”, món nợ công danh chưa thành, như lời cảm thán hổ thẹn với công ơn xã tắc. Món nợ ấy nguyện được trả bằng xương máu, trả bằng hy sinh, trả bằng tự do của dân tộc. Nghĩa vụ ấy không chỉ đơn thuần của cá nhân mà còn cả muôn đấng nam nhi trong trời đất. Ấy là lý tưởng sống cao đẹp nhất mà người làm trai hướng đến thuở bấy giờ

“Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.” (Nguyễn Công Trứ)

Và từ “món nợ công danh” ấy, Phạm Ngũ Lão lại thốt ra một chữ “thẹn” trong câu thơ cuối của bài thơ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”. “Vũ Hầu” chính là Gia Cát Lượng, một vị quân sư hết sức tài ba và lỗi lạc trong lịch sử Tam Quốc, ông hết lòng phò tá Lưu Bị gây dựng lại cơ đồ nhà Hán. Cái thẹn của Phạm Ngũ Lão, là cái thẹn với một nhân vật vĩ đại trong lịch sử. Gia Cát Lượng để lại tiếng thơm muôn đời về tài trí và cách cầm quân xuất chúng còn Phạm Ngũ Lão cho rằng bản thân chưa làm nên được điều gì to lớn cho tổ quốc, món nợ công danh vẫn chưa vẹn toàn. Cả một đời ngay cả khi viết “Tỏ lòng”, những việc Phạm Ngũ Lão làm được trong công cuộc dựng nước và giữ nước của nhà Trần ông đều cho là không đáng gì. Cũng bởi vậy mà mới thẹn lòng khi nghe “chuyện Vũ Hầu”. Cái thẹn ấy làm nên một nhân cách cao cả, làm nên tấm lòng và phẩm chất của vị tướng tài ba Phạm Ngũ Lão. Là cái thẹn bày tỏ sự quyết tâm trung thành, hết lòng cống hiến, tận tụy với an nguy xã tắc. Nỗi thẹn ấy càng làm đẹp thêm hình ảnh của người tráng sĩ, càng đề cao phẩm giá của con người. Đó còn là nỗi thẹn của một con người với hoài bão lớn lao nhưng vẫn có được sự khiêm tốn, một nhân vật vĩ đại vừa có tâm vừa có đức. Hơn cả, câu thơ còn là lời nhắc nhở, động viên bĩnh sĩ hãy tiến lên, giành lại tự do cho dân tộc, cho xứng với công ơn nước nhà và không hổ thẹn với lòng mình rồi mới nghĩ đến chuyện công danh.

Bài thơ “Tỏ lòng” viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, niêm luật chặt chẽ và đã thể hiện được toàn vẹn hào khí Đông A, đan xen với đó là những lý tưởng, khát khao, niềm tự hào dân tộc. Kết lại bài thơ, tư tưởng mà tác giả muốn truyền đến để lại sự sục sôi, kiêu hãnh và vui sướng trong lòng người đọc. Đó không chỉ là vẻ đẹp của người anh hùng tráng sĩ thời chiến tranh loạn lạc mà còn là nỗi lòng, lý tưởng được đền nợ nước, trả thù nhà. Bài thơ đã để lại tiếng vang lớn trong kho tàng thơ thất ngôn của Việt Nam, là một trong những tác phẩm thành công nhất của danh tướng thời Trần Phạm Ngũ Lão.

Ngọc Huyền

Phân Tích Bài Thơ “Tỏ Lòng” (Thuật Hoài) Của Phạm Ngũ Lão

Đã từng một thời, văn học Việt Nam được biết tới như những con thuyền chở đầy ý chí và khát vọng cao đẹp của người đương thời, đó là những áng thi ca trung đại đầy hào sảng, hùng tráng. Bởi vậy chăng mà cứ mỗi lần từng tiếng thơ “Thuật hoài” (Phạm Ngũ Lão) vang lên, hiện lên trước mắt ta luôn là hình ảnh người tráng sĩ thời đại Lý – Trần với hùng tâm tráng chí sôi nổi, như những bức tượng đài đẹp nhất đại diện cho cả một thời đại đầy rực rỡ của phong kiến Việt Nam: thời đại Đông A.

Là một vị tướng tài ba từng gắn bó sâu sắc với triều đại nhà Trần, Phạm Ngũ Lão hiểu rõ hơn ai hết tấm lòng thiết tha với non sông và khao khát giữ vững độc lập chủ quyền nước nhà của tướng quân và nhân dân. Trong hoàn cảnh cả dân tộc đang dốc sức thực hiện kháng chiến chống Mông – Nguyên làn hai, cần có một liều thuốc tinh thần tiếp thêm sức mạnh để quân dân từng ngày cố gắng hơn nữa trong sự nghiệp bảo vệ đất nước; “Thuật hoài” ra đời cũng vì lẽ đó. Đặt trong một hoàn cảnh đặc biệt, được viết dưới ngòi bút của con người có tầm vóc lớn lao, bài thơ dù chỉ là một trong hai tác phẩm của Phạm Ngũ Lão còn lưu lại, song cũng đủ để ghi danh tác giả cho tới tận muôn đời.

Hai câu thơ đầu là những nét phác họa đầu tiên về chân dung người tráng sĩ Đông A:

Hoàng sóc giang sơn kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu (Múa giáo non sông trải mấy thu Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

Bằng lối vào đề trực tiếp, trong câu thơ đầu tiên, tác giả đã dựng lên hình ảnh người tráng sĩ thời Trần mang vẻ đẹp của con người thời đại: cầm ngang ngọn giáo trấn giữ non sông. Chỉ qua một hành động “hoành sóc”, người tráng sĩ hiện lên với tư thế đầy oai hùng và kiên cường, ngay thẳng, vững vàng. Sừng sững như một bức tượng đài đầy hiên ngang giữa không gian rộng lớn của ” giang sơn” và dòng thời gian dài trôi chảy ” kháp kỉ thu”, người ấy mang vẻ đẹp của những đấng anh hùng từng trải, với kinh nghiệm già dặn đã được tôi luyện mỗi ngày. Vận mệnh và sự bình yên của đất nước đang được đặt trên đầu ngọn giáo kia, đó là trọng trách lớn lao đặt lên vai người tráng sĩ, nhưng cũng chính ngọn giáo ấy là điểm tựa vững vàng che chắn cho cả dân tộc tồn tại. Câu thơ tỉnh lược chủ ngữ ngắn gọn mang ngụ ý của tác giả: đó không chỉ là một hình ảnh duy nhất của một con người duy nhất, mà là tầm vóc hào sảng của cả biết bao con người thời đại, là không khí sôi sục của đất trời Đông A.

Chưa một thời đại nào trong lịch sử dân tộc, tầm vóc của con người lại trở nên lớn lao đến vậy, với khí thế hùng tráng: “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”. Cách nói ẩn dụ ước lệ quen thuộc trong thi pháp thơ ca trung đại với phép phóng đại “tam quân tì hổ’ cho người đọc ấn tượng mạnh mẽ về đội quân “sát thát” của nhà Trần, với khí thế dũng mãnh, kiên cường. Cụm từ’ khí thôn ngưu”, có thể hiểu là khí thế của đội quân ra trận với sức mạnh phi thường đến mức có thể “nuốt trôi trâu”, cũng có thể hiểu khí thế ấy sôi sục tới độ at cả sao ngưu, sao mai. Trong cách nói cường điệu, ta thấy được tình cảm tự hào của nhà thơ khi đã nâng tầm vóc của quân dân nhà Trần có thể sáng ngang với thiên nhiên, vũ trụ bao la. Đó là niềm tự hào của một con người được sinh ra trong một đất nước, một thời đại hùng mạnh, đầy phấn chấn, tự tin, luôn khao khát vươn lên, giữ vững chủ quyền cho nước nhà.Từ hình ảnh người tráng sĩ hiên ngang tới tầm vóc lớn lao của ba quân thời đại, rõ ràng, vẻ đẹp người tráng sĩ ấy là kết tinh của vẻ đẹp dân tộc, và vẻ đẹp dân tộc càng tôn vinh thêm vẻ đẹp hùng sảng của những tráng sĩ thời Trần. Hai câu thơ đầu tiên vang lên, Phạm Ngũ Lão không chỉ cho ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một vị anh hùng thời đại, mà là vẻ đẹp muôn thuở của một dân tộc anh hùng.

Từ tư thế hiên ngang dũng mãnh, nhà thơ giúp người đọc đi sâu hơn để khám phá tâm thế vững vàng với hùng tâm tráng chí bên trong ngững tráng sĩ:

Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết vũ hầu

Với người quân tử trong xã hội phong kiên đương thời, chí làm trai là phẩm chất không thể thiếu. Ta từng nhớ đã đọc những câu thơ nhắc đến món nợ công danh của các đấng nam nhi:

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

(Đoàn Thị Điểm)

Hay:

Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo

(Nguyễn Công Trứ)

Đối với những người tráng sĩ “bình Nguyên” thuở ấy, trong hoàn cảnh đât nước đang bị lăm le xâm chiếm bởi giặc ngoại bang, “nợ công danh” mà họ phải trả, đó là làm sao để bảo vệ trọn vẹn đất nước, để có thể đem lại yên ấm cho muôn dân. Nói khác đi, hùng tâm tráng chí trong lòng người tráng sĩ chính là niềm yêu nước thiết tha sâu nặng, là tiếng nói khát khao đáng giặc cứu lây non sông. Điều đặc biệt là trong từng câu chữ của “Tỏ lòng”, tinh thần bất khuất ấy không được nêu lên một cách giáo điều, khô cứng, mà nó như được tỏa ra từ chính trái tim, thốt lên từ tâm can của một con người với khát vọng đang sôi cháy, rực lửa.

Để rồi, nợ công danh chưa trả hết, và người đời lại “luống thẹn” khi nghe chuyện Vũ Hầu xưa: “Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”. Câu thơ gợi lại một câu chuyện cổ về bậc anh tài Gia Cát Lượng từng giúp hình thành thế chân vạc Tam Quốc, giúp Thục – Ngô chống Tào… Người tướng sĩ thấy hổ thẹn bởi công lao của mình vẫn chưa đáng bao nhiêu so với Tôn Tử, song đó lại là cái thẹn cao cả, là cái thẹn lớn lao, đáng trân trọng của một bậc đại trượng phu. Ngũ Lão từng là một trong những vị tướng tài ba nhất của nhà Trần, làm tới chức Điện súy thượng tướng quân, vậy còn điều gì khiến người còng hổ thẹn? Rằng, đó không chỉ là nỗi thẹn, mà là niềm khao khát vươn tới những đỉnh cao, vươn tới những tầm vóc rộng lớn hơn nữa. Có những cái thẹn khiến người ta trở nên bé nhỏ, có những cái thẹn khiến cho người ta khinh, nhưng cũng có những cái thẹn cho người ta thấy được cả một tầm vóc lớn lao và ý chí mãnh liệt; cái thẹn của người tráng sĩ thời Trần là cái thẹn như thế.

“Thuật hoài” lấy tiêu đề dựa theo một motif quen thuộc trong văn học trung đại, bên cạnh “Cảm hoài” của Đặng Dung, hay “Tự tình” của Hồ Xuân Hương,… những bài thơ bày tỏ nỗi lòng của người viết. Với “Tỏ lòng”, đây là lời tâm sự bày tỏ tâm tư, ý chí của Phạm Ngũ Lão, cũng là của những tráng sĩ thời Trần mà tâm can đều dành trọn cho dân tộc. Bài thơ được viêt theo thể thất ngôn tứ tuyệt, chỉ với một số lượng ngôn từ ít ỏi, song lại đạt được tới sự hàm súc cao độ khi đã dựng lên được những bức chân dung con người và hào khí Đông A với vẻ đẹp hào sảng, khí thế, dũng mãnh.

Cùng với “Hịch tướng sĩ” – Trần Quốc Tuấn, “Bạnh Đằng giang phú”- Trương Hán Siêu,… “Thuật hoài” mãi là khúc tráng ca hào hùng ngợi ca vẻ đẹp con người và thời đại, và sẽ tồn tại mãi cùng với dòng trôi chảy của thời gian…

Đọc Lại Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài) Của Phạm Ngũ Lão

ĐỌC LẠI BÀI THƠ TỎ LÒNG (THUẬT HOÀI) CỦA PHẠM NGŨ LÃO

Phạm Ngũ Lão sinh năm 1255, quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương (nay là huyện Ân Thi, Hưng Yên). Ông là danh tướng thời nhà Trần, văn võ song toàn. Võ công chói lọi được ghi lại đầy đủ trong sử sách, văn thơ chỉ còn lại hai bài nhưng vẫn mãi muôn đời tỏa sáng với hào khí “Đông A”. Sức sống mãnh liệt của những câu thơ ấy bắt nguồn từ hùng tâm tráng chí một con người canh cánh việc an nguy đất nước, thể hiện rất rõ trong Tỏ lòng(Thuật hoài).

Tỏ lòng là nói cái chí. Chí là định hướng lựa chọn cho cả cuộc đời, nó biểu hiện ở sự kiên trì, nghị lực vượt qua gian khó, thử thách. Cái chí mượn thơ để thể hiện phải kết hợp với cái tâm mà xúc cảm. Không có cái tâm đẹp đẽ, cao, sâu, rộng thì dù có tài năng, văn chương chẳng đạt được cái gì đáng kể. Bài thơ Tỏ lòng thể hiện cái chí lớn trong thời đại hào hùng oanh liệt:

Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu

Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu,

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

Dịch:

Múa giáo non sông đã mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.

Về thể loại, thơ thất ngôn tứ tuyệt khó làm (chữ thứ 2 và thứ 6 giống nhau về thanh, chữ thứ 4 phải khác thanh), càng khó hơn khi viết bằng luật trắc. Ở câu thứ nhất, người chiến binh cầm ngọn giáo trong tư thế sẵn sàng chiến đấu (hoành sóc) kết hợp với “giang sơn kháp kỷ thu” gợi cho người đọc chiều rộng không gian (giang sơn) và chiều dài thời gian (kháp kỷ thu). Cái nền dài rộng ấy là cơ sở vững chắc vươn tới tầm cao:

Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu

“Tam quân” khi hành binh, đội đi đầu là tiền quân, đội đi giữa là trung quân, đội đi sau – hậu quân; khi dàn trận chiến đấu là tả quân, trung quân, hữu quân. Nói về đội quân hùng mạnh, người xưa hay dùng ước lệ “tam quân tỳ hổ”. Trong Bạch Đằng giang phú, Trương Hán Siêu viết:

Thuyền bè muôn đội

Tinh kì phấp phới

Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói.

“Tam quân tỳ hổ” đã mạnh, nhưng nó mạnh mẽ hơn, không gì ngăn cản nổi khi kết hợp với “khí thôn ngưu”.

Khí là khí chất, sức mạnh tinh thần của con người. Sức mạnh tiềm ẩn, chứa chất trong lẽ phải, chính nghĩa. Đội quân của Phạm Ngũ Lão chỉ huy cũng như các đạo quân của các vương gia triều Trần, từ quân đến tướng, trăm ngàn người như một, quyết tâm bảo vệ giang sơn, tạo nên sự cộng hưởng, hừng hực khí thế bốc lên tận trời che mờ cả sao Ngưu. Phải chăng, từ hình ảnh ấy, sau này Đặng Trần Côn viết hai câu thơ về chiến trận tuyệt hay trong Chinh phụ ngâm:

Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt

Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây

Tựu trung, hai câu: “Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu/ Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu”, Phạm Ngũ Lão lấy chuyện thời đại làm nội dung, lấy tầm cỡ núi sông, vũ trụ làm thước đo con người mình. Vì thế, người đọc không bất ngờ khi gặp nỗi “thẹn” của tác giả:

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

Gia Cát lượng (Vũ Hầu) là quân sư của Lưu Bị thời Tam Quốc. Dấu ấn của ông tạc vào lịch sử là đã lập nên những chiến công vô tiền khoáng hậu bằng trí tuệ và cúc cung tận tụy, trung thành với nhà Thục.

Thế nhưng, nhà sử học Ngô Sĩ Liên nghĩ khác, văn tài võ lược của Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão ngang tầm với danh sĩ ngày xưa: “Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Vương học vấn tỏ ra ở hịch, Phạm Điện súy thì học vấn thể hiện ở câu thơ, nào phải riêng về nghề võ, thế mà dùng binh tinh diệu, hễ đánh là thắng, hễ tấn công là chiếm, người xưa cũng không có ai có thể vượt qua nổi các ngài”.

Ngô Sĩ Liên nhận xét trên sự thực lịch sử. Năm 1285, cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, Phạm Ngũ Lão cùng Trần Quang Khải đánh thắng trận Chương Dương, Hàm Tử, diệt quân đồn trú Thăng Long. Sau đó Phạm Ngũ Lão được lệnh đem ba vạn quân phục kích ở Vạn Kiếp chặn đánh quân giặc rút chạy, diệt hai tướng giặc Lý Hằng, Lý Quán. Năm 1288, kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba, Phạm Ngũ Lão cùng các tướng dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Vương và hai vua Trần phục kích ở Sông Bạch Đằng tiêu diệt bốn vạn tên giặc, bắt sống tướng chỉ huy Ô Mã Nhi và các tướng Phàn Tiếp, Áo lỗ Xích. Các năm 1294, 1297 và 1301 Phạm Ngũ Lão cất quân trừng phạt quân Ai Lao xâm lấn bờ cõi. Năm 1312, 1318 đánh thắng quân Chiêm Thành lấn đất phương nam, buộc vua Chế Chí phải đầu hàng.

Với những chiến công hiển hách, tài năng và đức độ, Phạm Ngũ Lão được phong chức Điện súy, tước Quan nội hầu. Năm 1320, ông mất, vua Trần Minh Tông nghỉ thiết triều năm ngày để tưởng nhớ công đức.

Như vậy, Phạm Ngũ Lão lấy việc phục vụ đất nước làm cái nợ công danh phải trả, và đã trả rồi còn phải trả nhiều hơn, cao hơn chứ đừng kể lể công trạng. Kể lể công trạng đâu phải kẻ trượng phu, thế nên dám đặt mình ngang với Gia Cát Lượng, nhân vật kiệt xuất thời Tam Quốc, chưa bằng thì thấy “thẹn”. Cái thẹn ấy đáng trân trọng, kính phục lắm, vừa tự hào, vừa khí phách, đó cũng là biểu hiện cao đẹp của lý tưởng thanh niên thời đại vương triều Trần.

Đọc lại bài thơ, hai câu đầu nói về khí thế hào hùng quân đội thời đại “Đông A”, hai câu sau lại là sự trăn trở phải làm sao bảo vệ, xây dựng đất nước thái bình thịnh vượng trong cảm thức nghĩa vụ công dân. Ý thơ trong Tỏ lòng rõ ràng mà chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, cái tôi của Phạm Ngũ Lão hòa chung cái ta của thời đại, phản ánh tinh thần và khát vọng dân tộc nên sống mãi với thời gian.

           

                                                                                    ĐÀO MẬU THẮNG

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Trong các triều đại lịch sử của dân tộc Việt Nam thì triều đại nhà Trần đã đánh dấu một mốc son chói lọi. Trong gần 300 năm trị vì, các vị vua triều Trần đã đưa đất nước vượt qua nhiều cuộc chiến và giành được chiến thắng vang danh lịch sử. Đặc biệt là 3 lần chiến thắng quân Nguyên – Mông. Trong sự thành công ấy, không thể không nhắc tới các vị danh tướng đã lãnh đạo tướng sĩ chiến đấu trong các trận chiến ấy. Phạm Ngũ Lão cũng là một trong các vị danh tướng thời Trần, là cánh tay phải đắc lực của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão cho người đọc cảm nhận được Hào khí Đông A, cảm nhận được khí thế mạnh như vũ bão của quân nhân nhà Trần đồng thời cảm nhận được chí làm trai mà Phạm Ngũ Lão đang theo đuổi.

Bài thơ như một bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão đồng thời thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng:

Hoành sóc giang san kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu

Ngay từ câu thơ mở đầu ta đã cảm nhận được tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang và dũng mãnh của các tướng sĩ. Câu thơ có hình tượng kì vĩ, tráng lệ vừa mang tầm vóc không gian lại vừa mang kích thước thời gian. Người chiến sĩ thuở bình nguyên ra trận với tư thế hiên ngang, hào hùng chẳng khác nào các chiến sĩ trong huyền thoại. Qua câu thơ người đọc cũng cảm nhận được chủ nghĩa yêu nước của tác giả.

Những người chiến sĩ ấy khi ra trận mang theo một sức mạnh phi thường có thể nuốt trọn một con trâu hoặc lấn át hết sao ngưu trên trời. Ở đây ta thấy hình ảnh ẩn dụ so sánh tam quân tì hổ của Phạm Ngũ Lão thật độc đáo. Câu thơ không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân sát thát đánh đâu thắng đấy mà còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca.

Khi lên đường ra trận, người chiến sĩ bình nguyên mang theo một ước mơ cháy bỏng là lập chiến công để đền ơn nữa. Quả là thời đại anh hùng thì sinh ra khát vọng anh hùng. Người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản từng nói Phá cường địch, báo hoàng ân còn Thái sư Trần Thủ Độ cũng có câu nói nổi tiếng Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo. Những câu nói ấy thể hiện khát vọng to lớn trong việc sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình để bảo vệ đất nước. Đó là biểu hiện rực rỡ cho những tấm lòng trung thân ái quốc. Một khi đã ra chiến trường thì nghĩa là họ đang gánh trên vai mình vận mệnh của dân tộc. Vì vậy khát vọng lập nên những chiến công hiển hách là khát vọng chung. Có ai là không muốn được sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc bên Trung Quốc. Ở hai câu kết, Phạm Ngũ Lão đã dùng điển tích để nói về nợ công danh của nam nhi:

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu

Trong bài thơ này công danh mà Phạm Ngũ Lão nhắc đến là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược. Đối với kẻ làm trai thời ấy nợ công danh như một gánh nặng mà họ buộc phải trả, nguyện đền đáp xương máu và lòng dũng cảm nếu cần.

Bài thơ Tỏ lòng được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Bài thơ có giọng điệu hùng tráng, mạnh mẽ, ngôn ngữ hàm súc, hình tượng kì vĩ, tráng lệ. Nó giống như một khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần.

Thu Thủy

Topics #bài thơ Tỏ lòng #cảm nhận của em về bài thơ Tỏ lòng #cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng #văn cảm nhận

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cảm Nhận Về Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài) Của Phạm Ngũ Lão trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!