Đề Xuất 12/2022 # Bài Thơ Việt Bắc Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca Về Cuộc Kháng Chiến Và Con Người Kháng Chiến / 2023 # Top 18 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 12/2022 # Bài Thơ Việt Bắc Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca Về Cuộc Kháng Chiến Và Con Người Kháng Chiến / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bài Thơ Việt Bắc Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca Về Cuộc Kháng Chiến Và Con Người Kháng Chiến / 2023 mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nghị luận chứng minh ý kiến bàn về bài Việt Bắc- Ngữ văn 12

Gợi ý:

Mở bài : Đề tài kháng chiến là một đề tài quen thuộc trong thơ ca cách mạng VN trong đó bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu là thi phẩm tiêu biểu. Bài thơ được sáng tác vào tháng 10-1954 sau thắng lợi chiến dịch ĐBP lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Vì thế bài thơ vừa có ý nghĩa lịch sử lại vừa có ý nghĩa văn học sâu sắc. Có ý kiến cho rằng: ” Bài thơ VB của TH là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến”

Thân bài :

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Trong không khí chia tay đầy nhớ thương lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và những người cán bộ cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, một nhà tư tưởng, Tố Hữu đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình.

Đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến và gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà đầy tình nghĩa.

2. Giải thích nhận định

Ý kiến nhận định về bài thơ hoàn toàn xác đáng, đã chạm đến thần thái của tư tưởng thơ TH. Bài thơ là một “khúc tình ca” đã khắc họa hết thảy mọi cung bậc tình cảm của tác giả hay nói đúng hơn là giữa kẻ ở – người đi, giữa nhân dân đồng bào VB với cán bộ cách mạng qua bức tranh thiên nhiên và cuộc sống gắn bó, mặn nồng nơi quê hương kháng chiến. Đồng thời, bài thơ cũng là “khúc hùng ca” ca khúc khải hoàn về cuộc chiến thắng vĩ đại của quân và dân ta trong những ngày đêm ra trận tuy vất vả mà cũng rất đỗi hào hùng. Có thể nói, cả bài thơ VB là sự hòa quyện giữa khúc tình ca và khúc hùng ca, giữa chất trữ tình và chất hiện thực, giữa tính sử thi và cảm hứng lãng mạn bay bổng. Chính sự hài hòa các yếu tố ấy đã tạo nên tuyệt tác của thi phẩm này.

3. Chứng minh nhận định

a. Trước hết, VB là khúc tình ca, ca ngợi cuộc kháng chiến vĩ đại và con người kháng chiến. + Điều này được nhà thơ diễn tả bằng việc khắc họa miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên VB và con người kháng chiến đậm đà tình quân dân “cá – nước”. +Bức tranh thiên nhiên VB đã gợi tứ cho cảm hứng thơ TH bay xa, dội lại trong mảng ký ức tươi đẹp hiện về trong nỗi hoài niệm, ưu tư về một khung cảnh đẹp đến toàn diện toàn mĩ trong đêm trăng thanh. Đó là hình ảnh ” Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, là hình ảnh của ánh sương ban mai vào buổi sáng sớm mờ ảo quấn quýt bao phủ khắp bản làng. Để rồi mỗi sự vật địa danh được nhắc đến như một nét thân thương dội lại của thiên nhiên núi rừng miền Tây thơ mộng, trữ tình: ” Ngòi thia, sông Đáy, suối Lê với đầy”. +Đặc biệt hơn, chất trữ tình lãng mạn cũng là khúc tình ca còn được viết lên trong một bản đàn thi ca mà mỗi nốt nhạc của mỗi mùa ( đông – xuân- hạ – thu) ở bức tranh tứ bình đều như đang vang lên bài ca đất nước: ” Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Mùa xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Bộ bức tranh tứ bình như được trạm, được khắc bằng bút pháp nghệ thuật chấm phá tả ít gợi nhiều. Hòa quyện trong bức tranh tứ bình ấy là sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người đang giao hòa với nhau tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh. Vì thế có thể nói mỗi mùa đều là một bức tranh riêng độc đáo tạo nên cái đặc trưng riêng của núi rừng VB. Ta như chiêm nghiệm thấy một cái tôi TH đang ngả nghiêng, đang ngây ngất thả hồn đắm chìm trong nỗi nhớ hoài niệm của một bức tranh VB. Chính vì thế mà sự xáo trộn không tuân theo quy luật khách quan của vũ trụ ( xuân – hạ – thu – đông) đã phải những chỗ cho tâm trạng cảm xúc của thi nhân đang rung lên đồng điệu với bức tranh thiên nhiên đẹp. + Bên cạnh đó, hình dáng của con người trong bài thơ cũng được TH khắc họa hiện lên thật duyên dáng, yêu thương. TH không đi vào khắc họa vóc dáng bên ngoài của con người, của đồng bào nhân dân VB mà ông chỉ chú trọng vào diễn tả tâm tư tình cảm mà đồng bào nhân dân VB dành cho cách mạng, dành cho những người cán bộ, chiến sĩ kháng chiến. Đó là hình ảnh của sự đùm bọc yêu thương tuy thiếu thốn vất chất ( Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son) mà cũng đậm thật lãng mạn, cũng thật cảm động chan chứ niềm yêu thương : ” Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng” + Trong cuộc kháng chiến ấy, tuy vất vả, trên chiến trường người chiến sĩ mạnh mẽ hiên ngang, cầm chắc tay sung tiêu diệt kẻ thù nhưng khi trở về, họ lại được chăm sóc, chia ngọt sẻ bùi với nhân dân địa phương và trong hoàn cảnh ấy, TH cũng không quên nhắc đến bóng dáng của những tình yêu đôi lứa, tình yêu giữa những cô gái bản làng với anh vệ trọc, với chiến sĩ cụ Hồ: “Sớm khuya bếp lửa người thương đi về” Hai chữ ” người thương” gói ghém biết bao tình yêu thương đong đầy, tình yêu ấy vừa là tình quân dân, vừa là tình yêu đôi lứa. + Chất trữ tình, khúc tình ca còn được thể hiện trong một bức tranh sinh hoạt đậm đà nơi kháng chiến gắn với những con người sẵn sang cùng kề vai sát cánh với chiến sĩ bộ đội trong cuộc kháng chiến một mất một còn với quân giặc: “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ ao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” Đó là những hình ảnh của bà mẹ vất vả vừa lo toan cho gia đình, vừa tăng gia sản xuất phục vụ cách mạng, đó là những âm thanh ” i tờ” vỡ nòng ngượng ngịu, đó là những tiếng chày nện cối giã gạo nuôi cách mạng và đó cũng là tiếng hát réo rắc ” ca vang núi đèo” ” đều đều suối xa” réo rắc ngân vang. Tất cả như hiện lên vừa là hiện thực lại vừa lãng mạn đan xen góp phần diễn tả cuộc sống nơi chiến đấu trong những năm tháng kháng chiến nơi VB tuy vất vả gian nan nhưng cũng rất tự hào tình nghĩa. Như vậy, nhờ yêu tố lãng mạn bay bổng, TH đã tạo nên một bài thơ độc đáo mà mỗi sự vật thiên nhiên và con người được nhắc đến giống như một nốt nhạc trong khúc tình ca kháng chiến. Tất cả như tạo ra chất men say trong tâm hồn thơ Tố Hữu.

b. Việt Bắc là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến Bên cạnh yếu tố trữ tình lãng mạn, bài thơ VB còn quyện hòa trong chất sử thi hùng tráng. Đó là khúc hùng ca kháng chiến mạnh mẽ tạo nên những trang thơ đậm đà tính dân tộc. Phản ánh hết thảy khi thế anh hùng của quân và dân ta trong những ngày cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Mỗi câu thơ vang lên như biểu tượng cho tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” được tạo nên bởi những người anh hùng dũng cảm. “Những đường VB của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan Dân công công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” Ấy là khí thế của những con đường ra trận, những ngả đường kháng chiến đã được TH như trạm, như khắc hiện hình nổi sắc trước mắt người đọc vậy. Dưới ánh trăng đêm, hình ảnh đoàn quân ra trận thật hào hùng, thật mạnh mẽ trải dài ra vô tận “điệp điệp trùng trùng” với một khí thế mang biểu tượng của tinh thần tự do, cho khát vọng độc lập. Vì thế hình ảnh “Bước chân nát đá” như tự nó đã mang sức nặng của tinh thần yêu nước. Như HCM đã nói: ” tinh thần yêu nước sẽ nhận chìm cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Không có một thế lực nào có thể ngăn cản được bước đi của quân dân ta. Để khắc họa được cái khí thế ấy, TH đã dùng hàng loạt các động từ, từ láy giàu sức tạo hình và biểu cảm: ” rầm rập”, ” nát đá”, “điệp điệp trùng trùng” khiến cho hình ảnh ra trận hiện lên không hề bi thương mà ngược lại rất đỗi hào hùng, mạnh mẽ. Dưới mỗi bước chân quân ta đi đều mang trong mình lý tưởng của Đảng, của Bác Hồ sáng soi, vì thế mới có hai chữ ” ánh sao đầu súng” như là biểu tượng cho cuộc đấu tranh chính nghĩa, cho lẽ phải của công lý trước vó ngựa xâm lăng của kẻ xâm lược. Để phán ánh được cuộc chiến đấu mang biểu tượng của tinh thần tự do và khát vọng độc lập ấy, TH còn khắc họa như diễn tả những chiến lược, chiến thuật mà quân dân ta đã từng sử dụng: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đã ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng” Khí thế hào hùng được nhà thơ diễn tả bằng nhịp điệu thơ dồn dập, nhanh, gọn, lẹ. Bộ đội ta biết dựa cả vào những địa hình tự nhiên “núi đá” để ” ta cùng đánh Tây”, biến địa hình trận đồ giống như một mê cung, một bức tường thành vũng chắc “thành lũy sắt dày” mà bủa vây quân thù. Để làm được điều ấy là do quân dân ta đoàn kết một lòng cùng hướng về non song gấm vóc, cùng chung một lý tưởng chiến đấu vì nước quên thân. Cả đất nược như đang đứng lên mà dẹp tan mọi âm mưu xâm lược. Hình ảnh đất nước ấy đã được Nguyễn Đình Thi diễn tả qua ý thơ: “Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước VN từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” Để cuối cùng niềm vui chiến thắng đã đến, lan tỏa khắp nẻo đường đất Việt từ địa đầu cách mạng đến cuối dải hình đất nước rồi lại trở về Việt Bắc : “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bất sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên VB, đèo De, núi Hồng” Có thể nói đây là một “bản đồ vui” khi mà mỗi câu thơ đều xuất hiện từ “vui” liên tiếp. Mỗi câu thơ hiện lên như một nốt nhạc ngân vang réo rắc trong một khúc hùng ca cách mạng. Niềm vui ấy gắn liền với địa danh: Hòa Bình, Tây Bắc đến Đồng Tháp, AN Khê rồi lại quay trở về VB, đèo De, núi Hồng… Đoạn thơ mang đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn. Kết thúc bài thơ là cái nhìn của TH về hình ảnh ĐN ngày mai tươi sáng. Khẳng định niềm tin vững chắc của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ và đồng thời nó giống như một lời thề nguyền thiêng liêng hướng tới đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của cội nguồn dân tộc: ” Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng lên Cộng hòa Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”

Kết bài :

Bài thơ VB là một tác phẩm tuyệt tác viết về tình yêu đất nước, Sự thể hiện độc đáo trong nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát dân tộc, kết cấu đối đáp trong ca dao giao duyên cùng một ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian… tất cả đã góp phần đắc lực trong việc diễn tả tư tưởng tình cảm sâu đậm giữa kẻ ở – người đi, giữa cán bộ cách mạng về xuôi với đồng bào nhân dân VB, giữa núi rừng cội nguồn cách mạng với những người chiến sĩ cộng sản…VB vì thế vừa là khúc hùng ca có ý nghĩa biểu tượng ca ngợi tinh thần yêu nước quân dân đoàn kết một lòng lại vừa là khúc tình ca về cách mạng, về con người kháng chiến trong sự yêu thương, gắn bó chia sẻ ngọt bùi bên nhau. Tác phẩm xứng đáng trở thành bài ca bất hủ trong văn học dân tộc viết về đất nước.

Việt Bắc Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca Về Cuộc Kháng Chiến Và Con Người Kháng Chiến / 2023

Đề bài:  “ Bài thơ Việt Bắc  của Tố Hữu  là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến”. Nghị luận chứng minh ý kiến bàn về bài Việt Bắc- Ngữ văn 12 Gợi ý: Mở bài : Đề tài kháng chiến là một đề tài quen thuộc trong thơ ca cách mạng VN trong đó bài thơ Việt Bắc của Tố  Hữu  là thi phẩm tiêu biểu. Bài thơ được sáng tác vào tháng 10-1954 sau thắng lợi chiến dịch ĐBP lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Vì thế bài thơ vừa có ý nghĩa lịch sử lại vừa có ý nghĩa văn học sâu sắc. Có ý kiến cho rằng: “ Bài thơ VB của TH là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến” Thân bài :

Vài nét về tác giả tác phẩm:

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Trong không khí chia tay đầy nhớ thương lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và những người cán bộ cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, một nhà tư tưởng, Tố Hữu đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình. Đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến và gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà đầy tình nghĩa. 2. Giải thích nhận định Ý kiến nhận định về bài thơ hoàn toàn xác đáng, đã chạm đến thần thái của tư tưởng thơ TH. Bài thơ là một “khúc tình ca” đã khắc họa hết thảy mọi cung bậc tình cảm của tác giả hay nói đúng hơn là giữa kẻ ở – người đi, giữa nhân dân đồng bào VB với cán bộ cách mạng qua bức tranh thiên nhiên và cuộc sống gắn bó, mặn nồng nơi quê hương kháng chiến. Đồng thời, bài thơ cũng là “khúc hùng ca” ca khúc khải hoàn về cuộc chiến thắng vĩ đại của quân và dân ta trong những ngày đêm ra trận tuy vất vả mà cũng rất đỗi hào hùng. Có thể nói, cả bài thơ VB là sự hòa quyện giữa khúc tình ca và khúc hùng ca, giữa chất trữ tình và chất hiện thực, giữa tính sử thi và cảm hứng lãng mạn bay bổng. Chính sự hài hòa các yếu tố ấy đã tạo nên tuyệt tác của thi phẩm này. 3. Chứng minh nhận định: a. Trước hết, VB là khúc tình ca, ca ngợi cuộc kháng chiến vĩ đại và con người kháng chiến. + Điều này được nhà thơ diễn tả bằng việc khắc họa miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên VB và con người kháng chiến đậm đà tình quân dân “cá – nước”. +Bức tranh thiên nhiên VB đã gợi tứ cho cảm hứng thơ TH bay xa, dội lại trong mảng ký ức tươi đẹp hiện về trong nỗi hoài niệm, ưu tư về một khung cảnh đẹp đến toàn diện toàn mĩ trong đêm trăng thanh. Đó là hình ảnh “ Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, là hình ảnh của ánh sương ban mai vào buổi sáng sớm mờ ảo quấn quýt bao phủ khắp bản làng. Để rồi mỗi sự vật địa danh được nhắc đến như một nét thân thương dội lại của thiên nhiên núi rừng miền Tây thơ mộng, trữ tình: “ Ngòi thia, sông Đáy, suối Lê với đầy”. +Đặc biệt hơn, chất trữ tình lãng mạn cũng là khúc tình ca còn được viết lên trong một bản đàn thi ca mà mỗi nốt nhạc của mỗi mùa ( đông – xuân- hạ – thu) ở bức tranh tứ bình đều như đang vang lên bài ca đất nước: “ Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Mùa xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Bộ bức tranh tứ bình như được trạm, được khắc bằng bút pháp nghệ thuật chấm phá tả ít gợi nhiều. Hòa quyện trong bức tranh tứ bình ấy là sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người đang giao hòa với nhau tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh. Vì thế có thể nói mỗi mùa đều là một bức tranh riêng độc đáo tạo nên cái đặc trưng riêng của núi rừng VB. Ta như chiêm nghiệm thấy một cái tôi TH đang ngả nghiêng, đang ngây ngất thả hồn đắm chìm trong nỗi nhớ hoài niệm của một bức tranh VB. Chính vì thế mà sự xáo trộn không tuân theo quy luật khách quan của vũ trụ ( xuân – hạ – thu – đông) đã phải những chỗ cho tâm trạng cảm xúc của thi nhân đang rung lên đồng điệu với bức tranh thiên nhiên đẹp. + Bên cạnh đó, hình dáng của con người trong bài thơ cũng được TH khắc họa hiện lên thật duyên dáng, yêu thương. TH không đi vào khắc họa vóc dáng bên ngoài của con người, của đồng bào nhân dân VB mà ông chỉ chú trọng vào diễn tả tâm tư tình cảm mà đồng bào nhân dân VB dành cho cách mạng, dành cho những người cán bộ, chiến sĩ kháng chiến. Đó là hình ảnh của sự đùm bọc yêu thương tuy thiếu thốn vất chất ( Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son) mà cũng đậm thật lãng mạn, cũng thật cảm động chan chứ niềm yêu thương : “ Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng” + Trong cuộc kháng chiến ấy, tuy vất vả, trên chiến trường người chiến sĩ mạnh mẽ hiên ngang, cầm chắc tay sung tiêu diệt kẻ thù nhưng khi trở về, họ lại được chăm sóc, chia ngọt sẻ bùi với nhân dân địa phương và trong hoàn cảnh ấy, TH cũng không quên nhắc đến bóng dáng của những tình yêu đôi lứa, tình yêu giữa những cô gái bản làng với anh vệ trọc, với chiến sĩ cụ Hồ: “Sớm khuya bếp lửa người thương đi về” Hai chữ “ người thương” gói ghém biết bao tình yêu thương đong đầy, tình yêu ấy vừa là tình quân dân, vừa là tình yêu đôi lứa. + Chất trữ tình, khúc tình ca còn được thể hiện trong một bức tranh sinh hoạt đậm đà nơi kháng chiến gắn với những con người sẵn sang cùng kề vai sát cánh với chiến sĩ bộ đội trong cuộc kháng chiến một mất một còn với quân giặc: “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ ao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” Đó là những hình ảnh của bà mẹ vất vả vừa lo toan cho gia đình, vừa tăng gia sản xuất phục vụ cách mạng, đó là những âm thanh “ i tờ” vỡ nòng ngượng ngịu, đó là những tiếng chày nện cối giã gạo nuôi cách mạng và đó cũng là tiếng hát réo rắc “ ca vang núi đèo” “ đều đều suối xa” réo rắc ngân vang. Tất cả như hiện lên vừa là hiện thực lại vừa lãng mạn đan xen góp phần diễn tả cuộc sống nơi chiến đấu trong những năm tháng kháng chiến nơi VB tuy vất vả gian nan nhưng cũng rất tự hào tình nghĩa. Như vậy, nhờ yêu tố lãng mạn bay bổng, TH đã tạo nên một bài thơ độc đáo mà mỗi sự vật thiên nhiên và con người được nhắc đến giống như một nốt nhạc trong khúc tình ca kháng chiến. Tất cả như tạo ra chất men say trong tâm hồn thơ Tố Hữu. b. Việt Bắc là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến Bên cạnh yếu tố trữ tình lãng mạn, bài thơ VB còn quyện hòa trong chất sử thi hùng tráng. Đó là khúc hùng ca kháng chiến mạnh mẽ tạo nên những trang thơ đậm đà tính dân tộc. Phản ánh hết thảy khi thế anh hùng của quân và dân ta trong những ngày cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Mỗi câu thơ vang lên như biểu tượng cho tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” được tạo nên bởi những người anh hùng dũng cảm. “Những đường VB của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan Dân công công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” Ấy là khí thế của những con đường ra trận, những ngả đường kháng chiến đã được TH như trạm, như khắc hiện hình nổi sắc trước mắt người đọc vậy. Dưới ánh trăng đêm, hình ảnh đoàn quân ra trận thật hào hùng, thật mạnh mẽ trải dài ra vô tận “điệp điệp trùng trùng” với một khí thế mang biểu tượng của tinh thần tự do, cho khát vọng độc lập. Vì thế hình ảnh “Bước chân nát đá” như tự nó đã mang sức nặng của tinh thần yêu nước. Như HCM đã nói: “ tinh thần yêu nước sẽ nhận chìm cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Không có một thế lực nào có thể ngăn cản được bước đi của quân dân ta. Để khắc họa được cái khí thế ấy, TH đã dùng hàng loạt các động từ, từ láy giàu sức tạo hình và biểu cảm: “ rầm rập”, “ nát đá”, “điệp điệp trùng trùng” khiến cho hình ảnh ra trận hiện lên không hề bi thương mà ngược lại rất đỗi hào hùng, mạnh mẽ. Dưới mỗi bước chân quân ta đi đều mang trong mình lý tưởng của Đảng, của Bác Hồ sáng soi, vì thế mới có hai chữ “ ánh sao đầu súng” như là biểu tượng cho cuộc đấu tranh chính nghĩa, cho lẽ phải của công lý trước vó ngựa xâm lăng của kẻ xâm lược. Để phán ánh được cuộc chiến đấu mang biểu tượng của tinh thần tự do và khát vọng độc lập ấy, TH còn khắc họa như diễn tả những chiến lược, chiến thuật mà quân dân ta đã từng sử dụng: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đã ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng” Khí thế hào hùng được nhà thơ diễn tả bằng nhịp điệu thơ dồn dập, nhanh, gọn, lẹ. Bộ đội ta biết dựa cả vào những địa hình tự nhiên “núi đá” để “ ta cùng đánh Tây”, biến địa hình trận đồ giống như một mê cung, một bức tường thành vũng chắc “thành lũy sắt dày” mà bủa vây quân thù. Để làm được điều ấy là do quân dân ta đoàn kết một lòng cùng hướng về non song gấm vóc, cùng chung một lý tưởng chiến đấu vì nước quên thân. Cả đất nược như đang đứng lên mà dẹp tan mọi âm mưu xâm lược. Hình ảnh đất nước ấy đã được Nguyễn Đình Thi diễn tả qua ý thơ: “Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước VN từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” Để cuối cùng niềm vui chiến thắng đã đến, lan tỏa khắp nẻo đường đất Việt từ địa đầu cách mạng đến cuối dải hình đất nước rồi lại trở về Việt Bắc : “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bất sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên VB, đèo De, núi Hồng” Có thể nói đây là một “bản đồ vui” khi mà mỗi câu thơ đều xuất hiện từ “vui” liên tiếp. Mỗi câu thơ hiện lên như một nốt nhạc ngân vang réo rắc trong một khúc hùng ca cách mạng. Niềm vui ấy gắn liền với địa danh: Hòa Bình, Tây Bắc đến Đồng Tháp, AN Khê rồi lại quay trở về VB, đèo De, núi Hồng… Đoạn thơ mang đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn. Kết thúc bài thơ là cái nhìn của TH về hình ảnh ĐN ngày mai tươi sáng. Khẳng định niềm tin vững chắc của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ và đồng thời nó giống như một lời thề nguyền thiêng liêng hướng tới đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của cội nguồn dân tộc: “ Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng lên Cộng hòa Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” Kết bài : Bài thơ VB là một tác phẩm tuyệt tác viết về tình yêu đất nước, Sự thể hiện độc đáo trong nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát dân tộc, kết cấu đối đáp trong ca dao giao duyên cùng một ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian… tất cả đã góp phần đắc lực trong việc diễn tả tư tưởng tình cảm sâu đậm giữa kẻ ở – người đi, giữa cán bộ cách mạng về xuôi với đồng bào nhân dân VB, giữa núi rừng cội nguồn cách mạng với những người chiến sĩ cộng sản…VB vì thế vừa là khúc hùng ca có ý nghĩa biểu tượng ca ngợi tinh thần yêu nước quân dân đoàn kết một lòng lại vừa là khúc tình ca về cách mạng, về con người kháng chiến trong sự yêu thương, gắn bó chia sẻ ngọt bùi bên nhau. Tác phẩm xứng đáng trở thành bài ca bất hủ trong văn học dân tộc viết về đất nước. Bài viết sưu tầm

Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca / 2023

1 Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca Author : Thu Quyên Đề bài: Tình cảm đất nước quê hương thể hiện trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Yêu cầu làm sáng tỏ ý kiến: Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến, cần làm rõ các ý sau: Việt Bắc với vẻ đẹp của cảnh và người (trữ tình) Việt Bắc hào hùng trong chiến đâu. Việt Bắc trong cảm hứng lãng của ngày mai (lãng mạn). A. Mở bài Bài thơ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một thành tựu quan trọng của thơ ca kháng chiến chông Pháp. Bài thơ được Tố Hữu sáng tác vào tháng 12 năm 1954 nhân một sự kiện lịch sử. Trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu về thủ đô Hà Nội. Từ điểm xuất phát ấy bài thơ thể hiện tình gắn bó thắm thiết giữa người ra đi và người ở lại, giữa miền xuôi và miền ngược, giữa người cán bộ với Việt Bắc quê hương của cách mạng, với đất nước và nhân dân, với Đảng và Bác Hồ, với cuộc kháng chiến đã thành kỉ niệm sâu nặng trong tâm hồn. Như thế nghĩa là trong niềm vui thắng lợi và đón nhận cuộc sống thanh bình nhà thơ vẫn không quên tình nghĩa gắn bó trong những năm gian khổ đã qua và coi đây là cội nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cho những ngày hiện tại và tương lại. Có thể nói, bài thơ Việt Bắc là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca mà cội nguồn sâu xa của nó là tình cảm quê hương đất nứớc, là truyền thống ân nghĩa, đạo lí thuỷ chung của dân tộc. B. Thân bài 1. Việt Bắc với vẻ đẹp của cảnh và người Trước hết với kiểu kết cấu đối đáp rất đậm đà tình nghĩa của bài thơ Việt Bắc là tình yêu với thiên nhiên đất nước được biểu hiện cụ thể qua sự gắn bó với núi rừng Việt Bắc trong nỗi nhớ của người cán bộ sắp về xuôi. Cảnh Việt Bắc hiện ra những vẻ đẹp hiện thực và thơ mộng, thi vị gợi rõ nét độc đáo của Việt Bắc so với nhiều miền quê khác của đất nước. Việt Bắc đó là hình ảnh Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, hình ảnh bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, là những rừng nứa bờ tre, ngòi thưa, sông Đáy là tiếng mõ trâu về trong rừng chiều, tiếng Chày đêm nện cối đều đều suối xa. Nhưng có lẽ nổi bật nhất là nỗi nhớ của Tố Hữu về Việt Bắc là sự hòa quyện với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình: Tài liệu chia sẻ tại

2 Ta về, mình có nhớ ta Tà về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đồ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. Qua đó có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện ra với những vẻ đẹp phong phú, đa dạng, thay đổi theo thời tiết, từng mùa. Gắn với cảnh tượng ấy là con người giản dị, người đi làm nương rẫy, người đang nói, người hái măng… Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình họ đã góp phần tạo ra sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến. Chính tình nghĩa gắn bó và san sẻ cũng nhau chịu đựng gian khổ thiếu thôn, cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề, khó khăn giữa nhân dân với bộ đội và cán bộ tất cả càng làm cho hình ảnh Việt Bắc sáng ngời trong hồi tưởng của nhà thơ. Việt Bắc – đó là hình ảnh những mái nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son, hình ảnh người mẹ Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô, là những ngày tháng đồng cam cộng khổ: Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng. Có thể nói âm hưởng trữ tình vang vọng trong bài thơ tạo nên khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tình yêu đồng chí với đồng bào, của tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu đời. Tài liệu chia sẻ tại

3 Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến 2. Việt Bắc hào hùng trong chiến đấu Theo dòng hồi tưởng của Tố Hữu, bài thơ dẫn ta vào khung cảnh Việt Bắc chiến đấu với những hình ảnh hào hùng, những hoạt động sôi nổi, những âm thanh náo nức, phấn chấn. Ở đây bài thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca mang dáng vẻ sử thi hiện đại bởi vì chỉ cần miêu tả khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc, Tố Hữu đã nêu bật khí thế chiến đấu vô cùng mạnh mẽ của dân tộc. Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. Dân tộc ấy đã vượt qua bao gian khổ hi sinh để lập nên những kì tích, những chiến công: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên… Nhưng Tố Hữu không thê miêu tả diễn biến của cuộc kháng chiến mà chỉ còn di sâu vào lí giải những cội nguồn sức mạnh đâ dẫn tới chiến thắng. Đó là sức mạnh của lòng căm thù: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai, sức mạnh tình nghĩa thủy chung: Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi nhất là sức mạnh của khôi đoàn kết toàn dân, của sự hòa quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên – tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên : Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành luỹ sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng. Đặc biệt bằng những lời thơ trang trọng mà tha thiết, Tố Hữu đã đi sâu nhấn mạnh hình ảnh và vai trò của Việt Bắc như là quê hương của cách mạng, căn cứ vững chắc của cuộc kháng chiến. Trong Tài những liệu chia năm sẻ đen tại tối trước cách mạng, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ mờ xa mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù cho đến xác định như chiến khu kiên cường nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu

4 tranh, nơi sản sinh nhiều địa danh đã đi vào lịch sử dân tộc. Mình về có nhớ núi non Nhớ khi khảng Nhật, thủa còn Việt Minh Mình đi mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa. Trong những năm tháng kháng chiến gian lao, Việt Bắc là nơi có cụ Hồ soi sáng, có Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công để kiên định niềm tin yêu của cả nước đối với Việt Bắc, Tố Hữu lại dùng những câu thơ mang sắc thái ca dao dạt dào những âm hưởng nghĩa tình của hồn thơ dân tộc. Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa. 3. Việt Bắc trong cảm hứng về ngày mai Từ tình cảm yêu mến, gắn bó với cảnh và người Việt Bắc từ niềm tin tưởng vững chắc vào sức mạnh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Tố Hữu vẽ ra viễn cảnh tươi đẹp của Việt Bắc ngày mai trong khung cảnh xây dựng cuộc sống mới hòa bình, phồn vinh. Ngày mai rộn rã sơn khê Ngược xuôi tàu chạy, bốn bề lưới giăng Than Phấn Mễ, thiết Cao Bằng Phố phường như nấm như măng giữa trời. Những hình ảnh ấy là mơ ước, khát vọng và cũng là tình nghĩa mà những người cán bộ kháng chiến muốn đền đáp nơi từng là cội nguồn của cách mạng, nơi đã cưu mang, che chở họ trong những ngày đầy gian nan hi sinh. + Đặc biệt ở những dòng cuối cùng của bài thơ người đọc càng hiểu sâu thêm sự sắc sảo, nhạy bén của bài thơ Tố Hữu khi hướng về ngày mai, nhà thơ không quên, một nét đẹp trong đạo lí truyền thống của dân tộc đó là tình nghĩa thuỷ chung, có mới mà không nới cũ, luôn nghĩ đến nhau và vì nhau giữa miền xuôi và miền ngược, giữa cán bộ và nhân dân của mình. Tài liệu chia sẻ tại Mình về thành thị xa xôi

5 Powered by TCPDF ( Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng? Phố đông còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng? Có thể coi đây là lời cảnh báo về sự tha hóa khi có sự thay đổi môi trường, khi người ta có thể quên đi tất cả tình nghĩa năm xưa để chỉ nghĩ đến mình và vì mình. Cho đến hôm nay những lời thơ ấy của Tố Hữu vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự chứ không hề cũ xưa. B. Kết bài Nhìn chung Việt Bắc là một bài thơ trữ tình, chính trị bởi vì thơ ở đây là thơ với căn cứ cách mạng, với truyền thống cách mạng, với đất nước và nhân dân. Nhưng quan trọng hơn cả, làm cho người ta cảm động là bài thơ đâ thể hiện hết được truyền thống ân nghĩa của dân tộc Việt Nam, thể hiện một khát vọng về một khung cảnh chan hòa tình yêu thương, hạnh phúc, thanh bình, bền vững mãi mãi trên đất nước, quê hương. Thu Huyền Tài liệu chia sẻ tại

Bác Hồ Với Đồng Bào Kon Tum Trong Thơ Ca Kháng Chiến / 2023

Bác Hồ với đồng bào Kon Tum trong thơ ca kháng chiến

Kể từ ngày Bác Hồ đọc lời hiệu triệu kêu gọi toàn quốc kháng chiến, đến năm 1975, dân tộc ta đã liên tiếp trải qua hai cuộc kháng chiến thần kỳ kéo dài đến 30 năm, đánh bại hai đế quốc sừng sỏ lúc bấy giờ là Pháp và Mỹ. Trong thành công vĩ đại ấy có sự đóng góp không nhỏ của đồng bào các dân tộc thiểu số cả nước, trong đó có đồng bào Kon Tum.

Sự tham gia kháng chiến của đồng bào Kon Tum đã được các tác giả từng bám trụ chiến đấu và công tác tại địa bàn phản ánh trong nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại văn học, trong đó có thơ ca. Nhân kỷ niệm 45 năm Ngày mất của lãnh tụ Hồ Chí Minh và sắp sửa tròn 40 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thành công, xin thoáng điểm lại hình tượng Bác Hồ đối với đồng bào bản địa qua những tác phẩm thơ ca thuộc dòng văn học kháng chiến ở Kon Tum.

Nhà thơ Nông Quốc Chấn – “con chim đầu đàn” của văn học dân tộc thiểu số miền núi Việt Nam đã nói rất đúng về thực trạng khu vực Tây Nguyên vào thời điểm vừa mới giành được độc lập thì bị Pháp tái chiếm và sau đó là rơi vào tình trạng đất nước chia đôi, miền Nam ở trong vòng can thiệp của Mỹ: “…Nhưng anh như lúa ở bên khe/ Mới thấy trời lên mây đã che/ Hết gió lại mưa, tăm tối mãi/ Anh mong ánh sáng Bác Hồ về…” (Việt Bắc – Tây Nguyên).

Một tiết mục văn nghệ tại Lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên. Ảnh: TTXVN

“Ánh sáng Bác Hồ” chính là lý tưởng, là khát vọng độc lập, tự do, thái bình, thoát khổ… của toàn dân và đó cũng là niềm mong ước đau đáu của đồng bào Kon Tum. Nội dung này được các tác giả kháng chiến Kon Tum phản ánh bằng nhiều cách, hoặc diễn đạt trực tiếp, hoặc nói cách ví von, ẩn dụ.

Thơ ca lúc này luôn dành những câu chữ hay nhất, đẹp nhất để nói về hình tượng Bác Hồ. Lời hiệu triệu của Bác đã được đồng bào nghe theo, hưởng ứng một cách toàn diện: “Tiếng hát con không chỉ vui chim phí/ Phải làm ưng người trẻ người già/ Bok Hồ nói cả Tây Nguyên một khối/ Đứng lên cầm súng giữ buôn ta”… (“Ra đi từ tiếng hát” – Hồng Chinh Hiền).

Câu thơ “Bác Hồ nói cả Tây Nguyên một khối” khiến chúng ta liên tưởng đến bức thư của Bác gửi cho Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Pleiku (Gia Lai) ngày 19-4-1946. Bức thư hiện đã được khắc vào bia đá dựng nơi Quảng trường thành phố Pleiku ngày nay.

Qua hình ảnh kiên trung của những cán bộ đã được rèn giũa trong ngọn lửa cách mạng đang ngày đêm cùng nhau chiến đấu, đồng bào đã thấy rõ giữa chính và tà, giữa ta và địch, giữa niềm tin và thù hận: “Một bên là cách mạng/ Người của Đảng, Bok Hồ/ Chân đầu rừng cuối rẫy/ Tay trăm việc nghìn lo/ Một bên là đế quốc/ Bọn chúa đất chúa làng/ Lòng dạ tham vô đáy !… (“Hát trước cây nêu ngày Tết” – Hồng Chinh Hiền).

Niềm tin tưởng đã được đồng bào đặt hết vào những “người của Đảng, Bok Hồ” như vậy, nên đối với Bác Hồ, đồng bào càng muôn lần tôn trọng, kính yêu: “Bây giờ anh đi ra miền Bắc/ Nơi Cụ Hồ làm mẹ làm cha/ Cụ Hồ thương quý anh/ Thương quý người dân tộc/ Còn hơn mẹ cha thương anh lúc ở nhà”… (“Nhớ nhiều… Ơ, thương lắm!…” – Ngọc Anh).

Vừa trực diện, vừa ẩn dụ, đồng bào càng khẳng định niềm tin tưởng tuyệt đối vào lý tưởng cách mạng của Bác: “Người Ka-dong không theo con cú vọ/ Người Mơ-nông không theo con diều hâu/ Chúng ta theo hoa đỏ/ Chúng ta theo Cụ Hồ/ Người Tây Nguyên theo ông sao miền Bắc/ Sao miền Bắc sáng trên núi Tây Nguyên”! (“Giữ lấy rừng” – Ngọc Anh).

Hình tượng Bác Hồ và lý tưởng cách mạng của Bác được ẩn dụ bằng rất nhiều hình tượng. Ngoài những biểu tượng “hoa đỏ”, “ông sao miền Bắc”… còn là “phương mặt trời mọc”, “nước nguồn miền Bắc” … trong những lời thơ, lời ca nổi tiếng từ lúc bấy giờ: “… Em hỏi cây kơ-nia:/ – Gió mày thổi về đâu?/ Về phương mặt trời mọc!/ Mẹ hỏi cây kơ-nia:/ – Rễ mày uống nước đâu?/ – Uống nước nguồn miền Bắc!/ Con giun sống nhờ đất/ Chim phí sống nhờ rừng/ Em và mẹ nhớ anh/ Uống theo nguồn miền Bắc/ Như gió cây kơ-nia/ Như bóng cây kơ-nia”… (“Bóng cây kơ-nia” – Ngọc Anh).

Hoặc như hình ảnh cây xà-nương (cây nêu, cột gưn, được lập dựng giữa làng vào dịp tế lễ), là “cây thiêng” biểu tượng của buôn làng, trong tâm thức của đồng bào cũng được sánh với Bác Hồ, để luôn hướng về đó với một niềm tin yêu mãnh liệt: …”Đi đâu/ Vẫn thấy cây xà-nương trên đầu/ Ở đâu/ Vẫn thấy Bác Hồ trước mặt!” (“Cây xà-nương” – Hồng Chinh Hiền).

Trực diện và thậm xưng hơn, đồng bào còn coi công cuộc cách mạng do Bác Hồ lãnh đạo để đánh đuổi kẻ thù xâm lược, đem đến độc lập, tự do, thái bình cho mọi người giống như đã tái sinh ra mình lần nữa vậy: “… Chúng em – con gái Xơ-đăng/ Sướng như mọi người con gái khác/ Xưa cằn cỗi mà nay tươi tốt/ Cách mạng là cha mẹ đẻ thứ hai/ Đưa chúng em lên đúng nghĩa Con người!” (“Cô gái Xơ-đăng” – Hồng Chinh Hiền).

Để có được niềm tin tưởng và sự tôn kính ấy, đồng bào đã ý thức giáo dục các thành viên trong cộng đồng mình từ khi còn thơ bé. Khái niệm “Bác Hồ” được truyền dạy từ khi các em bé mới tập học ê a: “Một vòm trăng rơi xuống rừng già/ Vừa đủ sáng cho em ngồi học/ Vầng trăng thu vằng vặc/ Đêm cao nguyên, em học chữ Bác Hồ/ Em đọc chữ B/ Em đọc chữ A/ Em đọc chữ C/ Em thêm dấu sắc/ Đây rồi, chữ Bác!/ Em đọc chữ H/ Em đọc chữ Ô/ Em thêm dấu huyền/ Đúng rồi, chữ Hồ/ Em ghép hai chữ thành tên Bác Hồ…/..  Vầng trăng thu vằng vặc/ Trăng từ miền Bắc vào cao nguyên/ Ánh trăng Bác Hồ soi sáng lòng em”… (“Đọc trăng” – Vũ Hùng).

Từ niềm tin yêu, tôn kính như vậy, đồng bào đã ví von những điều hay lẽ đúng hôm nay mình có được như là những bông hoa đẹp đã được Bác Hồ, được cách mạng đem lại, ươm mầm vào tinh thần và ý thức: “… Hoa Bác Hồ cho bốn mùa tươi thắm/ Vàng xanh tím đỏ trắng hồng…/ Ai muốn nhiều hoa đẹp nhất buôn/ Lo đánh Ngụỵ và lo đuổi Mỹ…/… Đất nước mình hôm nay đánh giặc/ Yêu hoa ta cố ta trồng/ Khi thống nhất, Bác Hồ về Tây Nguyên ta đón/ Trăm vòng tay có triệu cánh hoa ôm…” (“Hoa” – Hồng Chinh Hiền).

“Trăm vòng tay có triệu cánh hoa ôm” ấy chính là ý chí và tấm lòng người Kon Tum hướng về Bác Hồ, về cách mạng: “Pô Kô chiều sóng vỗ/ Ngọc Linh sớm mây về/ Rừng xanh bừng tiếng hát/ Ơn Bác – Đảng cao dày”… (“Chung thủy vẹn tình” – Phan Vững)./.

Tạ Văn Sỹ Theo bienphong.com.vn Kim Yến (st)

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Một Khúc Ca Xuân (Tố Hữu) / 2023

Nước độc lập, tự do, dân no ấm học hành

Một đời Bác, chỉ lòng ham muốn ấy

Có lẽ hôm nay, giữa giấc yên lành

Người vẫn nghĩ… Như Người hằng sống vậy.

Nhớ buổi sáng Sài Gòn giải phóng

Người anh xuống sân bay, giang hai tay ôm cả miền Nam

Mắt cười tươi mà giọng trầm nóng bỏng:

Chớ say sưa… Nhiều việc phải làm!

Vâng, anh hiểu, đang nói gì, đôi mắt

Mắt những người đã nhắm, vì ta

Cả bàn tay của những mẹ già

Bàn tay đã cho ta, tất cả.

Nếu là con chim, chiếc lá,

Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh.

Lẽ nào vay mà không có trả

Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?

Tôi lại đi, như buổi đầu, tươi trẻ

Sức căng đầy máu thịt Việt Nam

Như có cánh bay, lên rừng, xuống bể

A! Biết bao công việc phải làm!

Và biển gọi… Đã bao giờ biển gọi?

Thương Nguyễn Du xưa mỏi mắt buồn trông

Ta sẽ ra giữa đại dương, đường đường bờ cõi

Cho con cá, con tôm được trở về với sóng biển Đông!

Như một đoàn quân

Bước thẳng, bước dai.

Như một khúc ca xuân

Của một mùa xuân lớn.

Tố Hữu là một nhà thơ đã hết mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng từ ngày còn trẻ. Và ông cũng đã nhiều lần vào tù ra khám. Bên cạnh đó ông cũng đã để lại rất nhiều bài thơ hay nổi tiếng cho đời. Một khúc ca xuân là một minh chứng cho tài năng cũng là nhân cách của một nhà thơ lớn.

Một khúc ca xuân đề cập tới một cách sống cao cả. Với nhà thơ được sinh ra và cảm nhận tình yêu thương bao la của cha mẹ, được thừa hưởng các giá trị mà tạo hóa ban tặng đó chính là một sự may mắn. Tuy nhiên tình mẫu tử, tình phụ tử hay bất cứ các món quà mà ta có đều gắn liền với các bổn phận và trách nhiệm. Đó cũng chính là lý do trong Một khúc ca xuân nhà thơ có viết:

Vâng, anh hiểu, đang nói gì, đôi mắt

Mắt những người đã nhắm, vì ta

Cả bàn tay của những mẹ già

Bàn tay đã cho ta, tất cả.

Nếu là con chim, chiếc lá,

Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh.

Lẽ nào vay mà không có trả

Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?

Đó cũng như những hình ảnh con chim, chiếc lá trong tự nhiên. Đã là chim thì phải hót và đã là lá thì phải xanh. Tuy đó đều là những điều nhỏ bé nhưng chúng đã cống hiến cho cuộc sống này những điều tốt đẹp nhất, Là con chim thì cất tiếng hót cho đời, là lá thì cho màu xanh… Đó cũng chính là giá trị và là tấ gương về những nhân cách sống cao cả.

Lẽ sống vay mà không có trả

Ở bài thơ Một khúc ca xuân Tố Hữu đã mượn hình ảnh chim và lá cây để nói về triết lý sống. Nếu suy nghĩ thật kỹ thì mỗi người chúng ta đã vay rất nhiều. Vay tiền thì dùng tiền để trả tuy nhiên không phải cái gì cũng có thể dùng tiền được.

Chẳng han như lúc lọt lòng mẹ cho ta thân tể, cha cho ta dòng máu. Nhưng đó cũng không phải là tất cả bởi thân thế đó cũng chính là của tổ tiên, bao anh hùng liệt sĩ đã hy sinh. Đó là sự hy sinh để giữ gìn đất nước bảo vệ quê hương. Bởi nếu không có họ liệu làm sao có chúng ta trên đời. Và tất cả những gì trên đất nước này, bầu trời này cũng chính là bao người đã đổ mồ hôi, nước mắt… Đó là tất cả những gì chúng ta đã vay khi ta còn sống trên đời.

Việc vay là tất yếu, và đó cũng chính là triết lý mà chính tác giả muốn gửi gắm. Là mẹ Âu Cơ đã cho ta dòng máu khỏe mạnh, là Lạc Long Quân dạy ta trồng trọt. đến biết bao người đã hy sinh xương máu mình cho nền độc lập hôm nay.

Bởi Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình nên nhiệm vụ trả là nhiệm vụ mà ta cần phải làm. Đó cũng chính là lẽ công bằng và hợp lý. Không nên hiểu đó là trả cho chính người đã cho ta, mà trả ở đây có thể hiểu là trả cho đời, cho thế hệ mai sau. Hay nói một cách khác chính là cần phải biết cống hiến cho xã hội dẫu đó là một phần sức lực nhỏ bé.

Còn có một bộ phận người chỉ biết hưởng thụ mà không biết chia sẻ và phục vụ cho đời. Đó cũng chính là những người không hiểu được rằng cần phải gắn lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Nhất là đối với những người trẻ cần phải tăng cường cống hiến cho đát nước, xã hội. Và cần phải có ý thức sống vì mọi người để trở thành người có ích. Đó chính là lý tưởng, cách sống cao đẹp mà Tố Hữu muốn gửi gắm qua Một khúc ca xuân.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bài Thơ Việt Bắc Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca Về Cuộc Kháng Chiến Và Con Người Kháng Chiến / 2023 trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!