Đề Xuất 2/2023 # Cảm Nhận Của Anh/Chị Về Hai Đoạn Thơ Sau: “Gió Theo Lối Gió, Mây Đường Mây… Có Chờ Trăng Về Kịp Tối Nay?” (“Đây Thôn Vĩ Dạ” # Top 10 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Cảm Nhận Của Anh/Chị Về Hai Đoạn Thơ Sau: “Gió Theo Lối Gió, Mây Đường Mây… Có Chờ Trăng Về Kịp Tối Nay?” (“Đây Thôn Vĩ Dạ” # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cảm Nhận Của Anh/Chị Về Hai Đoạn Thơ Sau: “Gió Theo Lối Gió, Mây Đường Mây… Có Chờ Trăng Về Kịp Tối Nay?” (“Đây Thôn Vĩ Dạ” mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hàn Mặc Tử và Huy Cận, cả hai nhà thơ khá nổi tiếng trong phong trào “Thơ mới” (1930-1945), đã để lại một số bài thơ kiệt tác khi tuổi đời mới ngoài đôi mươi.

“Dây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mạc Tử in trong thi tập “Đau thương” {Thơ điên 1939); “Tràng giang” của Huy Cận, in trong tập thơ “Lửa thiêng” (1940) đã trở thành câu thơ trong trí nhớ của nhiều độc giả hơn 70 năm nay. Cả hai thi phẩm đều thể hiện một hồn thơ tài hoa, đẹp và độc đáo.

1. “Dây thôn Vĩ Dạ” gồm 3 khổ thơ thất ngôn. Cảnh và tình dào dạt trong mỗi khổ thơ. Khổ thơ thứ nhất nói về cảnh bình minh nơi thôn Vĩ. Khổ thơ thứ hai gợi tả tâm trạng buồn cô đơn, chia lìa của tác giả khi nhớ lại cảnh gió, mây và con thuyên ai trên bến sông trăng. Khổ thơ thứ ba biểu lộ nỗi niềm mơ tưởng của nhà thơ về cô gái thôn Vĩ trong mối tình đơn phương chơi vơi. Bút pháp nghệ thuật tả cánh ngụ tình in đậm trong các khổ thơ.

Đây là khổ thơ thứ hai của bài “Đây Thôn Vĩ Dạ”:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay ? “

Cảnh sắc thiên nhiên là kỷ ức, là nỗi nhớ của “anh”. Thời gian nói về gió, mây, dòng nước, hoa bắp không rõ là sáng sớm, trưa, hoặc chiều. Gió và mây đôi lối, đôi đường. Không gian giao hòa. quyến luyến gió và mây được điệp lại. nhưng đứng ở hai phía đầu cuối câu thơ, gợi lên một không gian cách trở chia lìa. Dòng nước (dòng sông Hương) lững lờ trôi nên mới “buồn thiu” như vậy! Hoa bắp trên bãi sông chỉ “lay” nhẹ. Tâm trạng “anh” man mác buồn, mênh mông và mông lung nên ngoại cảnh mới “buồn thiu” như vậy. Hai câu thơ có 4 vế (4 phiên cánh) đầy ám ảnh. Nhạc điệu chơi vơi:

“Gió theo lói gió / mây đường mây

Dòng nước buồn thiu/ hoa bắp lay “

Cảnh sắc thiên nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử rất đẹp, nhưng thoáng buồn. Mây, gió. dòng nước… đều lặng lẽ, mênh mang như hồn người đang sống trong cô đơn, đê mê. Đọc đoạn thơ sau đây trích trong bài thơ “Tình thu” in trong thi tập

“Gái quê” (1936), ta cảm thấy rõ:

“Trước sân anh thơ thẩn

Đăm đăm trông nhạn về

Mây chiều còn phiêu bạt

Lang thang trên đồi quê.

Gió chiều quên ngừng lại

Dòng nước luôn trôi đi

Ngàn lau không tiêng nói

Lòng anh dường đê mê… “

Trở lại hai câu thơ ba, bốn trong khổ thơ thứ hai bài “Đây thôn Vĩ Dạ”. Cảnh vật là con thuyền, bến đò. dòng sông và vầng trăng. Có con người xuất hiện, nhưng phiếm chỉ, mơ hồ, đó là “ai”, “thuyên ai”. Thời gian nghệ thuật là đêm trăng. Cảnh vật đẹp, thơ mộng, tĩnh lặng và mông lung, mơ hồ, thoáng buồn; buồn vì xa cách.

buồn vì cô đơn. Con thuyền đơn côi trên bến sông trăng, không có một bóng người đợi chờ. Câu hỏi tu từ cất lên như một tiếng thỏ dài ngao ngán:

“Thuyên ai đậu bển sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay? “.

Sông trăng, bến sông trăng, thuyền chở trăng về… là những hình ảnh thơ mộng được Hàn Mặc Tử sáng tạo nên. Sông Hương đã trở thành sông trăng. Nhưng bến đò nơi Cổn Hến, Bao Vinh, Vĩ Dạ… giữa màu xanh biếc của tre, trúc, của những vườn cau trong những đêm trăng đã trở thành “bến sông trăng”, bình yên thế, thơ mộng thế? Người đọc xúc động và bồi hồi nhớ đến những vần cổ thi:

“Thuyền mây lá đông tây lặng ngắt,

Một vầng trăng trong vắt lòng sông… “

(“Tỳ bà hành” – Bạch Cư Dị

“Trăng tà chiếc quạ kêu sương,

Lửa chài cây bến còn vương giấc hồ.

Thuyền ai đậu bến Cô Tô,

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San. “

(“Đêm đỗ thuyền ở bến Phong Kiều” – Trương Kế)

Ta nhớ câu thơ của Nguyễn Công Trứ:

“Gió trăng chứa một thuyền đầy,

Của kho vô tận biết ngày nào vơi… “

Bạn còn nhớ đến bài ca dao:

“Thuyên đi để bến đợi chờ,

Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau,

Chẳng nên tình trước nghĩa sau,

Bên này dải bóng trăng thâu đợi thuyền… “

Tóm lại, khổ thơ thứ hai bài “Đây thôn Vĩ Dạ” nêu tách ra có thể trở thành một bài thơ thát ngôn tứ tuyệt đặc sắc. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình thấm đẫm qua từng câu thơ. Câu thơ đẹp, văn thư dịu buồn, tâm cảnh cô đơn, bởi lẽ: “ở đây sương khói mờ nhân ảnh – Ai biết tình ai có đậm đà? “

2. Hàn Dũ có nói”Giai cú liên ngâm ” nhớ lại lời người xưa, ta ngâm tiếp, đọc tiếp bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận. Năm 1939, vào một buổi chiều thu, đang học trường Đại học Canh nông Đông Dương, người con trai họ Cù đứng ở bờ nam bến Chèm, ngắm dòng Hồng Hà mênh mông, lòng dạt dào xúc động mà viết bài thơ “Tràng giang” này.

Khổ một nói về sóng gợn, về con thuyền xuôi mái, về cành củi khô với nỗi buồn điệp điệp, mối sầu trăm ngả dâng lên trong lòng.

Khổ hai gợi lên vẻ hoang vắng, đìu hiu của cảnh “song dài, trời rộng, bến cô liêu”. Khổ ba nói về bèo dạt trên dòng sông mênh mông, chỉ nhìn thấy “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Đôi bờ sông cách biệt, trống trải, không có một cây cầu, một chuyến đò ngang nào. Nỗi buồn càng trở nên hiu hắt.

Khổ bốn nói về cảnh hoàng hôn và nỗi buồn nhớ nhà, nhớ quê của khách ly hương. Hãy khẽ đọc, đọc chậm đoạn thơ:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dờn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà “

Sau khi bâng khuâng nhìn bờ xanh bãi vàng gần xa đôi bờ tràng giang, thi nhân dõi mắt về phía chân trời, bầu trời bao la, xa xăm. Cũng có mây chiều lớp lớp đùn lên như “núi bạc”. Một hình ảnh tráng lệ, gợi tả vẻ đẹp kì vĩ của vũ trụ trong cảnh hoàng hôn. Chữ “đùn” là nhãn tự, mà sau này tác giả cho biết đã học tập được trong bài thơ “Thu hứng” của thi thánh Đỗ Phủ qua bản dịch của Nguyễn Công Trứ:

“Lưng trời sóng rợn dòng sông thẳm,

Mặt đất mâv đùn cửa ải xa. “

Sau lớp lớp mây trắng đùn lên ở cuối chân trời xa là hình ảnh con chim bé nhỏ lạc đàn đang nghiêng cánh trong bóng chiều tà vàng thẫm. Lớp mây và cánh chim là hai hình ảnh, hai thi liệu ước lệ tả cảnh hoàng hôn mà nhiều nhà thơ cổ điển từng nhắc đến để gợi tả tâm trạng buồn của khách ly hương:

. “Chim hôm thoi thót về rừng,

Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành. “

(“Truyện Kiều”- Nguyễn Du)

“Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,…

… Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,

Dặm liễu sương sa khách bước dồn

Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn! “

(“Chiều hôm nhớ nhà”- Bà Huyên Thanh Quan)

Trong bóng chiều sa buổi hoàng hôn, lòng quê – với bao nỗi buồn nhớ như những con sóng, lớp sóng ‘dựn dợn” của con nước vời xa cứ vỗ mãi, dâng lèn mãi trong lòng. Khách ly hương đứng trước tràng giang mà lòng thổn thức: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà “, không nhớ nhà, nhớ quê sao được? – “Sông sa vò võ phương trời; Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng” (Truyện Kiều). “Tôi là người lữ khách; Mầu chiều khó làm khuây; Ngỡ lòng mình là rừng; Ngỡ hồn mình là mây; Nhớ nhà châm điếu thuốc; Khói huyền bay lên cây” (“Chiều” – Hồ Dzếnh).

Huy Cận đã có lần tâm tình với bạn đọc yêu thơ về bài “Tràng giang”:

“Bài thơ kết thúc bằng nỗi nhớ quê hương da diết. Tôi nói khác ý thơ của Thôi Hiệu: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn.lòng ai. “

vì lúc đó (1939), tôi buồn hơn Thôi Hiệu đời nhà Đường “.

Xuân Diệu trong bài bình về “Tràng giang” đã cảm nhận: “Cả bài thơ thúc lại ở hai câu kết này; cái điệp từ cuối cùng “dợn dợn” nói lòng quê bát ngát mênh mông, sông càng vời rộng, càng nhớ quê hương. “Tràng giang” là một bài thơ ca hát non sông, đất nước, do đó dọn dường cho lòng yêu giang sơn, Tổ quốc”.

“Tràng giang” thể hiện cám hứng vũ trụ và tình yêu đất nước quê hương một cách thiết tha. Tả cảnh để ngụ tình; cảnh vật đổi thay qua nhiều điểm nhìn, tuy cùng một dáng vẻ, nhưng tất cả đều mơ hồ, mông lung, trôi dạt và vô định. “Tràng giang” vừa kế thừa thơ ca cổ điển, vừa tạo nên những nét hiện đại. Có nhiều điệp ngữ, từ láy đầy ám ảnh: điệp điệp, sông song, lơ thơ, đìu hiu, chót vót, mênh mông, lậng lẽm, lớp lớp, dợn dợn. Những nét chấm phá đó đã gợi tả sâu lắng cái hồn cảnh vật tràng giang trong khói hoàng hôn. Những hình ảnh như “con thuyền xuôi mái”, “củi một cành khô”, “bèo dạt về đâu hàng nối hàng”, “trời lên sâu chót vót”,… mang tính chân thực đời thường, mang màu sắc dân dã, không còn ước lệ nữa.

“Tràng giang” là bài thơ kiệt tác trong “Lửa thiêng”, cũng là đỉnh cao nghệ thuật trong sự nghiệp thi ca của Huy Cận.

Cảm Nhận Của Anh (Chị) Về Đoạn Thơ Sau Trong Bài Việt Bắc Của Tố Hữu

Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu

Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu: Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đannón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

– Giới thiệu về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc.

– Giới thiệu vị trí của đoạn thơ: Đoạn thơ là những cảm xúc dạt dào, sâu lắng của người ra đi trước vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc.

Đoạn thơ được chia làm hai phần:

– Phần một gồm 2 câu thơ đầu giống như lời mở đầu trong các cuộc hát giao duyên, trong đó người về vừa ướm hỏi người ở lại vừa khẳng định những tình cảm trong lòng mình: nhớ cả “hoa” và “người” – hai hình ảnh này đồng hiện, soi chiếu vào nhau. “Hoa” là thứ đẹp nhất của thiên nhiên, còn “người” là “hoa của đất”. “Hoa” và “người” không thể tách rời.

– Phần hai gồm 8 câu chia thành 4 cặp lục bát. Ở mỗi cặp, cứ câu lục tả thiên nhiên thì câu bát tả người. Đây là bức tranh “tứ bình” diễn tả thiên nhiên và con người Việt Bắc trong bốn mùa bằng những nét đặc trưng nhất của miền đất này.

+ “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi – Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”: Đây là hình ảnh có tính khái quát, trong đó Việt Bắc hiện lên như một miền quê lặng lẽ. Gam màu cơ bản của bức traríh là màu xanh – một màu xanh mênh mông và trầm tĩnh của rừng già. Trên cái nền xanh ấy là hình ảnh hoa chuối rừng bập bùng cháy như những ngọn lửa, làm sáng cả một góc rừng. Ánh nắng trong câu bát làm cho không khí vốn trầm mặc của nơi này trở nên tươi sáng và lung linh. Trên nền cảnh ấy, con người xuất hiện. Người đứng trên đỉnh đèo cao, ánh nắng chiếu vào khiến lưỡi dao trên lưng loé sáng. Hình ảnh đó gợi lên một tư thế vững chãi, tự tin của con người làm chủ núi rừng.

Tố Hữu cũng đã từng có những câu thơ viết về tư thế ấy:

Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá nguỵ trang reo với gió đèo…

+ “Ngày xuân mơ nở trắng rừng – Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”: Nền xanh trầm tĩnh của bức tranh thứ nhất đã nhường chỗ cho nền trắng tinh khiết của hoa mơ rừng, khiến cảnh rừng như bừng sáng. Hình ảnh hoa mơ trắng sau này cũng sẽ xuất hiện trong thơ Tố Hữu ở bài Theo chân Bác:

Ôi sáng xuân nay, xuân 41

Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

Bác về… Im lặng. Con chim hót

Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ…

Trên nền cảnh ấy hiện ra hình ảnh con người Việt Bắc đang làm việc một cách thầm lặng: chuốt từng sợi giang để đan nón. Hai chữ “chuốt từng” gợi ra dáng điệu cần mẫn, cẩn trọng và cũng hết sức tài hoa.

+ “Ve kêu rừng phách đổ vàng – Nhớ cô em gái hái măng một mình”: Âm thanh của núi rừng đã xuất hiện. Nhạc ve làm cho không khí trở nên xao động. Đây là bức tranh mùa hè, Ve kêu gọi hè đến, hè đến làm cho những rừng phách nở hoa màu vàng. Chữ “đổ” nhấn mạnh sự biến đổi màu sắc nhanh chóng đồng thời diễn tả những trận mưa hoa mỗi khi có một luồng gió ào qua. Trên nền cảnh ấy xuất hiện người lao động: cô gái Việt Bắc đang hái măng một mình. Hình ảnh này cho thấy sự chịu thương, chịu khó của người dân nơi đây.

+ “Rừng thu trăng rọi hoà bình – Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”: Nếu ba bức tranh trên là ngày thì bức tranh này là đêm. Nó vẽ ra cảnh ánh trăng rọi qua vòm lá tạo nên khung cảnh huyền ảo: “Rừng thu trăng rọi hoà bình”. Nó khiến ta nhớ đến câu thơ của Hồ Chí Minh: “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” ( Cảnh khuya). Đây là một khung cảnh trữ tình, cho nên nó gợi nhớ đến hình ảnh con người cất tiếng hát về sự ân tình, thuỷ chung. Chữ “ai” làm cho đoạn thơ trở nên tình tứ hơn. Qua đó, ta cũng thấy được phẩm chất ân nghĩa, thuỷ chung của người Việt Bắc.

Qua đoạn thơ, Tố Hữu đã thể hiện được những gì là đặc trưng nhất của cảnh và người Việt Bắc. Điều thú vị là tất cả đều hiện lên trong điệp khúc nhớ thương và vì thế dường như mọi thứ đều trở nên lung linh, huyền ảo hơn.

Nêu cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về đoạn thơ và vẻ đẹp của hồn thơ Tố Hữu.

Nguồn: chúng tôi

Cảm Nhận Của Anh/Chị Về Hai Đoạn Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Và Việt Bắc Của Tố Hữu

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi…”

(Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2008, trang 88)

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”

(Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2008, trang 112)

Gợi ý:

Tìm hiểu đề

(?) Nội dung vấn đề cần nghị luận:

– Giá trị nội dung của hai đoạn thơ trong bài Tây Tiến và Việt Bắc.

– Giá trị nghệ thuật của hai đoạn thơ.

(?) Kiểu bài và thao tác lập luận:

– Nghị luận văn học (Nghị luận về một đoạn thơ).

(?) Phạm vi tư liệu và dẫn chứng:

Đoạn thơ trích từ bài Tây Tiến và Việt Bắc đã dẫn trong đề bài.

Lập dàn ý

Mở bài: – Giới thiệu khái quát về hai tác giả, tác phẩm.

– Dẫn dắt và trích dẫn hai đoạn thơ.

Thân bài: – Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến.

– Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Việt Bắc.

– So sánh về hai đoạn thơ (nét tương đồng và khác biệt).

– Nhận định chung về giá trị của hai đoạn thơ.

Kết bài: – Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu.

– Nêu cảm nghĩ của bản thân (tình cảm của con người khi nghĩ về quá khứ).

Mở bài: – Quang Dũng là nghệ sĩ đa tài, tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm Tây Tiến. Bài thơ thể hiện nỗi nhớ của tác giả về thiên nhiên và con người nơi tác giả cùng gắn bó khi tham gia trong đoàn quân Tây Tiến. Bốn câu thơ đầu đã thể hiện rõ nét nội dung cũng như cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của tác giả.

– Việt Bắc là bài thơ xuất sắc của Tố Hữu. Bài thơ đã thể hiện tình cảm sâu sắc của người cán bộ kháng chiến với chiến khu và con người nơi núi rừng Việt Bắc. Bốn câu thơ thuộc phần một của bài thơ đã khắc họa phần nào đạo lí ân tình thủy chung đó.

Thân bài: * Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:

– Hai câu đầu bộc lộ nỗi nhớ da diết của tác giả về cảnh núi rừng Tây Bắc và người lính Tây Tiến. Những hình ảnh hiện về trong nỗi nhớ bao trùm lên cả không gian và thời gian.

– Tiếng gọi Tây Tiến ơi đầy tha thiết, trìu mến; điệp từ nhớ thể hiện nỗi nhớ cháy bỏng; từ láy chơi vơi vẽ ra trạng thái của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ dàn trải, da diết.

– Hai câu còn lại khắc họa vẻ đẹp của người lính trên đường hành quân gian khổ. Thời gian từ sáng sớm đến đêm khuya cho thấy sự gian lao, vất vả và sự tinh tế trong cảm nhận của người lính Tây Tiến trên bước đường hành quân.

– Từ ngữ chỉ địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hoang sơ, vắng vẻ; Hình ảnh thơ có sự hài hòa giữa thực và ảo; Sự kết hợp hiệu quả giữa âm vần rồi, ơi, chơi vơi, hơi tạo âm hưởng thiết tha, bồi hồi.

* Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:

– Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ khôn nguôi về những trận đánh nơi chiến khu Việt Bắc. Thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc cùng gắn kết với con người trong chiến đấu với kẻ thù.

– Dưới con mắt nhà thơ, thiên nhiên, núi rừng nơi đây trở nên có ý chí, có tình người. Đoạn thơ góp phần khẳng định thiên nhiên và con người Việt Nam thật anh dũng, kiên cường trong chiến đấu chống lại kẻ thù.

– Sử dụng nghệ thuật nhân hóa, lặp từ mang hiệu quả biểu đạt cao; Hai từ che, vây đối lập làm nổi bật vai trò của núi rừng chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

* So sánh hai đoạn thơ:

– Điểm tương đồng: Hai đoạn thơ đều bộc lộ nỗi nhớ thiết tha, sâu nặng về thiên nhiên và con người ở những nơi mà người linh đã từng đi qua và in dấu nhiều kỉ niệm.

– Điểm khác biệt:

+ Đoạn thơ trong Tây Tiến bộc lộ nỗi nhớ cụ thể của người trong cuộc, toát lên vẻ hào hoa, lãng mạn, hình ảnh thơ nghiêng về ý nghĩa tả thực.

+ Đoạn thơ trong Việt Bắc thông qua nỗi nhớ để thể hiện cái tình, lòng biết ơn sâu nặng của người cán bộ kháng chiến đối với đất và người Việt Bắc, hình ảnh thơ nghiêng về ý nghĩa khái quát, tượng trưng.

Kết bài – Đánh giá chung: Nội dung chủ yếu của hai đoạn thơ là thể hiện nỗi nhớ về cảnh và người nơi núi rừng Tây Bắc và chiến khu Việt Bắc.

– Khẳng định: Hai đoạn thơ đã thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc của con người khi nghĩ về một thời quá khứ gian khổ mà hào hùng.

Cảm Nhận Của Anh/ Chị Sau Khi Học Xong Truyện Cổ Tích Tấm Cám

Cảm nhận của anh/ chị sau khi học xong truyện cổ tích Tấm Cám – Văn mẫu lớp 10 tuyển chọn

Tấm Cám là câu chuyện cổ tích dân gian kể về cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa cái thiện và cái ác, cái tốt- cái xấu trong xã hội.Bằng những cảm nhận chân thực nhất của mình sau khi đọc xong câu chuyện này, anh chị hãy trình bày cảm nhận về truyện cổ tích Tấm Cám.

I. Dàn ý chi tiết cho đề trình bày cảm nhận về truyện cổ tích Tấm Cám

1. Mở bài

Giới thiệu truyện cổ tích “Tấm Cám”: Nằm trong kho tàng cổ tích phong phú, đa dạng, truyện “Tấm Cám” đã thể hiện số phận bất hạnh của nhân vật Tấm cùng sự độc ác, tàn nhẫn của mẹ con Cám để từ đó thể hiện ý niệm của nhân dân ta về sự chiến thắng của những điều tốt đẹp trước cái xấu, cái ác.

2. Thân bài

– Truyện “Tấm Cám” đã thể hiện thân phận bất hạnh cùng con đường đi đến hạnh phúc của cô gái mồ côi

+ Tấm là cô gái hiền lành, ngoan ngoãn, xuất hiện với số phận bất hạnh: mẹ Tấm mất sớm, sau đó người bố cũng qua đời.

+ Tấm không ngừng bị tổn thương trong sự ghẻ lạnh, hắt hủi của mẹ con Cám:

. Khi Tấm- Cám thi tài bắt tép, tranh cái yếm đào thì Tấm bị Cám lừa trút hết giỏ tép.

khi Tấm nuôi dưỡng cá bông như một người bạn thì mẹ con Cám giết cá bống.

Trong khi mẹ con Cám xúng xính quần là áo lượt đi dự hội làng thì Tấm phải nhặt thóc và gạo trộn lẫn.

Đỉnh điểm là khi Tấm trở thành hoàng hậu, những tưởng sẽ thoát khỏi bàn tay độc ác của mẹ con Cám thì cuối cùng vẫn bị mẹ con Cám lập mưu giết hại và hóa thân bốn lần đều bị mẹ con Cám hãm hại.

Cuối cùng, cô đã giành lại được hạnh phúc của chính bản thân mình và từ đó có hành động dứt khoát trừng trị cái ác ở cuối truyện.

– Truyện cổ tích “Tấm Cám” thể hiện quá trình đấu tranh giành và giữ hạnh phúc của cô gái mồ côi.

+ Trước đây, Tấm chỉ biết ngồi than khóc khi gặp khó khăn và nhờ cậy vào sự giúp đỡ của ông Bụt.

+ Sau khi chết, cô không hề trông mong vào ai mà tự mình giành lại hạnh phúc qua việc hóa thân nhiều lần.

+ Mặc dù cô liên tiếp bị mẹ con Cám giết hại nhưng vẫn khẳng định sức sống mạnh mẽ của bản thân, công khai vạch trần kẻ đã hãm hại mình, không còn yếu đuối cam chịu.

+ Sau mỗi lần hóa thân, Tấm lại trở nên mạnh mẽ hơn và kiên quyết chống lại những âm mưu và sự độc ác của mẹ con dì ghẻ và cuối cùng giành được chiến thắng.

– Truyện cổ tích “Tấm Cám” còn phản ánh cuộc đấu tranh giữa những thế lực đối lập

+ Phản ánh cuộc đấu tranh giữa cái thiện, những điều tốt đẹp trước cái xấu, cái ác.

Tấm đại diện cho kiểu nhân vật chính diện với những nét chính trong phẩm chất như thật thà tốt bụng, chăm chỉ làm lụng.

Mẹ con Cám là đại diện cho kiểu nhân vật phản diện với sự lười biếng, gian xảo.

+ Phản ánh những xung đột tồn tại trong gia đình và xã hội, thậm chí mang tính giai cấp.

3. Kết bài

Khái quát lại về giá trị nọi dung và nghệ thuật của tác phẩm: với cốt truyện li kì, hấp dẫn cùng những chi tiết tưởng tượng kì ảo, câu chuyện Tấm Cám đã thể hiện những mâu thuẫn cơ bản trong gia đình và xã hội Việt Nam thời bấy giờ. Đồng thời thể hiện ước mơ của nhân dân ta về cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn, tốt đẹp chỉ có được khi cái xấu, cái ác bị tiêu diệt.

Truyện cổ tích là một trong những chiếc nôi tinh thần quen thuộc nuôi dưỡng tâm hồn tuổi thơ của mỗi một con người. Đó là cánh cửa mở ra vô vàn điều kì diệu và lí thú, thể hiện những bài học nhân sinh sâu sắc. Nằm trong kho tàng cổ tích phong phú, đa dạng, truyện “Tấm Cám” đã thể hiện số phận bất hạnh của nhân vật Tấm cùng sự độc ác, tàn nhẫn của mẹ con Cám để từ đó thể hiện ý niệm của nhân dân ta về sự chiến thắng của những điều tốt đẹp trước cái xấu, cái ác.

Truyện “Tấm Cám” đã thể hiện thân phận bất hạnh cùng con đường đi đến hạnh phúc của cô gái mồ côi- một kiểu nhân vật quen thuộc trong thế giới cổ tích thần kì. Nhân vật của truyện cổ tích thần kì khá phong phú và đa dạng nhưng có thể phân chia thành những kiểu nhất định. Nhân vật chính thường là người, và thường là những con người nhỏ bé- những nạn nhân đáng thương của xã hội.

Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính là Tấm và nhân vật “dì ghẻ” và Cám- em gái cùng cha khác mẹ. Tấm là cô gái hiền lành, ngoan ngoãn, còn mẹ con Cám là kẻ độc ác, xấu xa. Trong tác phẩm, Tấm xuất hiện với số phận bất hạnh: mẹ Tấm mất sớm, sau đó người bố cũng qua đời. Những đứa trẻ mồ côi vốn phải trải qua rất nhiều đau khổ. Ông cha ta đã khái quát nỗi đau này thông qua câu tục ngữ: “Cha chết ăn cơm với cá, mẹ chết liếm lá đầu chợ”. Không những vậy, Tấm không ngừng bị tổn thương trong sự ghẻ lạnh, hắt hủi của mẹ con Cám. Khi Tấm- Cám thi tài bắt tép, tranh cái yếm đào thì Tấm bị Cám lừa trút hết giỏ tép, khi Tấm nuôi dưỡng cá bông như một người bạn thì mẹ con Cám giết cá bống. Trong khi mẹ con Cám xúng xính quần là áo lượt đi dự hội làng thì Tấm phải nhặt thóc và gạo trộn lẫn. Đỉnh điểm là khi Tấm trở thành hoàng hậu, những tưởng sẽ thoát khỏi bàn tay độc ác của mẹ con Cám thì cuối cùng vẫn bị mẹ con Cám lập mưu giết hại và hóa thân bốn lần đều bị mẹ con Cám hãm hại. Nhưng cuối cùng, mẹ con Cám cũng bị Tấm trừng phạt một cách thích đáng.

Truyện cổ tích “Tấm Cám” thể hiện quá trình đấu tranh giành và giữ hạnh phúc của cô gái mồ côi. Mặc dù đã trở thành hoàng hậu những Tấm vẫn bị mẹ con Cám hãm hại. Nhưng cô gái trước đây vốn chỉ biết ngồi than khóc khi gặp khó khăn và nhờ cậy vào sự giúp đỡ của ông Bụt thì giờ đây, sau khi chết, cô không hề trông mong vào ai mà tự mình giành lại hạnh phúc qua việc hóa thân nhiều lần. Mặc dù cô liên tiếp bị mẹ con Cám giết hại nhưng vẫn khẳng định sức sống mạnh mẽ của bản thân, công khai vạch trần kẻ đã hãm hại mình, không còn yếu đuối cam chịu. Sự hóa thân thành nhiều chặng liên tiếp của Tấm tạo nên sức hấp dẫn của câu chuyện. Sau mỗi lần hóa thân, Tấm lại trở nên mạnh mẽ hơn và kiên quyết chống lại những âm mưu và sự độc ác của mẹ con dì ghẻ. Và cuối cùng, cô đã giành lại được hạnh phúc của chính bản thân mình và từ đó có hành động dứt khoát trừng trị cái ác ở cuối truyện.

Truyện cổ tích “Tấm Cám” còn phản ánh những xung đột tồn tại trong gia đình và xã hội, thậm chí mang tính giai cấp. Trước hết, đó là mâu thuẫn giữa mẹ ghẻ- con chồng cùng xung đột con chung- con riêng xuất phát từ những yếu tố về quyền lợi vật chất. Nhưng sâu xa hơn, đằng sau mỗi lần Tấm ôm mặt khóc nức nở bởi sự chèn ép của mẹ con Cám chính là mâu thuẫn về giai cấp giữa một bên là người bị áp bức bóc lột và kẻ áp bức bóc lột. Sau đó, mâu thuẫn này được đẩy lên mâu thuẫn xã hội bởi sau khi Tấm trở thành hoàng hậu nhưng vẫn bị mẹ con Cám hãm hại.

Như vậy, với cốt truyện li kì, hấp dẫn cùng những chi tiết tưởng tượng kì ảo, câu chuyện Tấm Cám đã thể hiện những mâu thuẫn cơ bản trong gia đình và xã hội Việt Nam thời bấy giờ. Đồng thời thể hiện ước mơ của nhân dân ta về cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn, tốt đẹp chỉ có được khi cái xấu, cái ác bị tiêu diệt.

Theo chúng tôi

Cảm Nhận Của Anh/ Chị Về Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Đồng Chí” Của Chính Hữu

“Đồng chí” là bài thơ hay nhất của Chính Hữu viết về người nông dân mặc áo lính trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bài thơ được viết vào đầu xuân 1948, sau chiến tháng Việt Bắc thu đông 1947, nó đã đi qua một hành trình nửa thế kỉ làm sang trọng một hồn thơ chiến sĩ của Chính Hữu.

Hai mươi dòng thơ, với ngôn ngữ bình dị, giọng điệu thủ thỉ tâm tình, cảm xúc dồn nén, hình tượng thơ phát sáng, có một vài câu thơ để lại nhiều ngỡ ngàng cho bạn đọc trẻ ngày nay.

Hai câu thơ đầu cấu trúc song hành, đối xứng làm hiện lên hai “gương mặt” người chiến sĩ rất trẻ, như đang tâm sự cùng nhau. Giọng điệu tâm tình của một tình bạn thân thiết:

“Quê hương anh nước mặn, .

Quê hương anh và làng tôi đều nghèo khổ, là nơi “nước mặn, đồng chua”, là xứ sở “đất cày lên sỏi đá”. Mượn tục ngữ, thành ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn thân yêu của mình, Chính Hữu đã làm cho lời thơ bình dị, chất thơ mộc mạc, đáng yêu như tâm hồn nguời trai cày ra trận đánh giặc. Sự đồng cảnh, đồng cảm và hiểu nhau là cơ sở, là cái gốc làm nên tình bạn, tình đồng chí sau này.

Năm câu thơ tiếp theo nói lên một quá trình thương mến: từ “đôi người xa lạ” rồi “thành đôi tri kỉ”, về sau kết thành “đồng chí”. Câu thơ biến hóa, 7, 8 từ rồi rút lại, nén xuống 2 từ, cảm xúc vần thơ như dồn tụ lại, nén chặt lại. Những ngày đầu đứng dưới lá quân kì: “Anh với tôi đôi người xa lạ – Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”. Đôi bạn gắn bó với nhau bằng bao kỉ niệm đẹp:

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!”

“Súng bên súng” là cách nói hàm súc, hình tượng: cùng chung lí tưởng chiến đấu; “anh với tôi” cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương, vì độc lập, tự do và sự sống còn của dân tộc. “Đầu sát bên đầu” là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao. Câu thơ “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” là câu thơ hay và cảm động, đầy ắp kỉ niệm một thời gian khổ. Chia ngọt sẻ bùi mới “thành đôi tri kỉ”. “Đôi tri ki” là đôi bạn rất thân, biết bạn như biết mình. Bạn chiến đấu thành tri kỉ, về sau trở thành đồng chí! Câu thơ 7, 8 từ đột ngột rút ngắn lại hai từ “đồng chí” làm diễn tả niềm tự hào xúc động ngân nga mãi trong lòng. Xúc động khi nghĩ về một tình bạn đẹp. Tự hào về mối tình đồng chí cao cả thiêng liêng, cùng chung lí tưởng chiến đấu của những người binh nhì vốn là những trai cày giàu lòng yêu nước ra trận đánh giặc. Các từ ngữ được sử dụng làm vị ngữ trong vần thơ: bên, sát, chung, thành – đã thể hiện sự gắn bó thiết tha của tình tri ki, tình dồng chí. Cái tấm chăn mỏng mà ấm áp tình tri kỉ, tình đồng chí ấy mãi mãi là kỉ niệm đẹp của người lính, không bao giờ có thể quên

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cảm Nhận Của Anh/Chị Về Hai Đoạn Thơ Sau: “Gió Theo Lối Gió, Mây Đường Mây… Có Chờ Trăng Về Kịp Tối Nay?” (“Đây Thôn Vĩ Dạ” trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!