Đề Xuất 1/2023 # Bông Hoa Với Ba Điều Ước # Top 2 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Bông Hoa Với Ba Điều Ước # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bông Hoa Với Ba Điều Ước mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Câu chuyện Bông hoa với ba điều ước

Bông hoa với ba điều ước là truyện cổ tích của người Ba Na, cho thấy niềm vui trong cuộc sống đôi khi chỉ là được làm những công việc có ích với mọi người.

1. Rít vừa được cha nuôi truyền cho nghề giỏi thì cha nuôi qua đời

Ngày xưa, ở buôn [1] nọ có một cậu bé tên là Rít. Rít mồ côi bố mẹ, được bác thợ rèn [2] trong buôn đem về nuôi. Chẳng bao lâu, cậu đã biết kéo bễ [3] giúp cha nuôi rèn cuốc, dao cho bà con trong buôn.

Cha nuôi Rít là một người thợ rèn giỏi. Bác được bà con trong buôn và người quanh vùng yêu mến. Dù ở xa mấy, họ cũng lội suối, trèo đèo, mang cuốc hư, dao hỏng đến cho bác rèn chữa hộ. Nhờ công bác mà người dân quanh vùng có dao, cuốc, thuổng dùng trong việc trồng trọt. Nương rẫy [4] đầu ắp lúa, ngô. Buôn làng vui tươi no ấm.

Bác thợ rèn thấy Rít chăm chỉ, siêng năng nên truyền tất cả mọi điều hay trong nghề cho con. Rít cặm cụi học cha.

Ít lâu sau, người cha nuôi qua đời. Nghe tin bác thợ rèn mất, mọi người đều thương tiếc. Rít lại càng buồn hơn, đi lang thang [5] trong rừng chẳng chịu làm gì.

2. Bông hoa với ba điều ước

Rít đang đi bỗng nghe tiếng gọi đằng sau. Quay lại, Rít thấy một ông già tay chống gậy, tóc bạc phơ, đôi mắt sáng như sao. Đặc biệt là trên chiếc gậy của ông cụ lại nở rất nhiều bông hoa đẹp, hương thơm ngào ngạt. Ông cụ đến gần Rít xoa đầu, vỗ vai cậu bé rồi hỏi:

– Sao cháu lại đi lang thang trong khu rừng này?

Rít buồn rầu thưa:

– Thưa ông, cha cháu là bác thợ rèn nổi tiếng nhất vùng này. Nay cha cháu mất rồi, cháu buồn quá.

– Thế cháu có muốn trở về làm thợ rèn như cha cháu không?

– Thưa ông, cháu không muốn. Nghề ấy vất vả quá!

– Nếu vậy ông cho cháu ba bông hoa với ba điều ước [6]. Cháu muốn ước điều gì thì cầm bông hoa tung lên là sẽ được điều ấy. Nhưng mỗi bông hoa chỉ được một điều ước thôi. Khi nào cháu không thích điều đó nữa thì tức khắc cháu lại được như ý muốn.

Ông lão ngắt ba bông hoa ở chiếc gậy trúc [7] đưa cho Rút rồi biến mất.

3. Rít thực hiện cả ba điều ước mà cuộc sống vẫn chẳng hơn gì

Rít cầm ba bông hoa và tiếp túc đi.

Bỗng Rít nhớ lại lời cha kể, trên đời chỉ có vua là giàu có nhất, có nhà cao cửa rộng, lại mặc quần áo sang nhất, ăn ngon nhất. Rít nhìn bông hoa và tự nhủ [8]:

– Ồ, thế thì tội gì ta không làm vua?

Rít liền tung bông hoa thứ nhất lên. Trong nháy mắt, mọi thứ đều thay đổi. Rít bệ vệ trong bộ quần áo thêu rồng và giát vàng óng ánh. Rít ở trong cung điện lộng lẫy, có kẻ hầy người hạ… Nhưng chỉ mấy ngày sau, Rít cảm thấy vướng víu trong bộ quần áo lụng thụng [9] và chán cái cảnh ăn không ngồi rồi ấy. Rít nghĩ: “Thôi, chẳng làm vua nữa. Chán lắm!”.

Bỗng chốc Rít trở lại cậu bé nghèo, đang lang thang như hồi nọ. Trên đường, Rít gặp một người đi buôn, lừa ngựa thồ [10] hàng nhiều vô kể, đồ đồng và tiền bạc chứa hàng bao to, Rít liền tung bông hoa thứ hai lên và nói:

– Ta phải được hơn thế!

Dứt lời thì mọi thứ đã chất ngổn ngang quanh mình. Rít hả hê [11] với cảnh giàu có của mình. Nhưng từ khi có của, Rít luôn cảm thấy thấp thỏm [12] trong lòng, nơm nớp [13] sợ bị mất trộm.

Rít lại nghĩ: “Thế ra có của rồi cũng chỉ những lo là lo! Thôi, ta chả thích giàu nữa!”.

Rít lại trở lại cậu bé nghèo đang lang thang như hồi nọ, trong tay chỉ còn mỗi một bông hoa. Rít nhìn lên trời, những đám mây đủ màu sắc rực rỡ, lơ lửng đuổi nhau trên bầu trời. Rít cảm thấy thèm được bay bổng trên không như những đám mây kia. Rít tung nốt bông hoa cuối cùng. Bây giờ Rít ở giữa những đám mây ngũ sắc cao tít đó. Rít tha hồ ngắm cảnh trên trời dưới biển. Ngày đêm, Rít cứ bay bổng như thế. Nhìn mây trời, sóng biển rồi cũng chán! Rít nghĩ: “Bay thế này mãi cũng chẳng thú vị gì! Thôi, chẳng bay nữa, trở về thôi”. Rít lại quay trở lại mặt đất.

4. Ý nghĩa của hạnh phúc

Qua bao ngày phiêu bạt [14], Rít bỗng nhớ quê hương, nhớ túp lều với đôi bễ lò rèn của cha. Rít nhất quyết trở về.

Nghe tin Rít, con nuôi bác thợ rèn giỏi nhất trong vùng đã trở về, tất cả bà con xa gần kéo đến chúc mừng cậu bé.

Từ già đến trẻ đều khuyên nài Rít giữ nghề cũ của cha.

Lò bễ đã lâu tắt ngấm, nay lại đỏ lửa, ngày đêm vang tiếng búa đe của Rít. Tất cả những điều hay trong nghề được cha truyền cho, Rít đều mang ra dùng. Bà con khắp vùng ai ai cũng yêu mến Rít chẳng kém gì họ kính nể cha nuôi của Rít ngày xưa. Dần dần, Rít cảm thấy cuộc sống thật là ý nghĩa với nhiều niềm vui.

Bông hoa với ba điều ước – Truyện cổ tích Ba Na Nguồn: Kể chuyện 2, trang 139, NXB Giáo dục – 1982 – chúng tôi –

Chú thích trong truyện Bông hoa với ba điều ước

[1] Buôn: làng ở miền núi của đồng bào thiểu số miền Trung và Nam (vùng Tây Nguyên). [2] Thợ rèn: người làm nghề rèn sắt nung làm thành đồ dùng (còn gọi là thờ rào). [3] Bễ: dụng cụ của người thợ rèn dùng để bơm hơi vào lò cho lửa cháy mạnh (kéo bễ: bơm hơi vào lò bằng bễ có hai chiếc cần kéo lên, đẩy xuống bằng hai tay). [4] Nương rẫy: ruộng ở đồi núi. [5] Đi lang thang: đi hết chỗ này đến chỗ khác không có mục đích. [6] Điều ước: Điều mong ước, điều mong mỏi có được. [7] Trúc: loài cây cùng họ với tre, thân nhỏ và thằng, màu vàng. [8] Tự nhủ: tự bảo với mình. [9] Lụng thụng: (quần áo) rộng và dài quá khổ người. [10] Thồ: (ngựa) chở hàng. [11] Hả hê: thỏa thích, thỏa mãn ở mức rất cao. [12] Thấp thỏm: lo lắng, không yên tâm. [13] Nơm nớp: lúc nào cũng lo sợ điều chẳng lành bất chợt xảy ra cho mình. [14] Phiêu bạt: trôi dạt nay đây mai đó.

Thử thách trong câu chuyện Bông hoa với ba điều ước

Kể ra ba điều ước mà Rít đã thực hiện.

Vì sao ba điều ước không mang lại hạnh phúc cho Rít?

Cuối cùng, Rít hiều điều gì mới đáng mơ ước?

Nếu có ba điều ước, các bé sẽ ước những gì?

[1] Buôn: làng ở miền núi của đồng bào thiểu số miền Trung và Nam (vùng Tây Nguyên).[2] Thợ rèn: người làm nghề rèn sắt nung làm thành đồ dùng (còn gọi là thờ rào).[3] Bễ: dụng cụ của người thợ rèn dùng để bơm hơi vào lò cho lửa cháy mạnh (kéo bễ: bơm hơi vào lò bằng bễ có hai chiếc cần kéo lên, đẩy xuống bằng hai tay).[4] Nương rẫy: ruộng ở đồi núi.[5] Đi lang thang: đi hết chỗ này đến chỗ khác không có mục đích.[6] Điều ước: Điều mong ước, điều mong mỏi có được.[7] Trúc: loài cây cùng họ với tre, thân nhỏ và thằng, màu vàng.[8] Tự nhủ: tự bảo với mình.[9] Lụng thụng: (quần áo) rộng và dài quá khổ người.[10] Thồ: (ngựa) chở hàng.[11] Hả hê: thỏa thích, thỏa mãn ở mức rất cao.[12] Thấp thỏm: lo lắng, không yên tâm.[13] Nơm nớp: lúc nào cũng lo sợ điều chẳng lành bất chợt xảy ra cho mình.[14] Phiêu bạt: trôi dạt nay đây mai đó.

Điều Ước… Ánh Sao Băng

ĐIỀU ƯỚC… ÁNH SAO BĂNG

              Dung Thị Vân

Vì anh nên biển có em Để bờ cát trắng về đêm thầm thì Sóng xô như lệ vương mi Vỡ òa nỗi nhớ bước đi ngập ngừng

Em ngồi trước biển rưng rưng Dã tràng xe cát mấy trùng sóng xô Nhìn đâu cũng chỉ một bờ Mênh mang biển cả mịt mờ bóng đêm

Từ anh lời nói dịu êm Em giờ thổn thức bên thềm đẫm trăng Ước gì một ánh sao băng Vớt lời thề hẹn rồi giăng mái trời

(Trích trong tập “Miền gió ngược” – NXB Thanh niên, 2010)

Lời bình của Trần Vân Hạc

Nếu điều ước trở thành hiện thực, thì điều ước của “em”, nhân vật trữ tình trong bài thơ của Dung Thị Vân sẽ như thế nào nhỉ:

Ước gì một ánh sao băng Vớt lời thề hẹn rồi giăng mái trời

Thì ra người con gái hiện lên từ biển cả, báu vật mà tạo hóa ban cho “anh” đã từng được đắm mình trong bao ánh hào quang của những lời hẹn thề hào phóng. Có bao nhiêu điều trở thành hiện thực? Bao lời thề như “ánh sao băng” lóe lên rồi chợt tắt. Đến nỗi nếu “vớt” được những “ánh sao băng” ấy, sẽ kết thành muôn vì sao lợp kín “mái trời” – mái nhà nhân gian cho những đôi người hạnh phúc!

Hình ảnh: “Em ngồi trước biển rưng rưng/ Dã tràng se cát mấy trùng sóng xô”, sao mà xa xót, khiến cho biển đã mặn lại mặn thêm vì những dòng nước mắt khổ đau. Những con sóng bạc đầu vỡ òa trong nỗi niềm quặn thắt, tiếc nuối bao công sức bền bỉ, vun đắp cho tình yêu, nay đã trở thành: “Dã tràng xe cát mấy trùng sóng xô”.

Chỉ mấy dòng thơ mà bao tâm trạng, cung bậc của tình yêu cùng nỗi lòng da diết của người con gái, từng giọt, từng giọt thấm vào lòng người đọc những lời tự bạch của một trái tim luôn rung lên những nhịp đập vì tình yêu trong trắng cao đẹp.

Hà Nội 10.2011 Trần Vân Hạc

Soạn Bài Ước Mơ Của Em

1)Dựa vào những hình ảnh trong hài thơ (bầu trời, bãi biển, mặt trời, tia nắng, bãi cát, người cha, con trai…), hãy miêu tả cảnh hai cha con dạo chơi trên bãi biển.

2)Thay nhau đối đáp để hoàn chỉnh cuộc trò chuyện giữa hai cha con (SGK/56)

3)Những câu hỏi ngây thơ cho thấy con có ước mơ gì?

4)Ước mơ của con gợi cho cha nhớ đến điều gì?

1)Buổi sáng, bầu trời trong vắt, biển như rộng thêm ra. Đằng chân trời xa, ánh mặt trời rải nhừng tia nắng rực rỡ trên biển xanh.

Trên bãi cát trắng mịn, hai cha con dạo bước bên nhau. Bóng cha dài lênh khênh song song cùng bóng con tròn mà chắc nịch. Sau trận mưa đêm, không khí khoáng đãng hơn, ánh ban mai nhuộm hồng dáng cha và con tay trong tay.

2)Con: – Cha ơi!

Sao xa kia chỉ thấy nước thây trời

Không thấy nhà, không thấy cây, không thấy người ở đó? Cha: – Theo cánh buồm đi mãi đến nơi xa Sẽ có cây, có cửa có nhà,

3)Con có ước mơ được khám phá những điều mới lạ trong cuộc sống.

4)Ước mơ của em gợi cho cha nhớ đến ước mơ của mình khi còn trẻ thơ. Hôm ấy, bọn trẻ trong làng chọn hố cát cạnh con mương đào làm nơi tổ chức cuộc thi nhảy xa. Chị Hà được mời làm trọng tài. Khán giả là mấy cô cậu tí hon ngồi ở bên kia bờ mương mắt hau háu chờ xem.

Chị Hà dõng dạc hô:

-Các thí sinh chuẩn bị! Người số một: Hưng!

Hưng Tồ bậm bạch như một chú vịt chạy vào vị trí. Nghe tiếng hô: “Bắt đầu!”, nó lấy đà chạy nhanh đến bất ngờ. Gần đến nơi, miệng nó bặm lại. “Phốc”, nó nhảy đúng vào miệng hố bên kia, đất lún xuống. Nó đứng dậy, hãnh diện nhìn mọi người.

Người tiếp theo là Dũng Béo. Vừa nghe gọi tên, cậu đã vồ đùi đen đét để thị uy. Rồi cậu cũng nhảy qua hố có phần dễ dàng hơn Hưng Tồ. Chỉ phải cái chân cậu lún sâu xuống lớp đất mềm khiến cả bọn phải xúm vào “nhổ” cậu lên. Cậu ta cười toe toét:

-Tớ sẽ nhảy lại để tự phá kỉ lục.

Người thứ ba vượt qua chiếc hố nhẹ như mèo là Tuấn Sứt, cậu ta đã từng thi nhảy xa cấp huyện. Xong việc, cậu nằm vắt chân chữ ngũ trên cỏ để chờ nhận giải.

Chị Hà gọi đến Tôm Chip. Tôm Chip bé nhất bọn, tính tình lại rụt rè, mới nghe gọi tên mặt đã đỏ lên. Chị Hà ái ngại, bảo:

-Nếu em không nhảy thì làm khán giả vậy.

Tôm Chip càng bối rối. Dũng Béo thấy vậy, cười, bảo:

-Làm khán giả thì sang bờ mương bên kia.

Có thể vì tự ái, Tôm Chip quyết định vào vị trí.

Tôm Chip giật bắn người lao lên. Đến gần điểm đệm nhảy thì cậu đột nhiên đứng sựng lại, chân miết xuống đất.

-Không nhảy được thì chạy qua.

-Hay là để tớ cắp vào nách rồi nhảy qua.

-Tớ cho cậu thành tích lúc nãy đây. Dũng, Hưng và mấy bạn nhao nhao khích bác.

Tôm Chip suýt khóc vì giận mình và các bạn. Chị Hà nhẹ nhàng an úi:

-Hay em dế Dũng nhảy lại trước đã.Nhưng Tôm Chíp quyết định nhảy lần thứ hai. Lần này cậu lấy đà đúng kiểu hơn. Đúng lúc cậu đạp chân vào mô đất lao lên thì có tiếng kêu thất thanh phía bên kia bờ mương. Mọi người đang tập trung theo dõi cuộc thi nên chỉ có cậu mới trông thấy một bé trai, do xô đấy, đang lăn theo bờ mương xuống dòng nước. Cậu lao nhanh như tên bắn. Đến gần hố nhảy, cậu quặt sang bên, tiếp tục lao lên khiến mọi người cười ồ. Khi đứa bé đã ở sát mép nước, Tôm Chíp cũng đã tới bờ mương. Có tiếng hét tuyệt vọng. Lúc tất cả cùng nhận ra mối nguy hiểm thì họ cũng thây Tôm Chíp đã nhảy như bay qua con mương kịp giữ đứa bé lại. Ai nấy thơ phào.

Chị Hà lội sang bờ mương bên kia. Mấy đứa lần lượt lội sang theo. Cả bọn đều lè lưỡi, lắc đầu không hiếu Tôm Chíp làm thế nào để nhảy qua con mương rộng nhường kia. Dũng Béo tuyên bố:

– Chức vô địch thuộc về Tôm Chíp. Nhưng phải khám xem nó có lắp chiếc cánh quạt nào không đã.

Cả bọn cười ồ lên và phục Tôm Chíp ra mặt. Còn Tôm Chíp thì nhớ lại lúc đó cậu không nghĩ đến cuộc thi mà chỉ nghĩ đến việc cứu em bé khỏi rơi xuống nước.

Nhà vô địch em vừa nghe kể (SGK/58, 59)

c)Trả lời câu hỏi:

-Em thích nhất chi tiết nào trong truyện?

-Nguyên nhân dẫn đến thành tích bất ngờ của Tôm Chíp là gì?

-Tôm Chíp có điều gì đáng khen?

c) – Em thích nhât chi tiết phần thi của Dũng béo.

Khi nhảy qua dễ dàng cái hố cát nhưng chân của cậu bị lún sâu xuông lớp đất mềm khiến cả bọn xúm lại “nhổ” cậu lên. Hình ảnh thật vui nhộn và ngộ nghĩnh.

-Tình huống bất ngờ xảy ra khiến Tôm Chíp mất đi tính nhút nhát, thiếu tự tin. Tôm Chíp phản ứng rất nhanh và dũng cảm lao qua con mương rộng để cứu một em bé.

Tôm Chíp dũng cảm, nhanh trí, quên mình để cứu người.

Đi Tìm Lá Diêu Bông

Từ thuở ấy Em cầm chiếc lá đi đầu non cuối bể Gió quê vi vút gọi Diêu bông hời… … ới Diêu bông…!

Trong suốt cuộc đời mình cho đến hôm nay Hoàng Cầm có tất cả 13 Nàng Thơ xương thịt. Ông bảo “Đó là những hồn người đã gọi ra nhịp điệu, âm thanh, đường nét sắc màu” những bài thơ tình của ông. Theo nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha, thì ông đã cho mọi người biết tên của 9 nàng, còn 4 nàng là tên viết tắt. Trong 9 nàng có tên, có chị Vinh “diêu bông” và chị Nghĩa “tam cúc”đã làm nên thời ký “Thơ Chị Em” của Hoàng Cầm. Nhà thơ Hoàng Cầm kể trên sóng phát thanh :” Năm 12 tuổi, tôi say mê một người con gái láng giềng hơn tôi những 8 tuổi….”. Một chiều thứ bảy, cậu bé Bùi Tằng Việt thấy một cô gái hàng xóm đang mua thứ gì đó ở quán của mẹ. Khi cô ấy ngẫng đầu lên, nhìn ra đường thì cậu bé lên tám choáng người, bị ngay “tiếng sét ái tình” Người con gái đẹp đến mê hồn. Thế là cậu bé làm một trang thơ lục bát tặng người tình trong mộng . “Em gửi chị Vinh của em”. Chị Vinh cũng váy lụa Đình Bảng, áo cánh lụa mỡ gà, khăn vuông mỏ quạ , đi Hội Lim chị là bà chúa quan họ, giọng ngọt như mật. Từ đó CHỊ đi đâu EM theo đó. Lẽo đẽo bụi hồng. Cho đến một ngày tròn 12 tuổi, cậu bé theo sau chân chị ra đồng. – Chị Vinh ơi chị tìm cái gì thế”. Chị Vinh quay phắt lại, giọng bỡn cợt : – Ừ , Chị đi tìm tìm cái lá… ấy đấy, đứa nào tìm được cái lá… ấy ta gọi là chồng ! Hai ngày em tìm thấy Lá Chị chau mày Đâu phải lá Diêu bôngMùa đông sau em tìm thấy Lá Chị lắc đầu Trông nắng vãn bên sông Ngày cưới Chị Em tìm thấy Lá Chị cười xe chỉ ấm trôn kim Chị ba con Em tìm thấy Lá Xoè tay phủ mặt Chị không nhìn

Từ khi “Chị thẫn thơ đi tìm / Đồng chiều / Cuống rạ” cho đến ” Mùa đông sau…, Ngày cưới chị…rồi khi “Chị ba con” là một quãng thời gian rất dài, rất dài. Vậy mà EM vẫn kiên nhẫn miệt mài đi tìm Lá để chứng minh cho tình yêu CHỊ của mình. Và Em đã bốn dạo “Tìm thấy Lá”, nhưng đều bị CHỊ từ chối không “gọi là chồng”. Bi kịch của tình yêu, bi kịch cuộc đời là vậy . Yêu nồng nàn , nhưng không tới được hạnh phúc. Cho nênTừ thuở ấy Em cầm chiếc lá đi đầu non cuối bể Gió quê vi vút gọi Diêu bông hời… Ới Diêu Bông… !Đoạn kết bài thơ như một tiếng kêu thảng thốt, nấc ngẹn, đẩy nỗi buồn đau đến vô cùng . Bài thơ là một giấc mộng, là câu chuyện cổ tích về mối tình đầu của Hoàng Cầm. Với ngôn ngữ vùng Kinh Bắc dân giã mà chắt lọc, bài thơ như pho tượng đài tình yêu bằng kim cương lấp lánh. Ôi, thơ là ngôn ngôn kỳ diệu của trí tưởng tưởng. Nhà thơ sáng tạo ra hình tượng thơ, còn người đọc thơ, cảm thơ thì mỗi người cảm nhận một cách khách nhau. Đó là “ý tại ngôn ngoại” của thơ, do chiều sâu của bài thơ quy đinh. Đó cũng là cội nguồn gây ra bao rắc rối cho tác giả Lá Diêu Bông…

Tôi quen biết nhà thơ Hoàng Cầm nhờ anh Phùng Quán. Năm 1985, ra Hà Nội, tôi ngụ tại Chòi Ngắm Sóng của Phùng Quán. Ngày nào anh cũng đèo tôi bằng cái xe đạp cuốc Liên Xô cao lêu nghêu đi thăm các nhà thăm Trần Dần. Hoàng Cầm, Phùng chúng tôi đó, tôi gặp anh nhiều lần ở nhà anh Phùng Quán, hay trong các kỳ Đại hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1993, Hoàng Cầm cho xuất bản tập thơ Lá Diêu bông, một phần trong tập “Về Kinh Bắc ” viết trong 2 năm 1959, 1960. Sau nhiều trắc trở, mãi đến tháng 7- 1994, tập thơ “Về Kinh Bắc” mới được ấn hành. Ông tặng tôi một tập với lời đề tặng rất “bạn bè” “Tặng bạn Ngô Minh”, mặc dù về tuổi ông là bậc cha chú, về thơ ông là bậc thấy.

Đọc Lá Diêu Bông, ngoài câu chuyện tình đơn phương như huyền thoại ấy, tôi còn miên man nghĩ đến một “thông điệp” khác rất “bỏng cháy” phát ra trong từng câu chữ thơ. Tại sao EM tìm thấy LÁ mà CHỊ vẫn “chau mày”, ” lắc đầu”,” xoè tay phủ mặt không nhìn” ? CHỊ là ai ? Tạo sao CHỊ lại nhất quyết cự tuyệt tình yêu của EM đến vậy, mà không một lời giải thích , không một chút thương tâm ? Sao Chị lại Vô Tình, Vô Tâm đến vậy ? Đó có phải là một phần số phận đắng cay, ẩn ức của Hoàng Cầm được thể hiện dưới dạng thức thơ tình ? Sinh thời, anh Phùng Quán thường kể với tôi, sau vụ Nhân Văn – Giai phẩm, Hoàng Cầm là người “sám hối” mạnh mẽ nhất để mong sớm được làm thơ, viết văn trở lại. Ông làm nhiều thơ gửi lên cấp trên để mong được “cứu xét”. Rồi ông chờ đợi. Nhưng không một hồi âm. Nhớ lại thời kỳ này, nhà thơ Hoàng Cầm kể với phóng viên báo An Ninh Thủ đô ngày 28/2/2007 :” Lúc đó chúng tôi chỉ biết lấy sáng tác để khắc phục, làm đêm làm ngày, tập trung sáng tác để quên đi cái khổ. Chỉ có cách khắc phục bằng lý tưởng cách mạng của mình thôi chứ biết làm sao…”. Ông đã làm hết sức mình để thể hiện lòng trung trinh như nhất của mình, nhưng vẫn bị nghi ngờ, chối bỏ! Thế là ông mượn thơ để giải toả nỗi thất vọng của mình. Có lẽ không phải riêng tôi mà có lẽ ai cũng nghĩ như thế. Vì bài thơ ” mỗi lời là một vận vào khó nghe” với số phận ông Hoàng.

Nhà hto Hoàng Cầm không chỉ bị nạn trong vụ “Nhân Văn- Giai phẩm”. Bài thơ ” Lá Diêu bông” ra đời cũng đã làm cho Hoàng Cầm phải tù tội điêu đứng. Nhà thơ Hoàng Cầm kể với vợ chồng anh Phùng Quán và tôi trên “Chòi ngắm Sóng” bên Hồ Tây một câu chuyện buồn. Mùa thu năm 1982, bỗng nhiên xe Công an đến nhà riêng 43-Lý Quốc Sư Hà Nội đọc lệnh bắt ông Bùi Tằng Việt ( tên thật của nhà thơ Hoàng Cầm) vô tù về tội chứa chấp người buôn bán sử dụng ma tuý. Hoàng Cầm thì xưa nay đã thành nếp, ngày nào cũng hút vài “vê” nàng Tiên Nâu mới tỉnh trí để sáng tác. Bây giờ đã 88 tuổi rồi, ông vẫn chơi “cơm đen”. Đã hút thì phải có người cung cấp thuốc, tất nhiên… Thực ra, thì trước đó Công an đã bắt nhà thơ Hoàng Hưng vì nhà thơ này định chuyển bản thảo tập thơ “Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm, do Hoàng Cầm đưa ra hải ngoại để in ấn. Do vậy, Hoàng Cầm bị bắt. Trong tập thơ đó có bài thơ ” Lá diêu bông” . Ở trong nhà giam, “cán bộ” đưa cho nhà thơ bản thảo tập thơ Về Kinh Bắc, bảo Hoàng Cầm mỗi ngày phải viết kiểm điểm về từng bài, từng chữ trong đó. Khi nào kiểm điểm “thành khẩn” mới được tha. Về Kinh Bắc là tập thơ trữ tình hay nhất, tâm huyết nhất của Hoàng Cầm. Ông đọc đi đọc lại chẳng thấy có gì “sai đường lối” cả. Nhưng “cán bộ” trai giam vẫn không chịu, vẫn bắt viết kiểm điểm. Một hôm ông nghĩ “Có lẽ do bài Lá Diêu Bông chăng?”. Vì đây là bài thơ duy nhất có độ “nhoè” cao, dễ gây ra những ý nghĩa mơ hồ . Thế là Hoàng Cầm viết kiểm điểm ngay bài thơ “Lá Diêu Bông”. Quả nhiên, khi nộp kiểm điểm, ông thiếu tá công an vui vẻ cảm ơn nhà thơ. Đúng là bài thơ đã tạo ta hai hình ảnh đối nghịch :CHỊ bà EM. Đọc trong văn cảnh, người ta nghĩ ngay đến CHỊ đây là người có quyền muốn làm gì thì làm, tức là Nhà nước. Còn EM là nhà thơ, là văn nghệ sĩ, yêu CHỊ mà CHỊ không yêu cũng phải cam chịu. Muốn theo chị mà chị không cho, chị lắc đầu. Thế là vì “Lá Diêu Bông”, Hoàng Cầm đã phải ngồi tù 18 tháng.Tôi thấy công an đọc thơ như thế cũng “khen cho con mắt tinh đời”. Nhưng, thực tình “Lá Diêu Bông” không phải là bài thơ CHỐNG ĐỐI, không có ý gì chống đối ẩn trong đó cả, mà chỉ là bài thơ BUỒN, TRÁCH . Vì “buồn, vì “trách” mà phải ngồi tù năm rưỡi ròng quả là quá oan nghiệt ! Giá mà những người làm công việc “thực thi pháp luật ” được đào tạo học hành tử tế, hiểu cho hết, cho đúng ý tưởng bài thơ, thì chắc chắn nhà thơ Hoàng Cầm không phải bị phiền luỵ đến thế !

Sau đợt bị nhốt tù ấy về, nhà thơ Hoàng Cầm bị suy sụp vì khủng hoảng tinh thần. Có lần Phùng Quán đến nhà thăm, bà Hoàng Yến ( vợ Hoàng Cầm) nói với anh Quán :” Anh chú hỏng rồi ! Ai đời ăn bánh giò xong, bỏ lá bánh vào tủ khoá lại…” Từ đó, Hoàng Cầm không sáng tác nữa . Hàng ngày ông bán quán nước trà trước nhà. Bọn trẻ gọi ” Ông Cầm, cho đĩa lạc”. Thế là ông lọm khọm bốc lạc ra đĩa, bưng đến bàn cho bọn khách choai choai. Phùng Quán xót ruột hỏi :” Cái quán nước này cho anh ngày bao nhiêu mà anh phải khổ sở thế ?” .Hoàng Cầm ngậm ngùi :” Em cứ coi như thi sĩ Hoàng Cầm đã chết rồi. Bây giờ chỉ còn mỗi ông chủ quán nước Hoàng Cầm thôi !” Vì thế, Phùng Quán, đã viết bài thơ “Viết tặng nhà thơ Hoàng Cầm trong giây phút anh ngã lòng suy sụp” : Tôi tin núi tàn / Tôi tin sông lấp / Nhưng tôi không thể nào tin / Một nhà thơ như anh / Lại ngã lòng suy sụp!… Tôi có một niềm tin / Chắc như định đóng cột / Mai kia anh nhắm mắt / Đi sau linh cửu anh / Ngoàì bạn hữu gia đinh / Có cả con Sông Đuống!…Sau này. Nhà thơ Hoàng Cầm đã có lần tâm sự với chị Bội Trâm ( vợ nhà thơ Phùng Quán) :” Thơ chú Quán đã vực tôi dậy …”. Cũng có một nhà văn ở Thành phố Hồ Chí Minh đã viết bài :” Một bài thơ đã cứu một nhà thơ…”

Có người định nghĩa Lá Diêu bông là Lá yêu , những ai đang yêu mới tìm thấy lá! Tôi cho rằng Lá Diêu Bông là một trong những bài thơ tình hay nhất Việt Nam. Nhưng tôi vẫn đi tìm lá Diêu Bông theo cảm nhận của riêng mình, đi tìm cái lá Diêu Bông của số phận thi sĩ .Diêu Bông hời Ới Diêu Bông…

Phạm Duy Tuấn @ 09:49 12/12/2011 Số lượt xem: 552

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bông Hoa Với Ba Điều Ước trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!