Đề Xuất 12/2022 # Bài Thơ Gió Và Tình Yêu Thổi Trên Đất Nước Tôi Của Lưu Quang Vũ / 2023 # Top 15 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 12/2022 # Bài Thơ Gió Và Tình Yêu Thổi Trên Đất Nước Tôi Của Lưu Quang Vũ / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bài Thơ Gió Và Tình Yêu Thổi Trên Đất Nước Tôi Của Lưu Quang Vũ / 2023 mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Gió Và Tình Yêu Thổi Trên Đất Nước Tôi là một bài thơ đặc sắc của nhà thơ Lưu Quang Vũ. Ông cảm thụ đời sống không chỉ bằng nhận thức mà bằng cả giác quan. Cảm giác là hạt nhân đầu tiên của cảm hứng sáng tác thơ. Đọc thơ ông ít thấy dấu vết của bố cục, cảm hứng liền dòng ào ạt, đầy ắp hình ảnh, ảnh thực và ảnh ảo, hiện thực và tưởng tượng, sách vở và đời sống hoà quyện thúc đẩy nhau trong các câu thơ dồn dập

– Anh làm thơ từ thuở học cấp ba, rời ghế trường trung học, vào bộ đội anh viết nhiều hơn và bắt đầu đăng báo

– Năm 1968, hai mươi bài thơ đầu tay chọn in chung vào tập Hương cây – Bếp lửa giới thiệu một hồn thơ trong trẻo, đắm đuối mơ mộng và cũng còn nhiều dấu vết của sách vở nhà trường

– Đắm đuối là đặc điểm suốt đời thơ Lưu Quang Vũ

– Anh cảm thụ đời sống không chỉ bằng nhận thức mà bằng cả giác quan. Cảm giác là hạt nhân đầu tiên của cảm hứng Lưu Quang Vũ.

– Cảm giác gọi những ý thơ tuôn chảy. Đọc thơ anh ít thấy dấu vết của bố cục, cảm hứng liền dòng ào ạt, đầy ắp hình ảnh, ảnh thực và ảnh ảo, hiện thực và tưởng tượng, sách vở và đời sống hoà quyện thúc đẩy nhau trong các câu thơ dồn dập

– Thế giới trong thơ anh là thế giới của tưởng tượng. Giàu tưởng tượng nên mới thành đắm đuối

-Đắm đuối là bản sắc cảm xúc Lưu Quang Vũ. Nó tạo nên sức lôi cuốn ma quái ở thơ anh và cũng tạo nên lắm vất vả cho đời anh

– Lưu Quang Vũ thuộc tạng người chỉ tin ở mắt mình, chỉ tin ở lòng mình. Mắt anh thấy và tim anh đau nhói anh đều viết thành thơ. Anh muốn trung thành với tình cảm nguyên sơ của mình. Anh không bận tâm lắm đến sự xác định là cá biệt hay phổ biến, bản chất hay hiện tượng.

Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi Gió rừng cao xạc xào lá đổ Gió mù mịt những con đường bụi đỏ Những dòng sông ào ạt cánh buồm căng Chớm heo may trên những ngọn cau vàng Nồm nam thổi, khắp đồng bông gạo trắng Người xa cách vẫn chung trời gió lộng Thương vệt bùn trên áo gió khô se.

Dẫu đêm nay ngọn gió mùa hè Còn bề bộn một vùng gạch ngói Lịch sử quay những vòng xoáy gian nan Đất nước tôi như một con thuyền Lướt trên sóng những ngực buồm trắng xoá.

Ước chi được hoá thành ngọn gió Để được ôm trọn vẹn nước non này Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá Để mát rượi những mái nhà nắng lửa Để luôn luôn được trở lại với đời…

Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi…

Tình Yêu Nước Việt Trong Thơ Lưu Quang Vũ / 2023

Cảm hứng lớn nhất trong thơ Lưu Quang Vũ chính là tình yêu Tổ quốc. Ông yêu đất nước này, dân tộc này đến vô cùng như có lần đã viết: “Tôi làm sao sống được nếu xa Người”. 26 năm đã qua kể từ ngày Lưu Quang Vũ ra đi, những tác phẩm của ông vẫn được người đọc yêu mến. Càng đọc, ta càng yêu thêm người nghệ sĩ tài hoa này.

Nói đến Lưu Quang Vũ, nhiều người nhớ đến tác giả của những kịch bản sân khấu dữ dội nhất Việt Nam thập niên 80 thế kỷ XX. Thế nhưng, ít người biết trước khi là một kịch tác gia nổi tiếng, Lưu Quang Vũ là nhà thơ, và thơ mới chính là con người thật của ông như có lần ông tự nhận: Trên ngày tháng trên cả niềm cay đắng/Thơ tôi là mây trắng của đời tôi. Trước đây, người viết cũng chỉ biết Lưu Quang Vũ như một gương mặt thơ trẻ thời chống Mỹ (từng in chung với nhà thơ Bằng Việt tập Hương cây – Bếp lửa), mãi đến gần đây khi đọc tập thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi mới thấy hết con đường thơ của người nghệ sĩ tài hoa này. Đặc biệt, dù có những sắc thái khác nhau, xuyên suốt thơ của ông là một tình yêu nước đến vô cùng, một tình yêu chân thực đến đớn đau.

Từ những cảm hứng tự hào….

Thuở mới bén duyên cùng thơ, tình yêu nước trong thơ Lưu Quang Vũ rất trong trẻo, có chút gì đó khá giản đơn, kiểu như: Ta đi giữ nước yêu thương lắm/ Mỗi xóm thôn qua mỗi nghĩa tình (bài Gửi tới các anh). Nhưng rồi những va đập trong cuộc sống, sự trải nghiệm của đời lính… đã giúp thơ của ông già dặn hơn. Và chính ở đấy, hình ảnh đất nước Việt hiện lên một cách rõ ràng, chân thực nhất. Trong cảm hứng tự hào về đất nước, nhà thơ đã viết bài thơ Đất nước đàn bầu khái quát lại diện mạo của cả dân tộc theo chiều dài lịch sử với một quá khứ đau thương mất mát nhưng cũng rất đỗi tự hào: Dân tộc tôi bốn nghìn năm áo rách/Những người chết đặc trong đất/Những mặt vàng sốt rét/Những bộ xương đói khát vật vờ đi/Vó ngựa lao dồn dập/Giặc phương Bắc kéo về/Bao đền đài bị đốt thành than/Bao cuốn sách bị quăng vào lửa/Bao đầu người bêu trên cọc gỗ/Con trai chinh chiến liên miên/Con gái mong chồng hóa đá. Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta đã làm nên biết bao chiến công hiển hách giữ vững nền độc lập tự chủ: Vọng quanh thành tiếng trống thúc xa xôi Muôn cờ xí trập trùng đuốc lửa/Những đề đốc, những tướng quân áo đỏ/Những Đông Bộ Đầu, Chương Dương Độ, Hàm Tử Quan/Thanh gươm cũ với câu thơ giữ nước/Ngựa đá bao phen phải lấm bùn.

Lưu Quang Vũ lúc còn trẻ

Từ trong cuộc trường chinh vệ quốc, bằng sức sống bất diệt, người Việt đã sáng tạo nên một nền văn hóa truyền thống đầy bản sắc. Trong cảm hứng tự hào, nhà thơ đã vẽ nên bức tranh văn hóa đầy sắc màu: Nón quai thao, áo màu bay rực rỡ/Những lò rèn phập phù bễ lửa/Phường chạm bạc, phường đúc đồng/Phố Hàng Hài thêu những chiếc hài cong/Những cô gái dệt the và phất quạt/Những Hàng Điếu Hàng Buồm Hàng Bát/Rùa trao gươm, chim lạ đến Tây Hồ/Lụa làng Trúc, rượu Kẻ Mơ Phố Tràng Thi ngựa hí/Phố Tràng Thi những thầy khóa trẻ/Giấy hồng điều phấp phới bút hoa.

…. và tập thơ “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi “ do Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam ấn hành.

Yêu mến, tự hào về nước Việt, về tiếng Việt, Lưu Quang Vũ đã dành luôn một thi phẩm Tiếng Việt để nói về tiếng nói của dân tộc. Với nhà thơ, tiếng Việt không phải là cái gì quá đỗi trừu tượng mà là tất cả những gì gần gũi, thân thương nhất của mỗi con người, đó là tiếng mẹ gọi, tiếng cha dặn, tiếng gọi đò… Tiếng Việt mộc mạc, khỏe khoắn nhưng cũng mềm mại, tinh tế, bay bổng đến diệu kỳ mà như nhà thơ đã viết Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa/Óng tre ngà và mềm mại như tơ. Với ông, tiếng Việt không chỉ là một ngôn ngữ để giao tiếp mà chính là sợi dây để nối kết dân tộc, một nhân tố tạo nên sự bền vững muôn đời của đất nước Việt Nam: Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển/Có gọi thầm tiếng Việt đêm khuya/Ai ở phía bên kia cầm súng khác/Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.

Yêu đến tận cùng nước non này

Yêu nước đến mê đắm, nhưng Lưu Quang Vũ không chỉ ngợi ca, ông còn nói lên những mất mát, khổ đau, những buồn tủi của đất nước. Ông nghe trong tiếng đàn bầu nức nở: Cái nỗi buồn dân tộc/Cái nỗi buồn bị đày đọa lăng nhục; càng thấy thương hơn những thiệt thòi, tan nát mà dân tộc Việt phải gánh trên vai, phải luôn đánh vật với tai ương nước mắt, phải chịu tả tơi trong định mệnh đói nghèo. Thế nhưng dù đau khổ, đói nghèo đến đâu ông cũng yêu nước đến vô cùng. Trong bài thơ Người cùng tôi, sau khi nói đến những “khuyết tật” của người Việt, nhà thơ vẫn Ước chi được trở thành ngọn gió/Để được ôm trọn vẹn nước non này.

Giữa lúc cả nước đang trong âm hưởng ngợi ca “đường ra trận mùa này đẹp lắm”, Lưu Quang Vũ lại viết những vần thơ mang tính nghịch âm nói lên những gian khó của Hà Nội, của đất nước trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ: Nơi tôi vào đời cùng cuộc chiến tranh/Những năm khó khăn/Hè phố đầy hầm, tường đầy khẩu hiệu/Quần áo mà mặt người màu cỏ héo/Thiếu ăn thiếu mặc thiếu nhà/Người đợi tàu ngủ chật sân ga/Trẻ em thiếu nơi học hành dạy dỗ… Và nhà thơ đã dũng cảm kêu gọi Người ta không thể sống bằng niềm tin đẹp/Bằng áp phích trên tường, bằng những lời đanh thép/Phải mang cho mọi người áo mặc cơm ăn/Phải có nhà trường cửa sổ trời xanh/Những bàn tay dám làm, những tấm lòng dám thật (Viết lại một bài thơ Hà Nội). Chính vì yêu nước, chứng kiến chiến tranh đã hủy hoại nhiều giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc nên nhà thơ đã lên tiếng như ông đã từng kêu gọi: Dân tộc trải xót xa nhiều nỗi khổ/Phải thương nhau mới sống được trên đời khi kết lại bài thơ Đất nước đàn bầu. Trách nhiệm của một người nghệ sĩ, ý thức công dân quyết liệt đã làm bật lên tiếng lòng của Lưu Quang Vũ. Đọc những vần thơ đầy tính phản tỉnh này mới hiểu vì sao ông dám viết những kịch bản sân khấu đầy chất đấu tranh đến vậy. Với ông, dù đất nước có đau thương hơn nữa, nghèo đói hơn nữa, đầy khiếm khuyết hơn nữa ông vẫn yêu đến tận cùng. Bởi như có lần nhà thơ đã tự bạch  trong Người cùng tôi: Tôi làm sao sống được nếu xa Người/Như giọt nước bậu vào ngọn cỏ/Như châu chấu ôm ghì bông lúa/Người đẩy tôi ra tôi lại bám lấy Người/… Xin Người đừng nhìn tôi như kẻ lạ/Xin Người đừng ghẻ lạnh Việt Nam ơi/Người có triệu chúng tôi, tôi chỉ có một Người.  

Đọc Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, có cảm giác Lưu Quang Vũ đã gửi tất cả những gì sâu kín nhất vào thơ, ông làm thơ trước hết là để cho mình, viết ra những ẩn ức của mình… Chính vì vậy, thơ ông đã đứng lại được với thời gian. Và hơn hết, người ta nhận ra trong thơ ông một tình yêu đất nước vô bờ bến.

XUÂN THÀNH

 

Truyền Thuyết Mất Nước: Từ Thơ Tố Hữu Tới Lưu Quang Vũ / 2023

Truyền thuyết mất nước: Từ thơ Tố Hữu tới Lưu Quang Vũ

Phùng Hoài Ngọc

(VNTB) – Hôn nhân chính trị ngày xưa là cái bẫy, như ngày nay gọi là “quyền lực mềm”. Những kẻ ra rả ca tụng “16 chữ vàng và 4 tốt” lừa dối nhân dân chỉ vì lợi ích nhóm chắc chắn sẽ phải đón một ngày kia hối hận. Trước phút diệt vong, chớ đừng đổ tội cho ai khác.

Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy

Thần thoại, truyền thuyết, huyền thoại Việt Nam hợp thành một kho tàng văn hóa truyền miệng khá phong phú. Trong đó truyền thuyết được coi là gần gũi với lịch sử hơn cả. Truyền thuyết gắn bó với các thời kỳ lịch sử dân tộc. Giai đoạn đầu có truyền thuyết dựng nước, gồm nhóm truyện họ Hồng Bàng và nhà nước Văn Lang mang tính chất sử thi. Giai đoạn hai là thời kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc. Nước Âu Lạc của An Dương Vương tồn tại khoảng 50 năm (257 -208 tr.CN). Thời kỳ Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ (207 tr.CN-938) là thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Truyền thuyết tiêu biểu của thời Âu Lạc là “truyện An Dương Vương”, gồm hai phần: phần đầu là lịch sử chiến thắng, phần sau là lịch sử chiến bại (sau đó là các truyền thuyết phản ánh các cuộc vũ trang khởi nghĩa chống xâm lược thời kỳ Bắc thuộc là Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí…). Lịch sử đất nước có thắng có bại. Bộ máy tuyên truyền “cách mạng”quen tụng ca chiến thắng với mục đích vụ lợi chính trị nhất thời. Phần lớn truyền thuyết đều ca tụng chiến thắng, rất hiếm hoi mới có một truyền thuyết chiến bại.… Ở đây chúng tôi muốn bàn về “truyền thuyết chiến bại” của đất nước ta như một bi kịch lịch sử.

Nhân bàn về sự kiện lịch sử nhuốm màu truyền thuyết, chúng tôi đối sánh với cách nhìn của khoa học nghiên cứu văn hóa dân gian và so sánh bài thơ “Tâm sự” của Tố Hữu với bài thơ “Tiếng Việt” của Lưu Quang Vũ.

An dương vương và Triệu Đà đồng tổ chức cuộc hôn nhân chính trị

“Kết duyên Tần Tấn”là thành ngữ cổ Trung Quốc, xưa nay người dân Việt đôi khi nhắc đến như một lời chúc cho hôn nhân tốt lành mà quên đi bản chất chính trị của hôn nhân.

Sự tích này xuất hiện đầu tiên trong sách“Tả truyện” sau được kể lại trong Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long. Thời Xuân Thu, nhằm tăng cường mối quan hệ láng giềng với nước Tần, Tấn Hiến Công đã đem con gái của mình gả cho Tần Mục Công. Sau đó, ba đời Tần và Tấn thông gia giữa hai hoàng tộc. Rút cục nhà Tần cũng nuốt chửng nhà Tấn…

Học theo cổ sử, hai bên Thục Phán và Triệu Đà nhất trí tổ chức hôn nhân. Người Việt vốn chất phác ngay thực và cả tin. Bởi người Việt không trải qua cả một thời kỳ dài gần 10 thế kỷ Đông Chu liệt quốc đầy rẫy mưu mẹo gian manh. Và kết quả là Thục Phán An dương vương phải ăn quả đắng. Sắp chết rồi Thục Phán vẫn chưa nhận ra âm mưu kẻ thù mà còn đổ tội cho con gái.

Tư tưởng truyền thuyết – tư tưởng nước đôi

Nhà quí tộc phong kiến khuyết danh kể lại câu chuyện An Dương vương mất nước như một truyền thuyết (vì không có sử sách ghi chép). Truyền thuyết cố giúp cho cái chết của An Dương Vương nhẹ nhàng hơn (Lão thần Kim Quy rẽ nước biển cho Vua đi xuống thủy cung sau khi chém chết con gái). Ngôn ngữ folklore sẽ đọc hiểu ra rằng “Vua nhảy xuống biển mà chết vì đau khổ và hối hận”.

Truyền thuyết còn kể rằng “những con trai biển ăn phải máu Mỵ Châu*[1] thì sinh ngọc và ngọc ấy đem rửa bằng nước giếng nơi Trọng Thủy*[2] trầm mình sẽ trở nên trong sáng tuyệt vời” ! Nhẹ dạ, nông nổi và định kiến, tác giả dân gian xưa chưa bao giờ tự hỏi: Vì sao con trai sò ăn phải máu công chúa ngu ngơ lại sinh ngọc? Vì sao ngọc trai rửa bằng nước giếng của tên gian tế bội tình lại “sáng lên” – điều đó có ý nghĩa quái gì? Chúng tôi nghĩ rằng, đó là sáng tác phản mỹ học. Cái xấu sao lại có thể sinh ra cái đẹp được !

Triệu Đà [3]* bày kế “kết thông gia” với triều đình vua Thục Phán, khiến cho người Âu Lạc yên tâm, chủ quan và thiếu cảnh giác. Quân lính mất sức chiến đấu, bí mật quân sự bị lộ, dẫn tới thất bại mau chóng trước cuộc tấn công bất ngờ của quân Nam Hán.

Như vậy, về phía ta kẻ thủ phạm làm mất nước chính là vua An dương vương, người chủ trương hôn nhân chính trị, nhằm giữ gìn “ổn định và phát triển”. Đâu phải lỗi của cô công chứa ngây thơ bị vua cha sử dụng như một công cụ.

Tố Hữu viết năm 1972:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu

(bài Tâm sự, tập thơ RA TRẬN, 1972)

Lưu Quang Vũ viết năm 1978:

“Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất

nàng Mỵ Châu quì xuống lạy cha già”.

(trích bài thơ Tiếng Việt)

Hai tư tưởng giải thích lịch sử trái ngược nhau. Chỉ có một nàh thơ trẻ- Lưu Quang Vũ dám nói trái ý Tố Hữu vào giai đoạn ấy.

Tố Hữu: bênh vua, đổ hết tội cho công chúa Mỵ Châu

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu

(Tố Hữu, bài Tâm sự)

Ông thợ ghép vần này tự mâu thuẫn: lên án công chúa Mỵ Châu là “trái tim lầm chỗ” rồi lại bảo cô “vô ý”. Cô chưa từng quen biết và yêu Trọng Thủy, cô chỉ tuân theo xếp đặt của vua cha. Vậy, đây chẳng phải câu chuyện của trái tim. Giả sử vua cha can ngăn mà công chúa cứ đòi yêu theo trái tim mình thì mới trách cô ta được.

Tố Hữu viết bài thơ “Tâm sự” (1972) liệu có đúng đắn và thành thực khi lên án Mỵ Châu hay không ? Tố Hữu có khả năng phân biệt đọc sử và đọc truyền thuyết khác nhau thế nào hay chăng ?

Sự nhầm lẫn của Tố Hữu là ở chỗ, chỉ biết đọc truyền thuyết Mỵ Châu- Trọng Thủy mà không đọc Truyền thuyết An dương vương. Đó là hai truyền thuyết khác nhau, được  kể theo hai tư tưởng khác nhau. Tố Hữu cũng không biết tới folklore (khoa nghiên cứu văn hóa dân gian) là cái chi chi. Ông ta cứ tưởng truyền thuyết chính là lịch sử, và tau có quyền có thế thì tau cứ viết vong mạng, ai dám cãi tau?

Mặt khác Tố Hữu tuy là ông trùm lý luận cộng sản (có lẽ chỉ chịu nhún trước Trường Chinh) nhưng tư tưởng ông ta thực chất sặc mùi phong kiến. Một trong những nét “đặc sắc”phong kiến là trọng nam khinh nữ. Tơ Tố Hữu có nhiều nhân vật phụ nữ nhưng ông ta chỉ ca tụng sự hi sinh của họ cho chiến tranh, chưa bao giờ biết thấm nỗi khổ đau của họ. Lịch sử và ngoại sử TQ đều quen giải thích nguyên nhân thất bại là đổ hết cho phụ nữ. Kế đó là quy tội cho gian thần (thời hiện đại thì đổ cho cấp dưới thừa hành sai trái, trên bảo dưới không nghe, chủ trương lớn của vua thì đúng đắn !). Đổ hết lỗi cho Mỵ Châu là chắc ăn.

Lưu Quang Vũ nhìn thấy Mỵ Châu chỉ là nạn nhân

Nhà khoa học folklore sẽ đọc truyền thuyết theo cách khác. Ít nhất qua các kiến giải sau:

Thủ phạm làm mất nước chính là vua Thục Phán người xưng hiệu An Dương Vương. Vì ông ta muốn giữ gìn đại cục ổn định giữa Ấu Lạc và Nam Hán nên đã bày cuộc hôn nhân chính trị, học theo những bài lịch sử cổ đại du nhập từ phương Bắc.

Khi Trọng Thủy đã là phò mã, tất nhiên anh ta được tin cậy, được nể trọng, có quyền lực. Anh ta dò biết hết bí mật quân sự Ấu Lạc. Chỉ riêng điều đó đã đủ  giúp nhà Nam Hán đánh thắng nhà Âu Lạc. Đó là cách nhìn của khoa folklore.

Nhà thơ Lưu Quang Vũ nhìn tình huống này theo quan điểm tâm lý:

“Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già” và nàng đã nói gì đó nữa ?

Nàng có thể cãi rằng cha ép con phải cưới, đâu phải lỗi của con, xin cha nghĩ lại.

Nàng có thể nói, chàng là phò mã, giao thiệp rộng trong cung đình, biết đâu có kẻ Việt gian ăn hối lộ đưa chàng xem nỏ thần, chàng đánh tráo nỏ giả, con biết gì đâu mà đưa.

Nàng lạy van xin vua nguôi giận và tha thứ. Chẳng lẽ chỉ “lạy chào từ biệt” vua cha ?

Thơ hàm súc là thơ có nhiều tâm tư.

Nhà thơ Lưu Quang Vũ chỉ miêu tả thế thôi, còn chừa chỗ trống cho thiên hạ luận bàn.

Nhà thơ trẻ tuổi đã tránh được sự nông nổi của Tố Hữu già đời lọc lõi. Anh không hấp tấp kết tội Mỵ Châu như Tố Hữu vốn quen thói kết tội người ta khi đã nắm quyền lực của “tổ chức” giao cho.

KẾT

Còn nhớ năm 1992 tôi may mắn tham dự Hội thảo khoa Văn (ĐHSP.HN). Chủ đề hội thảo nghe đủ tính khoa học và rất hiền: “Sức sống của thơ Tố Hữu”. Thực ra đó là một cuộc xử án thơ Tố Hữu sớm nhất và công phu nhất. Từ đó đến nay, “hồ sơ thơ Tố Hữu” tiếp tục dày lên mãi, tưởng như không bao giờ cạn trong đời sống văn học nước ta.

Sau hội thảo nổi tiếng ấy, anh chàng nhà báo nhà thơ trung tá Hồng Thanh Quang viết một bài phỏng vấn trên An ninh thế giới cuối tháng do anh ta làm trưởng ban biên tập. Bài báo kể anh ta gặp cô nữ tiến sĩ Việt kiều tên NTS, ái nữ của Tố Hữu từ bên nước Đức thống nhất về thăm quê. Cô này đã định cư ở Đức, làm giám đốc một công ty tư nhân. Khó ai ngờ con gái một “ông vua tập thể” suốt đời ca tụng chủ nghĩa xã hội tới lúc sắp tàn hơi, có người cha từng viết “miền Bắc thiên đường của các con tôi” (Bài ca Xuân 61), lại rời bỏ thiên đường mang tiền vốn “xã hội chủ nghĩa” đi lập nghiệp nơi “địa ngục”. Hồng Thanh Quang bày chiêu trò ngồi chơi uống cà phê với con gái Tố Hữu ở vỉa hè Hà Nội (để phỏng vấn). Sau những chuyện cà kê dê ngỗng, cô tiến sĩ nói lời chót “Dù thế nào đi nữa, em biết rằng khi làm thơ, ba em rất thành thực” (?!). Tay Hồng Thanh Quang hồi ấy cũng không đủ sức phản bác được cuộc hội thảo của khoa Văn Sư phạm, anh ta chỉ bày trò phỏng vấn để vớt vát, chiêu tuyết cho “nhà thơ cách mạng đầu đàn” mà thôi.

Hôn nhân chính trị ngày xưa là cái bẫy, như ngày nay gọi là “quyền lực mềm”. Những kẻ ra rả ca tụng “16 chữ vàng và 4 tốt” lừa dối nhân dân chỉ vì lợi ích nhóm chắc chắn sẽ phải đón một ngày kia hối hận. Trước phút diệt vong, chớ đừng đổ tội cho ai khác.

[1] *. Mỵ: cô gái đẹp. Châu: viên ngọc trai (chữ Hán). Mỵ Châu là viên ngọc trai đẹp.

[2] * Trọng Thủy: tôn trọng tình chung thủy (chữ  gốc Hán).

[3] * Nhân vật Triệu Đà hiện còn khá phức tạp trong quan điểm lịch sử Việt Nam.

http://www.ijavn.org/2016/08/vntb-truyen-thuyet-mat-nuoc-tu-tho-to.html

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Những Áng Thơ Đậm Tình Yêu Đất Nước / 2023

Nhìn lại lịch sử thi ca Việt Nam, có thể thấy, thời kỳ nào cũng thấm đẫm những áng thơ yêu nước.

Chinh phục đỉnh cao. Ảnh: Phạm Vũ Dũng

1.

Áng thơ “Nam quốc sơn hà” bên bờ sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt vẫn còn vang vọng qua nghìn năm đến với chúng ta ngày hôm nay. Đó là bản tuyên ngôn đanh thép đầu tiên khẳng định chủ quyền độc lập tự do của dân tộc.

Gần 4 thế kỷ sau, bản hùng văn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi xuất hiện như bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, vừa thể hiện niềm tự hào sâu sắc về truyền thống hào hùng, vẻ vang, vừa tin tưởng lạc quan vào tương lai tươi sáng trường tồn của dân tộc.

Cho đến thế kỷ 20, cụ thể là từ sau năm 1945, cảm hứng đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại  trở lại dồi dào, phong phú.

Đất nước của Nguyễn Đình Thi có thể xem là thi phẩm đại diện đặc sắc nhất của thơ ca kháng chiến thời chống Pháp, dựng lên một tượng đài Tổ quốc anh hùng bất khuất, đứng lên trong đau thương để rồi rực rỡ chói ngời: Nước chúng ta/Nước những người chưa bao giờ khuất/Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất/Những buổi ngày xưa vọng nói về(…) Súng nổ rung trời giận dữ/Người lên như nước vỡ bờ/Nước Việt Nam từ máu lửa/Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

Cũng vẫn là Nguyễn Đình Thi, sau đó 3 năm, tiếp tục mang đến cho người đọc một tác phẩm nổi tiếng khác mang tên “Bài thơ Hắc Hải”. Hình tượng Tổ quốc lắng sâu hơn được diễn tả qua thể thơ lục bát mềm mại như lời ru của mẹ bên nôi: Việt Nam đất nước ta ơi/Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn/Cánh cò bay lả rập rờn/Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều… Đất nghèo nuôi những anh hùng/Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên/Đạp quân thù xuống đất đen/Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa.

Vẫn tiếp tục khơi gợi cảm hứng anh hùng bất khuất, đứng lên từ đau thương, nhưng lần này Nguyễn Đình Thi đã bổ sung thêm một nội dung quan trọng nữa, đó là sự bình dị, đời thường của những người anh hùng. Chúng ta bất đắc dĩ phải cầm súng cầm gươm khi quân thù kéo đến, chứ thực chất con người Việt Nam vốn hiền lành, yêu chuộng hòa bình, yêu thơ yêu nhạc, hầu như trong người Việt nào cũng tiềm tàng những tố chất nghệ sĩ…

2.

Nếu như cảm hứng Tổ quốc trong thơ thời chống Pháp được nhấn mạnh ở nét kiên cường bất khuất vượt lên đau thương thì cảm hứng Tổ quốc trong thơ thời kỳ chống Mỹ được tô đậm nét lãng mạn bay bổng hào hùng. Cả dân tộc cùng chung một con đường, một lý tưởng, một ước mơ khát vọng cháy bỏng là thống nhất đất nước, đánh đuổi hết quân thù ra khỏi bờ cõi giang sơn: Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận/Có Đảng ta đây có Bác Hồ (Theo chân Bác – Tố Hữu).

Những ngày ra trận đánh giặc là những ngày đẹp nhất, đầy tự hào thiêng liêng: Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm/ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?/ Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất/ Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/ Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn/ Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc/ Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng – Chế Lan Viên). Những câu thơ của Chế Lan Viên như gọi bao anh linh của non sông gấm vóc nghìn xưa cùng về hội tụ, tiếp thêm nguồn sức mạnh tràn đầy cho bao người con đất Việt của ngày hôm nay đang chiến đấu hết mình để giải phóng quê hương.

Đã có biết bao câu thơ không ngần ngại nói đến cái chết, miêu tả cái chết. Nhưng những cái chết ấy sẽ làm nên sự bất tử cho Tổ quốc: Ôi Tổ quốc ta yêu tha thiết/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông (Sao tháng 8 – Chế Lan Viên).

Và Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất/ Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng/ Và anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng… Anh là chiến sĩ giải phóng quân/ Tên anh đã thành tên đất nước/ Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân (Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân). Lê Anh Xuân, tác giả của những câu thơ lộng lẫy ấy cũng là một trong nhưng thi sĩ đã mãi mãi nằm xuống trên chiến trường.

Đã có biết bao nhà thơ liệt sĩ không thể trở về qua hai cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc. Chỉ có những câu thơ của các anh trở về, còn mãi và lay động lòng ta rưng rưng trong ngày hôm nay cũng như tới ngàn sau: Đất nước/ Ta hát mãi bài ca đất nước/ Cho tuổi thanh xuân sáng bừng lên như ngọc/ Cho mắt ta nhìn tận cùng trời/ Và cho chân ta đi tới cuối đất/ Ôi Tổ quốc mà ta yêu quý nhất/ Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi (Nam Hà).

Một trong những thông điệp quan trọng trong những bài thơ về đất nước của thời chống Mỹ là khát vọng thống nhất Bắc Nam. Trần Vàng Sao qua thi phẩm nổi tiếng “Bài thơ của một người yêu nước mình” đã góp một giọng điệu thơ thật đặc biệt. Từ những câu chuyện, chi tiết rất đời thường của số phận một cá nhân, ông đã đặt những tâm sự riêng tư ấy vào những trang sử đương đại của cả dân tộc. Điệp khúc “tôi yêu đất nước này” lặp lại nhiều lần trong suốt bài thơ dài như niềm xúc động thấu suốt tâm can: Tôi yêu đất nước này như thế…/ Tôi yêu đất nước này xót xa…/ Tôi yêu đất nước này cay đắng…/Tôi yêu đất nước này khôn nguôi…/ Tôi yêu đất nước này những buổi mai…/ Như yêu cây cỏ trong vườn/Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương… Đất nước này còn chua xót/ Nên trông ngày thống nhất/ Cho bên kia không gọi bên này là người miền Nam/ Cho bên này không gọi bên kia là người miền Bắc/ Lòng vui hôm nay không thấy chật/ Tôi yêu đất nước này chân thật/ Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi/ Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi/ Và yêu tôi đã biết làm người/ Cứ trông đất nước mình thống nhất.

Sau năm 1975, cảm hứng đất nước tiếp tục chảy tràn trong thơ những cây bút thuộc thế hệ chống Mỹ. Trường ca “Đất nước hình tia chớp” của Trần Mạnh Hảo xuất hiện vào đúng lúc cuộc chiến tranh biên giới nổ ra. Một trong những trích đoạn được phát đi phát lại nhiều lần nhất trên Đài Tiếng nói Việt Nam lúc ấy là chương 10 “Mẹ sinh nhiều con trai”. Những câu thơ vang dội hồn thiêng sông núi đã góp phần thổi bùng hào khí của bao người lính trên đường ra trận: Cái dải đất giống như nàng tiên múa/ Lại có hình ngọn lửa lúc cuồng phong/ Lịch sử thành văn trên mình ngựa/ Con trẻ mà mang áo giáp đồng/ Dân tộc lạ lùng lần đầu chiến đấu/ Lại cử chú bé vừa sinh cưỡi ngựa sắt xông ra/ Lại cử hai người đàn bà cưỡi voi cầm giáo/ Tráng sĩ mà sao phải giữ nhà?…/ Mẹ ơi, từ bất kỳ điểm nào trên trái đất/ Ai cũng thấy mẹ sinh nhiều con trai/ Khi đất nước Việt Nam mang dáng hình tia chớp/ Rạch chân trời một lối đến tương lai.

Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm trong những ngày chiến tranh biên giới cũng viết những câu thơ lay động lòng người: Sẽ còn in như dao khắc lòng tôi/ Dáng đồng đội ngã trong giờ chiến đấu/ Ngực áp sát cột biên cương đỏ máu/ Mà môi cười tha thiết – Việt Nam ơi… (Tôi không thể nào mang về cho em).

3.

Sang những năm đầu của thế kỷ 21, những cây bút thuộc thế hệ 7X, 8X tiếp tục viết nên những bài thơ sâu nặng về tình yêu Tổ quốc. Nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai trên chuyến bay từ Việt Nam sang Châu Âu, khi nghe thời sự về tình hình biển Đông đã xúc động hoàn thành bài thơ “Tổ quốc gọi tên”. Bài thơ được nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn phổ nhạc thành ca khúc “Tổ quốc gọi tên mình” đã tạo nên một làn sóng mạnh mẽ, một sự hưởng ứng của đông đảo công chúng yêu thơ và nhạc. Những câu thơ lời hát như muốn khẳng định, tuổi trẻ Việt Nam, mỗi con người Việt Nam chưa bao giờ thờ ơ khi Tổ quốc lâm nguy: Chín mươi triệu người lấy thân mình chở che Tổ quốc linh thiêng/Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố/Ngọn đuốc hòa bình trên tay rực lửa/ Tôi lắng nghe Tổ quốc gọi tên mình!

Và một bài thơ cuối cùng tôi muốn nhớ tới để khép lại bài viết này là sáng tác của một cây bút thuộc thế hệ 7X – họa sĩ Đinh Vũ Hoàng Nguyên (1975-2012). Anh tạm biệt cuộc đời vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 38, khi chưa kịp thấy tuyển tập của mình ra mắt bạn đọc. Một trong những bài thơ nổi tiếng của anh mang tên “Những huyết cầu Tổ quốc” với tứ thơ xúc động lòng người: Một ngày, khi con nếm trên môi/ Con sẽ thấy máu mình vị mặn/ Bởi trong máu luôn có phần nước mắt/ Ta hiểu căm thù, ta biết yêu thương/ Con sinh ra rạng rỡ một huyết cầu/ Của đất nước bốn nghìn năm không ngủ/ Để điều này lớn lên con hiểu/ Bây giờ, ba phải kể cùng con.

TS. ĐỖ ANH VŨ (LĐO)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bài Thơ Gió Và Tình Yêu Thổi Trên Đất Nước Tôi Của Lưu Quang Vũ / 2023 trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!