Đề Xuất 1/2023 # Bài Chia Sẻ Lời Chúa Trong Thánh Lễ Tạ Ơn Của Tân Linh Mục Giuse Nguyễn Thanh Tùng Tại Trà Kiệu 06/8/2015 # Top 7 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Bài Chia Sẻ Lời Chúa Trong Thánh Lễ Tạ Ơn Của Tân Linh Mục Giuse Nguyễn Thanh Tùng Tại Trà Kiệu 06/8/2015 # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bài Chia Sẻ Lời Chúa Trong Thánh Lễ Tạ Ơn Của Tân Linh Mục Giuse Nguyễn Thanh Tùng Tại Trà Kiệu 06/8/2015 mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trọng kính Cha Tổng Đại diện Phaolo Maria, nguyên là Cha Phó xứ Trà Kiệu

Kính thưa Cha Sở Gioan, và Cha Phó Phaolô

Kính thưa Quý Cha Sở và Cha Phó cựu,

Kính thưa Quý Cha quê hương và cùng tất cả Quý Cha đang hiện diện

Kính thưa Quý Sr., Quý Thầy, Quý anh em chủng sinh, cùng Quý cộng đoàn phụng vụ hôm nay.

Cộng đoàn phụng kính mến, lời “Xin Vâng” mà Đức Mẹ thưa với Thiên Chúa qua sứ thần Gabriel diễn ra trong âm thầm đơn sơ, nhưng đã làm cho vũ trụ phải chuyển động, bộ mặt địa cầu phải đổi thay, vì từ nay con Thiên Chúa đã làm người và ở giữa chúng ta. Ý nghĩa đó thật nhiệm mầu để rồi hồn thi sĩ Hàn Mặc Tử đã thót lên trong bài thơ “Ave Maria”:

Hỡi sứ thần Thiên Chúa Gabriel Khi người xuống truyền tin cho Thánh nữ Người có nghe xôn xao muôn tinh tú Người có nghe náo động cả muôn trời Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời. Để ca tụng bằng hoa hương sáng láng Bằng tràng hạt, bằng sao mai chiếu rạng Một đêm xuân là rất đỗi anh linh.

Vậy lời xin vâng nghĩa là gì ? Chắc có lẽ chúng ta sẽ tìm ra nhiều cách giải thích khác nhau và rất hay. Tuy nhiên trong các bài đọc Lời Chúa hôm nay chúng ta lại thấy có một khía cạnh rất thực tế mà chúng ta có thể cảm nhận được.

Trong bài đọc một trích sách Samuel quyển thứ nhất, đã cho chúng ta thấy, Samuel đã phải tìm kiếm tiếng Chúa gọi để rồi được thầy cả Heli hướng dẫn, cậu Samuel đã sẵn sàng đáp lại: ” Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe“. Rồi trong bài đọc hai, thư Do thái đã lại cho thấy: Chúa không muốn hy tế và của lễ hiến dâng, Chúa không nhận của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội, mà nhận lấy chính con người thưa tiếng xin vâng để rồi chúng ta hãy thốt lên: ” Lạy Chúa, này con đến để thi hành thánh ý Chúa “.

Ý nghĩa xin vâng đó đã được đúc kết không chỉ lời xin vâng của Đức Mẹ mà cả cuộc đời xin vâng của Mẹ: Mẹ đã xin vâng để sẵn sàng bỏ ý riêng chấp nhận theo ý Chúa; Mẹ đã xin vâng để có thể đón nhận con Thiên Chúa làm người trong cảnh nghèo hèn, bị chính người nhà của mình không tiếp rước; Mẹ đã xin vâng để chấp nhận cuộc chạy trốn sang Ai cập rồi trở về sống âm thầm nơi miền quê bé nhỏ chẳng ai biết đến; Mẹ đã xin vâng để đồng hành, lo lắng cho Chúa Giêsu trên con đường rao giảng Tin Mừng; Mẹ đã xin vâng khi đứng dưới chân thập giá và ẳm xác con rất yêu dấu mà hình tượng chẳng còn người ta nữa; cuối cùng Mẹ xin vâng khi xác Chúa được mai táng trong huyệt đá mới; hơn thế nữa, Mẹ còn xin vâng để ở lại với các môn đệ trong nhà tiệc ly chờ đợi ơn Thánh Thần Chúa đến.

Đời xin vâng của Mẹ đã được kết tinh từ đời xin vâng của Chúa Giêsu, Chúa Giêsu đã xin vâng để từ bỏ vinh quang làm Chúa, chấp nhận mang kiếp làm người; từ bỏ quyền uy để chấp nhận làm cảnh tội nhân; đỉnh cao đời xin vâng của Chúa Giêsu là nổi ưu phiền khốn cùng trong vườn Giếtsêmani: ” Lạy Cha nếu có thể được thì xin cất chén đắng này cho con, nhưng một vâng theo ý Cha đừng theo ý riêng con “, chính vâng theo ý Cha đó mà Chúa Giêsu chấp nhận cái chết treo trên thập giá.

Chính trong ý nghĩa đời xin vâng đó, chúng ta khám phá ra đời xin vâng của mỗi người chúng ta: là Linh mục hay tu sĩ, là giáo dân hay đời sống gia đình…

1/ Đời xin vâng của Linh mục, tu sĩ:

Ngay từ nhỏ người đi tu đã phải chấp nhận tiếng xin vâng của mình với Chúa, là phải biết từ bỏ thân phận của mình là giàu hay nghèo, từ bỏ những mối quan hệ không cần thiết để khép mình bước đi theo tiếng gọi, để rồi khi tiến chức họ đã phải thốt lên: ” con hứa vâng lời bề trên chính thức và những người kế vị … “. Trong lời hứa đó, họ đã để đời mình được quyết định do ý đấng bề trên: họ có thể bị chuyển từ nơi này qua nơi khác, từ việc này sang việc kia; họ phải chấp nhận mọi hoàn cảnh vui hay buồn, giàu hay nghèo, dễ chịu hay khó thở; họ sẵn sàng đương đầu với những hoàn cảnh khó khăn hay thuận lợi…

2/ Đời xin vâng của người Kitô hữu:

Nhiều khi người ta cứ tưởng rằng: chỉ có những người đi tu mới xin vâng, còn người dân bình thường thì không sao!!! Không phải vậy, mà tất cả chúng ta phải sống đời xin vâng với Chúa: xin vâng để bước vào đời sống gia đình hôn nhân hay sống độc thân thánh thiện; xin vâng để có thể chu toàn những bổn phận hằng ngày mà mình đón nhận; xin vâng trong những nghịch cảnh của gia đình; xin vâng để chấp nhận nhau trong cuộc sống thường ngày; nhất là còn xin vâng để chịu đựng những ông cha của giáo xứ mình!!!

3/ Đời xin vâng của người kitô hữu trẻ:

Các bạn trẻ thân mến, nghe đến chữ xin vâng chắc rằng trong chúng ta rất bị dị ứng, vì chúng ta muốn làm chủ cuộc sống của mình, muốn tự quyết định cho mọi vấn đề cho cuộc sống, và cũng luôn muốn tìm sự thoải mái cho riêng mình. Tất cả điều rất hay nhưng sẽ là một thảm họa nếu các bạn không biết tín thác vào Chúa bằng lời xin vâng của mình.

Các bạn hãy biết tìm kiếm ơn gọi của mình như Samuel ngày xưa, biết chấp nhận sự hướng dẫn của những người đạo đức trách nhiệm, để cũng sẵn sàng đáp trả lại tiếng gọi dấn thân theo Chúa trong đời sống ơn gọi. Các bạn hãy mạnh dạn để thưa lên: ” Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe“, ” Lạy Chúa, này con đến để thi hành thánh ý Chúa “.

Kính thưa cộng đoàn thân mến, thật ngẫu nhiên, cách đây hơn 12 năm Chúa đã chọn lấy một thằng bé giữ trâu cắt cỏ để làm linh mục của Chúa, và nó đã nhận lấy một logo với một cánh tay cương quyết cầm lấy Thánh Giá với khẩu hiệu: Vinh dự của tôi là thập giá Chúa Kitô; rồi hôm nay Chúa là chọn lấy một thằng mồ côi cha mẹ để làm linh mục của Chúa và nó cũng lại chọn một cây Thập giá với một bàn tay chấp lại trong sự tín thác cùng lời xin vâng.

Kính thưa Cha Giuse, cha đã chọn thập giá như là đỉnh cao của lời xin vâng, con xin gửi đến cho tâm tình của Mẹ Teresa Calcutta gửi cho linh mục :

Thư gửi một linh mục

Kính thăm cha, cộng tác viên thân mến của Chúa Kitô,

Cha nói lời xin vâng với Chúa Giêsu và Người đã nhận lời cha. Lời của Thiên Chúa đã trở nên Giêsu, một người nghèo. Và đây chính là sự hủy mình ra không của Chúa mà cha cảm nghiệm được. Thiên Chúa không thể đong đầy những gì đã đủ – Ngài chỉ có thể đổ đầy những gì trống rỗng – đó chính là cái nghèo tột cùng – và tiếng xin vâng của cha sẽ là bước khởi đầu cho cuộc sống hoặc cho cuộc hành trình trở nên trống rỗng. Không phải chúng ta thực sự có bao nhiêu để cho mà là chúng ta trống rỗng như thế nào – để nhờ đó chúng ta có thể nhận lãnh Chúa đầy ắp cuộc sống của mình và để Chúa sống trọn vẹn trong ta.

Hôm nay, Chúa mời gọi cha làm sống lại thái độ tùng phục tuyệt đối của Người đối với Chúa Cha – và hãy để Người thực hiện điều đó nơi cha. Chủ yếu không phải điều cha cảm nhận được, mà là Chúa Giêsu cảm nhận được điều gì nơi cha. Đừng nhìn vào mình nhưng hãy vui mừng vì cha không có gì, vì cha chẳng là gì, và cha có thể chẳng làm được gì.

Hãy nở nụ cười rạng rỡ với Chúa Giêsu mỗi khi tình trạng hư không của mình làm cho cha hoảng sợ. Đây chính là cái nghèo của Chúa Giêsu. Cha và con hãy để cho Chúa sống trong chúng ta và qua chúng ta Người hiện diện trong thế giới này. Hãy bám vào Mẹ Maria bởi vì trước khi là Đấng no đầy ân sủng và tràn trề Chúa Giêsu, Mẹ cũng đã phải trải qua đêm tối: “Làm thế nào việc ấy xảy ra được…” ; nhưng chính trong giây phút Mẹ thưa tiếng “xin vâng” cũng là lúc Mẹ vội vã mang Chúa Giêsu đến cho Thánh Gioan Tẩy Giả và gia đình của ngài. Vậy cha hãy mau mắn đem Chúa Giêsu đến cho người khác không chỉ bằng lời nói mà bằng chính gương sáng của cha và bằng tình yêu mà cha dành cho Chúa Giêsu – để ánh quang thánh thiện của Chúa được chiếu giãi và hương thơm của tình yêu được lan tỏa ở những nơi cha đến. Cha hãy giữ niềm vui của Chúa Giêsu làm nội lực – hãy sống an vui, đón nhận những gì Chúa ban cho cha, và với nụ cười rạng rỡ, cha hãy trao những gì Chúa lấy đi. Cha thuộc về Chúa nên hãy thưa với Người: “Con là của Chúa – và nếu Chúa cắt con ra làm nhiều mảnh thì từng mảnh vẫn thuộc về Chúa.” Hãy để Chúa Giêsu hiện diện nơi cha trong thân phận của một người chịu khổ nạn và trong tư cách của một linh mục.

Con bắt đầu đi thăm các nhà của chúng con tại Ấn Độ đây – vậy là được sống những phút giây đẹp cùng với Chúa Giêsu trên tàu hỏa.

Xin cha cầu nguyện cho con và con cũng cầu nguyện cho cha.

Thân mến chào cha trong Chúa Giêsu.

Mother Teresa MC

“Lạy Mẹ Trà Kiệu mến yêu“, “Xin Mẹ dạy con hai tiếng xin vâng, hôm nay, tương lai và suốt đời“. Amen.

Bài 16: Thánh Lễ Tạ Ơn

“Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn,trao cho các ông và nói : Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19)

BÀI HỌC :

Thánh Lễ là việc Chúa Giêsu dâng mình cho Chúa Cha qua hy tế thập giá để tạ ơn Thiên Chúa và cầu xin ơn tha tội cho con người.

I – CHÚA GIÊSU THIẾT LẬP THÁNH LỄ

Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu đã làm một cử chỉ bẻ bánh báo trước hy lễ thập giá. Bánh bẻ ra chính là thân thể bị hủy tế vì ta, và rượu trong chén chính là Máu Chúa Giêsu đổ ra để tha tội ta, nhờ đó hy lễ thập giá được tiếp tục qua mọi thời đại cho tới khi Người đến.

Hy tế của Đức Kitô hiện diện trên bàn thờ đem lại cho muôn thế hệ Kitô hữu khả năng được kết hợp với lễ dâng của Người. “Chúng ta tin rằng các linh hồn sẽ được hưởng nhiều ơn ích nếu chúng ta cầu cho họ khi Đức Kitô, Chiên Hy Tế cực thánh cực trọng đang hiện diện… Khi khẩn cầu cho những người đã an giấc, dù họ còn là tội nhân, chúng ta đã dâng lên Thiên Chúa chính Đức Kitô, Đấng đã hiến mình vì tội lỗi chúng ta, để Người giao hòa họ và chúng ta với Thiên Chúa, Đấng yêu thương con người” (Thánh Syrilô Giám Mục Giêrusalem).

Dâng thánh lễ là chúng ta chúc tụng , cảm tạ Thiên Chúa, và cũng là đền tội và xin ơn thánh hoá nhân loại.

II – CHÚA GIÊSU NÓI TRONG THÁNH LỄ

Phụng Vụ Lời Chúa bắt đầu từ Bài Đọc I cho đến hết Lời Nguyện Tín Hữu :

1* Các bài đọc Thánh Kinh :

Trong thánh lễ có hai hoặc ba bài đọc Thánh Kinh, bài đọc 1 thường rút ra từ “các sách ngôn sứ” (Cựu Ước), bài đọc 2 từ “ký ức của các tông đồ” (các thư Tân Ước), và bài đọc cuối bao giờ cũng rút ra từ một trong 4 sách Phúc Âm.

Bộ bài đọc gồm một chu kỳ 3 năm (năm A, B, C) cho các ngày Chúa Nhật và một chu kỳ 2 năm (năm chẵn và năm lẻ) cho các ngày trong tuần. Mục đích của các chu kỳ này là để các tín hữu có thể nghe được hầu hết các bản văn Thánh Kinh quan trọng trong kỳ hạn làø 3 hoặc 2 năm.

2* Đáp Ca :

Sau khi lắng nghe Lời Chúa (bài đọc 1), chúng ta đáp lại Lời Chúa bằng chính Lời Chúa là các Thánh Vịnh (Thánh Vịnh là một cuốn Sách Thánh trong số 73 cuốn của bộ Thánh Kinh). Dùng chính Lời Chúa để nói chuyện với Chúa là xứng đáng và vui lòng Chúa nhất. Vì thế Phụng Vụ buộc bài hát đáp ca phải lấy ý từ Thánh Vịnh. Trước khi công bố bài Tin Mừng có lời tung hô Ha-lê-lu-ia để ca ngợi Thiên Chúa.

3* Tin Mừng và giảng giải :

Cao điểm của việc công bố Lời Chúa là bài Phúc Âm vì đây chính là Lời Chúa Kitô nói với chúng ta nên mọi người đứng để nghe đọc. Trước đó mọi người còn đáp: “Lạy Chúa, vinh danh Chúa”, đồng thời ghi 3 dấu thánh giá : trên trán để xin Chúa mở trí cho hiểu Lời Chúa, trên môi để xin Chúa mở miệng nói Lời Chúa, và trên ngực để xin Chúa mở lòng yêu mến Lời Chúa. Thừa tác viên công bố Tin Mừng phải là Phó Tế hay Linh Mục.

Chỉ những người có chức thánh mới được quyền giảng dạy trong Phụng Vụ. Nội dung bài giảng thường là dẫn giải Lời Chúa để áp dụng vào đời sống, hoặc nói lên ý nghĩa ngày lễ, việc cử hành…

4* Kinh Tin Kính :

Nguyên thủy là lời tuyên tín trong phép Rửa, vì thế kinh Tin Kính đọc ở số ít, muốn nói là chính tôi tin và tôi đang tuyên xưng trước mặt mọi người nên không dùng từ “con” như vẫn nói với Chúa. AMEN là muốn nói ‘Tôi tin như những điều vừa tuyên xưng’.

5* Lời nguyện tín hữu :

Đây là lời nguyện đại đồng của toàn thể tín hữu đang hiện diện, chứ không phải của riêng giáo dân hay giáo sĩ. Có 4 ý nguyện chính được xướng lên để gợi ý cầu cho Hội Thánh, cho thế giới, cho một hạng người, và cuối cùng cho cộng đoàn đang hiện diện. Mọi người cùng hiệp lời cầu nguyện theo ý chỉ đó bằng câu: “Xin Chúa nhận lời chúng con”.

III – CHÚA GIÊSU DÂNG MÌNH TRONG THÁNH LỄ

Phụng vụ Thánh Thể gồm ba bước: chuẩn bị, hiến tế và hiệp lễ.

1* Chuẩn bị lễ vật :

Phần này không gọi là dâng lễ như xưa nữa nhưng là trình bày lễ vật, vì dâng có nghĩa là hiến tế, mà việc hiến tế chỉ thực hiện trong Kinh Tạ Ơn. Thánh lễ là dâng lễ vật nhưng lễ vật là Chúa Kitô dưới hình bánh và rượu. Hơn nữa, lúc này bánh rượu chưa trở thành Mình và Máu Chúa nên chưa thể dâng lễ. Bàn thờ là nơi tế lễ, tượng trưng cho Chúa Kitô nên chúng ta phải cúi đầu chào Bàn Thờ.

Trọng tâm và tuyệt đỉnh của toàn bộ cử hành thánh lễ là Kinh Tạ Ơn khi toàn thể Hội Thánh kết hiệp với Chúa Kitô tuyên xưng kỳ công của Thiên Chúa và dâng hy tế.

“Khi cử hành bí tích Thánh Thể, Hội Thánh tưởng nhớ cuộc vượt qua của Đức Kitô; lúc đó, cuộc Vượt qua này trở nên hiện diện giữa cộng đoàn, vì lễ tế của Đức Kitô trên thập giá chỉ dâng một lần là đủ và luôn luôn sống động để đem lại ơn cứu độ” (GLHTCG 1364).

Thánh lễ là một hy tế vì là lễ tưởng niệm cuộc Vượt qua của Đức Kitô, và là hy tế độc nhất và độc hữu của Chúa Giêsu đã được dâng một lần thay cho tất cả. Chúng ta không bao giờ làm lại nữa và cũng chẳng bao giờ có thể làm lại được. Hành vi dâng lễ của Chúa Giêsu ngày xưa bây giờ đi vào không gian và thời gian của ta cách mầu nhiệm nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần. Có hàng triệu thánh lễ nhưng vẫn chỉ là một hy lễ duy nhất đã dâng bây giờ đi vào đời sống chúng ta.

Tóm lại, Thánh lễ là một hy tế vì hiện tại hóa hy tế thập giá, vì tưởng niệm và ban phát hiệu quả của hy tế thập giá Đức Kitô.

3* Nghi thức hiệp lễ :

Đây chính là việc bẻ Bánh ra làm nhiều phần để chia cho nhau và muốn nói rằng chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ chia sẻ một bánh sự sống là Đức Kitô, cũng như chúng ta tuy nhiều nhưng phải hiệp nhất nên một thân thể là Đức Kitô.

Rước lễ nhằm mục đích kết hiệp với Chúa Giêsu để chính Người trở thành của ăn thức uống thiêng liêng cho chúng ta cho đến khi được kết hiệp vĩnh viễn ở trên trời. Bởi thế, sau khi Rước Lễ phải chăm chú cầu nguyện, tạ ơn Chúa.

Thánh lễ Tạ Ơn được hiến dâng cho mọi người nhưng chỉ sinh hoa kết quả nơi những ai liên kết với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô với lòng tin, cậy, mến; và thánh lễ có ích lợi cho chúng ta nhiều hay ít tùy theo chất lượng lòng đạïo đức của mỗi người.

CẦU NGUYỆN :

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Đấng chịu chết trên thập giá, không phải chỉ là người Do Thái đóng đinh Chúa, song mỗi lần con chìm đắm trong tội là con gây thương tích cho Chúa. Tuy nhiên chính hy lễ thập giá của Chúa xoá bỏ tội lỗi của con trong bí tích Thánh Tẩy mà con sắp lãnh nhận. Con xin dâng lời chúc tụng tạ ơn Chúa.

TÓM LƯỢC :

1* Thánh Lễ là gì ?

– Thánh Lễ là việc Chúa Giêsu dâng mình cho Chúa Cha qua hy tế thập giá để tạ ơn và cầu xin ơn tha tội cho nhân loại.

2* Chúa Giêsu thiết lập Thánh Lễ khi nào ?

– Chúa Giêsu thiết lập Thánh Lễ trong bữa tiệc ly, khi Người cầm lấy bánh và rượu dâng lời tạ ơn rồi phân phát cho các tông đồ, và truyền dạy các ông làm việc ấy mà tưởng nhớ đến Người.

3* Chúa Giêsu nói với chúng ta lúc nào trong Thánh Lễ ?

– Chúa Giêsu nói với chúng ta trong phần Phụng Vụ Lời Chúa qua các bài đọc Thánh Kinh.

4* Chúa Giêsu dâng mình lúc nào trong Thánh Lễ ?

– Chúa Giêsu dâng mình trong phần Phụng Vụ Thánh Thể khi linh mục đọc kinh Tạ Ơn biến đổi bánh và rượu trở thành Mình Máu Thánh Chúa.

5* Chúng ta lãnh nhận bí tích Thánh Thể lúc nào ?

– Trong nghi thức hiệp lễ, khi chúng ta lên Rước Lễ là nhận lãnh Thánh Thể Chúa Kitô dưới hình bánh và rượu.

QUYẾT TÂM:

Ý thức tầm quan trọng của Thánh Lễ trong việc thánh hoá đời sống, tôi tập tham dự Thánh Lễ một cách nghiêm trang sốt sắng

Tại Sao Tờ “Người Công Giáo Việt Nam” Lại Xuyên Tạc Thơ Linh Mục Võ Thanh Tâm?

Bài thơ “Hạnh phúc Người Công giáo” của Linh mục F.X Võ Thanh Tâm đã được sáng tác cách đây tròn bốn chục năm (3/1968). Qua thời gian dài, bài thơ đã đi vào lòng nhiều lớp người từng câu, từng chữ nói lên niềm tự hào của Người Công giáo về đức tin của mình, nói lên niềm tin vững chắc vào một Giáo hội Hiệp nhất toàn cầu như lời tâm sự của tác giả: “Đối với tôi, là một Kitô hữu đồng thời là một linh mục thì thơ còn là bài suy niệm, là hương cầu nguyện dâng lên trước tòa Thiên Chúa và Mẹ nhân hiền, là tiếng hát ngợi khen công trình của Đấng Tạo Hóa, là những lời hay ý đẹp của lý tưởng Công giáo đem trao đổi với anh em, là cách phản ứng của một tâm hồn có đức tin trước những biến cố của cuộc đời…”

Nhưng khi bài thơ đến tờ báo “Người Công giáo Việt Nam” thì bị cắt xén, sửa đổi không thương tiếc. Điều đáng nói ở đây, là việc cắt xén, sửa chữa bài thơ theo đúng não trạng kiểm duyệt, cắt cúp không cần biết nó là gì và ý kiến tác giả cũng như vấn đề bản quyền ra sao.

Cầm trên tay tờ báo “Người Công giáo Việt Nam” đọc bài thơ đã đăng, bỏ qua chuyện sai sót do trình bày cẩu thả, thừa tiêu đề, sai chính tả thể hiện sự không mấy tôn trọng tác giả và tác phẩm, thì còn bị cắt xén đến 28 câu, sửa chữa hai câu.

Thoạt nhìn, người ta cứ nghĩ chắc bài thơ dài quá, đăng tốn đất nên “Người Công giáo Việt Nam” đã cắt bớt, chỉ để lại một phần và tên Linh mục Tổng Đại diện để điểm tô cho trang báo mà thôi.

Nhưng đọc kỹ hơn một tý, mới thấy được việc cắt xén đó không bình thường. Đặc biệt khi đọc đến hai câu thơ bị sửa chữa người ta mới thấy việc cắt xén với dụng ý và mục đích khá rõ ràng.

Trong đoạn thơ bị cắt bỏ, có những câu thơ nói lên lòng tự hào của người Công giáo thông công hiệp nhất với Giáo hội Toàn cầu như sau: … Lá cờ vàng trắng đưa tay yêu vẫy mãi Trên cột cờ ngốt gió cạnh lầu chuông Những chiếc băng duyên dáng vắt qua đường Những bái hạ nến hoa lừng trước ngõ Mùi hương trầm bay phảng phất theo gió Tiếng pháo rền theo nhịp trống chiêng đưa … Trên lưng trâu cúi liếm cỏ bên đường Vẫn nghe đọc Năm sự mừng kính Mẹ. Trong xà lim vẫn có người se sẽ Hát Salve* cho vợi bớt đắng cay … Và hai câu thơ nguyên tác:

Đã bị (được) đổi thành:

Nguyên nhân nào phải cắt và sửa?

Để tìm hiểu căn nguyên của việc này, tưởng cũng cần nói lên xuất xứ của tờ báo “Người Công giáo Việt Nam” ra sao, họ đang đại diện cho ai.

Ở Việt Nam, những ngày sau khi đất nước vào tay những người Cộng sản, một Giáo hội Công giáo thông công, hiệp nhất và thuần phục Đức Giáo Hoàng là một điều khó chấp nhận. Dù trong một văn bản, ông Hồ Chí Minh đã nói việc quan hệ giữa Công giáo Việt Nam với Vatican là chuyện nội bộ tôn giáo. Nhà nước đã có những động thái để có thể có một giáo hội quốc doanh tự trị kiểu Giáo hội Công giáo quốc doanh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Ngày 11.3.1955 Mặt Trận Tổ Quốc – Một tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cho triệu tập một Đại hội Đại biểu Công giáo tại Hà Nội để thành lập một tổ chức liên kết người Công giáo miền Bắc. Các đại biểu tham dự đại hội đều do Mặt trận Tổ quốc chỉ định. Đại hội đã quyết định thành lập “Ủy Ban Liên lạc Công giáo yêu Tổ quốc và Hòa bình” và bầu linh mục Vũ Xuân Kỷ làm Chủ tịch, linh mục Hồ Thành Biên làm Phó Chủ tịch. Ba linh mục khác là Nguyễn Thế Vịnh, Phạm Quang Phước và Võ Thành Trinh làm ủy viên trung ương.

Tổ chức đó tồn tại hơn 50 năm qua, qua nhiều kỳ đại hội, sau khi đất nước thống nhất đến nay là Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam.

Đó là một tổ chức được nhà nước lập nên, hoạt động bằng ngân sách nhà nước tức là tiền thuế đóng góp của dân. Nhưng nó hoạt động thế nào, thì người Công giáo Việt Nam hầu như không mấy quan tâm. Tác dụng của nó đến đâu đối với người Công giáo Việt Nam, thì chắc chỉ có mấy vị trong Ủy ban biết với nhau. Chỉ biết rằng, gần đây, cái Ủy ban đó được nhận huân chương Hồ Chí Minh do Đảng và Nhà nước trao tặng vì “Tín đồ Công giáo hiện chiếm khoảng 7% dân số, đã và đang tích cực tham gia các hoạt động từ thiện trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, xây dựng nhà tình nghĩa” .

Phải chăng, Nhà nước muốn dựng lên tổ chức này, chỉ nhằm để nó biến những giáo dân Công giáo thành những con bò kéo xe thay cho những nhiệm vụ xã hội thuộc trách nhiệm Nhà nước như y tế, giáo dục và từ thiện? Hay còn mục đích nào khác mà không tiện nói ra?

Thực chất, đó là một tổ chức treo đầu dê bán thịt chó. Họ được dựng lên, sống bằng tiền của dân để hàng năm họp và gửi thư chúc mừng Noel, để nhận những thành quả của Người Công giáo Việt Nam là những thành tích của mình để lĩnh huân chương – Huân chương cũng có tiền.

Trong thực tế, những thành quả mà người Công giáo đã đóng góp cho xã hội Việt Nam bằng tất cả tấm lòng, được xã hội ghi nhận, được thực tế kiểm nghiệm và tin tưởng, là thành quả của một quá trình sống đạo kiên vững, một quá trình giáo dục và rèn luyện đức tin cho người Công giáo của Hàng giáo phẩm Việt Nam vượt qua muôn ngàn sự khó khăn.

Nhưng, tất cả những điều đó, đ ã được cái Ủy ban sống bằng tiền dân kia báo cáo lĩnh thưởng của Đảng và Nhà nước.

Cái ủy ban đó đã được dựng lên, đứng đầu là những vị “chức sắc Công giáo”, các linh mục được gắn nhãn “quốc doanh” được tận dụng tối đa, mà nhiều vị trong đó, không hiểu vì lý do gì, đã tích cực hoặc “phải tích cực” để chống chèo cho nó tồn tại mà không hiểu để làm gì?

Phải chăng, cũng có những người tu hành nhưng chưa hết cái tham, sân, si nên muốn trở nên nổi tiếng? Hay họ cũng được hưởng những đặc ân mà các linh mục khác không có? Đã có những tấm gương nhãn tiền của các vị chức sắc về tư cách, đời sống của mình khi “được” làm tôi hai chúa. Đã có những tấm gương mù, gương xấu cho giáo dân nhìn vào mà coi khinh. Họ sẽ tồn tại với lịch sử Giáo hội – Lịch sử của một giai đoạn đau thương.

Tất nhiên, cũng có nhiều linh mục, nhiều người Công giáo chân chính khác bất đắc dĩ “được” vào đó. Bởi nếu không, việc đi lại, phục vụ và những điều kiện tối thiểu sẽ gặp những khó khăn rất lớn, hoặc họ không muốn luôn bị cầm cố trong bốn bức tường nhà xứ của thời sắt máu nhất của Cộng sản. Vụ Đông Yên thuộc Giáo phận Vinh năm 1969 với linh mục Nguyễn Hồng Giáo là một điển hình cho vấn đề này.

Cái khó hiểu, là thời đó đã qua, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều người hăng say cống hiến trong cái Ủy ban đó, dù với người Công giáo Việt Nam, nó như một cái thây ma đã chết từ khi mới lọt lòng.

Vì có cái Ủy ban kia, một tờ báo được lập nên để tạo ra thanh thế, tờ báo “Chính Nghĩa” ngày trước, tiền thân của tờ báo “Người Công giáo Việt Nam” ngày nay – Cơ quan của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam.

Một tờ báo mà người Công giáo Việt Nam không có tiếng nói của mình. Những bài viết, những hình ảnh trong đó đa số cũng chỉ ca ngợi đất nước tươi đẹp, truyền thống cách mạng kiên cường, các chính sách của Đảng, Nhà nước, những bài viết bàn về giáo dục giới tính… và may ra có những bài viết của các “giáo gian” kiểu như “Phùng Nhân Quốc” được đăng là nhiều.

Phải chăng, với tờ báo “Người Công giáo Việt Nam” những cuộc cầu nguyện rầm rộ, những đêm dài rét mướt trên Tòa Khâm sứ, những vụ việc ở Hà Đông, Thái Hà, ở nhiều nơi khác nữa như Huế, La Vang, Sài Gòn, Dòng Thánh Giuse Nha Trang… không phải của người Công giáo Việt Nam? mà là của “các thế lực thù địch” với họ?

“Người Công giáo Việt Nam”, tờ báo của Ủy ban Đoàn kết Công giáo – một sản phẩm được sinh ra nhằm một mục đích xa lạ với người Công giáo. Vì đâu phải chỉ khi có nó, người Công giáo mới đoàn kết? Giáo hội Việt Nam gần 500 năm nay, luôn đồng hành với dân tộc, với đất nước, bao người Công giáo đã ngã xuống vì đất nước này, dân tộc này qua các thời kỳ khác nhau, đâu cần phải có cái Ủy ban đó mới yêu nước, yêu Hòa bình?

Những mỹ từ đẹp đẽ đó, thực chất là để che đậy một ý đồ ngay từ khi manh nha là lập nên một giáo hội quốc doanh tự trị, vì vậy, việc không muốn hiệp thông, tuân phục Tòa thánh Vatican là chuyện đương nhiên.

Đến đây, chắc bạn đọc đã hiểu: Vì sao “Người Công giáo Việt Nam” đã sửa thơ của Linh mục Tổng Đại diện Giáo phận Vinh F.X. Võ Thanh Tâm. Vì sao những danh từ Vatican, La Mã đã không được sử dụng mà thay bằng từ khác, vì sao những “cờ vàng trắng” , những kẻ “trong xà lim” không được xuất hiện trên “Người Công giáo Việt Nam”.

Đơn giản là vì Vatican, La Mã là những địa danh xa lạ với “Người Công giáo Việt Nam” nên không được phép nhắc đến. Vì “Ở Việt Nam không có tù nhân tôn giáo, chỉ có những kẻ vi phạm pháp luật bị bắt giam” như lời các quan chức của Đảng và Nhà nước thường xuyên tuyên bố. Vậy thì làm gì có hát Salve trong xà lim và xà lim của nhà tù Cộng sản làm gì có “đắng cay”? Vì việc thờ phụng chỉ được thực hiện trong các khuôn viên của đất đai tôn giáo thì làm gì có chuyện cổ vũ những chiếc băng vắt qua đường, nến hoa lừng trước ngõ?. Nói vậy hóa ra việc cầu nguyện của giáo dân Hà Nội bên lề đường khi Tòa Khâm sứ bị khóa kín vừa xẩy ra là chuyện bình thường trong sinh hoạt tôn giáo sao? Phải nói đó là “Vi phạm pháp luật” chứ? Nói vậy hóa ra trái ngược với đường lối tuyên truyền của Đảng sao?

Vì vậy, mà hiển nhiên cần phải cắt, phải sửa, kệ tác phẩm què cụt, biến tướng, kệ tác giả bất bình.

Điều cần nói thêm là khi được hỏi “Vì sao biết đó là một tờ báo chỉ mạo danh người Công giáo, mà Cha lại còn gửi bài cho họ”? tôi nhận được câu trả lời: “Để những hạt giống tốt được cấy trồng cho bớt đi những giống cỏ dại chiếm đất trên đó”?

Có lẽ Linh mục Tổng đại diện đã nhầm khi đặt mục đích của mình?

Bởi với ngân sách nhà nước cấp, thì đất đai tha hồ để mà tô vẽ. Bởi khi được nuôi dưỡng bằng tiền của dân, thì ngoài “Người Công giáo Việt Nam” còn có thêm “Công giáo và dân tộc” và chắc sẽ còn có thêm “Công giáo và Cách mạng Xã hội chủ nghĩa” rồi “Công giáo và Chủ nghĩa Mác – Lê nin vô địch” hoặc “Người Linh mục Cộng sản” cũng không là chuyện lạ.

Bởi tất cả báo chí Việt Nam hiện nay đều đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản và mới đây Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố cấm tuyệt đối việc tư nhân hóa báo chí. Cũng như ông Bộ trưởng Thông tin – Truyền thông Lê Doãn Hợp mới đây đã tuyên bố đưa người nắm chức Tổng biên tập trong các tờ báo để báo chí phải “đi đúng lề đường bên phải” do Đảng đã chỉ ra.

Hà Nội, Ngày 18 tháng 2 năm 2008 J.B. Nguyễn Hữu Vinh

Tôi sung sướng được làm người Công giáo Tiếng chuông lành đã ru ẵm hồn tôiNhư ngày xưa khi mới bước vào đời Cánh tay mẹ ấp yêu từng giây phút.

Tôi sung sướng được làm người Công giáo Sống trong tàu Giáo Hội giữa đêm sâu, Khắp mười phương đâu cũng có bạn sầu Đâu cũng có bóng thánh đường quen thuộc, Có lễ sáng, chầu chiều, tháng hoa, cuộc rước, Có đức tin ngời chói ngọc kim cương Có bí tích Thánh Thể suối tình thương Có bản nhạc Te-Deum hùng dũng Có những khuôn mặt thoạt nhìn đã nghe ấm cúng Luồn qua da thịt thấu tim gan.

Có những người tu sĩ quý hơn vàng Hy sinh cả cuộc đời vì nghĩa lớn Có những tâm hồn không vương tí bợn Thơm nhân đức và sáng đẹp hơn trăng Có những khối óc không mấy kẻ sánh bằng Tìm đến Chúa sau những ngày dông bão.

Tháng 3 năm 1968 http://vietcatholic.org/News/Html/52440.htm http://www.conggiaovietnam.net/tacgia/JB.HuuVinh/toakhamsukhanangnaoseden.htm

Ngày Tiết Thanh Minh – Đọc Lại “Thanh Minh” Của Đỗ Mục

Thanh Minh là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Đỗ Mục, một thi gia thời vãn Đường. Ông cùng với người cùng thời là Lý Thương Ẩn được đời sau xưng tụng là Tiểu Lý – Đỗ. Gọi để phân biệt với Lý – Đỗ, thi tiên và thi thánh thời thịnh Đường Lý Bạch và Đỗ Phủ. Qua bài phú Cung A Phòng (A Phòng Cung Phú) của ông, người đọc dễ nhận thấy ngòi bút ông vạch rõ thói hoang dâm, phung phí hưởng lạc của giới cầm quyền thời bấy giờ. Đọc qua bài thơ Thuyền Đậu Bến Tần Hoài (Bạc Tần Hoài) cũng dễ nhận ra trong ông nỗi ưu thời mẫn thế, lòng ray rức trước cảnh người đời hát xướng ăn chơi, lơ mơ trước mối hờn nước mất (thương nữ bất tri vong quốc hận / cách giang do xướng Hậu đình hoa). Nhưng với Thanh Minh, có thể có nhiều người đã chưa thấy rõ nỗi đau đứt ruột của ông trước tình đời.

Giai thoại văn chương Việt Nam còn ghi truyền chuyện các cụ nhà ta trước đây đã ngắt câu, biến bài thơ Thanh Minh của ông thành một bài ngũ ngôn tứ tuyệt.

Nguyên văn bài Thanh Minh của Đỗ Mục :

Thanh minh thời tiết vũ phân phân Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn Tá vấn tửu gia hà xứ hữu Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.

Tiết thanh minh trời mưa rơi lất phất Người còn đi trên đường buồn muốn đứt ruột Ướm hỏi thử nơi nào có quán rượu Trẻ chăn trâu chỉ về phía xa xóm Hạnh Hoa

Các cụ cho rằng bài thơ trên rườm rà, thừa chữ. Thừa ít nhất 2 chữ mỗi câu. Các cụ lý luận rằng : “Thời tiết vũ phân phân” đã đủ diễn tả cảnh mưa bay, không nhất thiết phải của tiết Thanh Minh. “Hành nhân dục đoạn hồn” cũng đã đủ nghĩa, cần chi có 2 chữ Lộ Thượng, đi trên đường chớ không lẽ đi dưới nước. “Tửu gia hà xứ hữu” vốn đã là câu hỏi, thêm Tá vấn là thừa ! “Dao chỉ Hạnh Hoa thôn”, ai chỉ cũng được, lẽ gì phải nói rõ Mục đồng, đứa trẻ chăn trâu kia mới chỉ cho cái quán rượu… Thế là các cụ ra tay ngắt phứt những chữ mà các cụ cho là thừa kia để thành một bài mới :

Thời tiết vũ phân phân Hành nhân dục đoạn hồn Tửu gia hà xứ hữu Dao chỉ Hạnh Hoa thôn.

Trời mưa bay lất phất Người đi lạnh mất hồn Hỏi nơi nào bán rượu Được chỉ Hạnh Hoa thôn

Xem ra cái bài mới nầy không phải là không có nghĩa, đọc thấy cũng lý thú. Nhưng Giai thoại ghi lại chuyện vui chỉ để mà vui, gượng gán bài thơ chỉ để minh chứng cho tinh thần không nên quá lệ thuộc cổ nhân của các cụ. Thật ra với tiêu đề bài thơ là Thanh Minh, Đỗ Mục đã trải nỗi lòng lúc tiết Thanh Minh, lấy bối cảnh ngày tiết Thanh Minh mà xét thì những gì mà các cụ cho là thừa kia chẳng thừa một chút nào.

Trong tâm thức của người Hoa cũng như người Việt xưa, tiết Thanh Minh được xem là ngày Tết của cõi Âm, cũng là ngày hội du xuân của nam thanh nữ tú sau rét mướt mùa Đông, sau tháng ngày sang Xuân mà tiết trời vẫn còn âm u, ướt át (Vũ Thủy) :

Thanh Minh trong tiết tháng ba Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh Gần xa nô nức yến anh Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân … (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Đến tiết Thanh Minh – tiết khí trong sáng trời quang mây tạnh, lúc nầy cỏ non đã xanh dợn chân trời, là lúc mà cháu con phải lo tu tảo, thắp nén nhang cho mộ phần Tiên tổ. Thế ấy thì trong Thanh Minh của Đỗ Mục, đã tiết Thanh Minh rồi mà mưa vẫn còn lất phất bay, người vẫn còn đang ở trên đường (Lộ thượng), còn xa nhà, hỏi sao người chẳng vương phải nỗi buồn muốn đứt ruột. Thiếu 2 chữ Thanh Minh ở câu đầu (câu khai), thiếu 2 chữ Lộ thượng ở câu 2 (câu thừa), là không thấy sắc nét nỗi đau của khách hữu tình không có mặt ở nhà trong ngày Tết cõi Âm. Nỗi đau mà Nguyễn Trãi đã nói rõ hơn trong bài thất ngôn bát cú Thanh Minh của ông :

Nhất tòng luân lạc tha hương khứ, Khuất chỉ thanh minh kỷ độ qua. Thiên lý phần doanh vi bái tảo, Thập niên thân cựu tẫn tiêu ma …

Từ khi lưu lạc quê người đến nay, Bấm đốt ngón tay tính ra tiết thanh minh đã mấy lần rồi. Xa nhà nghìn dặm không săn sóc phần mộ tổ tiên được, Mười năm qua bà con thân thích đã tiêu tán hết …

Hiện nay dù ở xa cố quốc, một số người Hoa ở Việt Nam vẫn còn giữ được phong tục tu tảo mộ phần Tiên tổ trong ngày tiết Thanh Minh. Nhưng một số khác như người Hải Nam lại lấy ngày tiết Đông Chí làm ngày tu tảo, giống như người Việt, bộ tộc Lạc Việt của tộc Bách Việt phía Nam Trường Giang từ lâu nay vẫn còn giữ được cách thế sống tự nghìn xưa. Tháng chạp là tháng sau tiết Đông Chí, người Việt thường chạp mả Ông bà để Ông bà thảnh thơi về ăn Tết Nguyên Đán với cháu con. Đến tháng ba, không những đi thăm phần mộ Tổ tiên sau tháng ngày tiết trời ướt át, hỗn độn cỏ lau, người Việt còn mang cuốc rựa sang sửa những mả mồ lâu nay không có người nhang khói. Mỗi xóm của làng quê xưa Việt Nam trước đây đều có Miếu Thanh Minh. Đến ngày tiết Thanh Minh cả xóm cùng nhau ra công tu tảo những mộ phần vô chủ trong xóm, lấy ngày nầy làm ngày cúng ở Miếu Thanh Minh, Tết của những người Âm thế. Hội đạp thanh – dẫm cỏ xanh của người Việt không mang tính chất nam thanh nữ tú du xuân mà cả làng ra sức với nhau thể hiện ý thức cộng đồng, tình làng nghĩa xóm.

Mang ý nghĩa ngày Thanh Minh của tộc Bách Việt nầy mà đọc lại Thanh Minh của Đỗ Mục thì sẽ đứt đoạn từng khúc ruột, nói tới chi là thấy muốn đứt ruột !

Thử hình dung cảnh người còn xa nhà của Đỗ Mục đứng cạnh bãi tha ma bên vệ đường, ngày Thanh Minh mà những mả mồ ở đây đều hoang lạnh, đầy cỏ lau… xem ra chẳng khác nào cảnh Thúy Kiều du xuân gặp mộ Đạm Tiên :

Sè sè nấm đất bên đàng Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh Rằng sao trong tiết Thanh Minh Mà đây hương khói vắng tanh thế mà …

Người còn ở trên đường của Đỗ Mục đã gặp Thúy Kiều của Nguyễn Du ở tấm lòng đối với tha nhân :

Trải bao thỏ lặn ác tà Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm Lòng đâu sẵn mối thương tâm Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa …

Mối thương tâm của Người còn ở trên đường không thể hiện ra ngoài đầm đầm châu sa như Thúy Kiều, mà ruột quặn từng cơn trước cảnh ngổn ngang mả mồ hoang lạnh, đây đó bò nhởn nhơ gặm cỏ cùng đôi đứa mục đồng. Chung quanh không một bóng ai, nơi đó đã không có người ra công thể hiện tình làng nghĩa xóm với những mộ phần vô chủ. Bỡi thế mới có chuyện mục đồng chỉ cho quán rượu chớ nơi đó có ai đâu mà chỉ. Ngữ cảnh từ 2 chữ Mục đồng ở câu 4 (câu kết – câu hợp) mới nói lên đủ cái hoang lạnh làm đứt đoạn lòng người trong Thanh Minh của Đỗ Mục. Mà ngữ cảnh đó có được là nhờ ở 2 chữ Tá vấn của câu 3 (câu chuyển). Chung quanh hoang tàn, lạnh lẽo, có phải người lữ khách muốn tìm nơi có rượu để sưởi lòng (!?) Hỏi nơi nào có quán rượu chỉ là mượn cớ hỏi (Tá vấn) để xem quanh đây có xóm có làng, người trong xóm trong làng có còn tình nghĩa với người nằm xuống không ai nhang khói (!?) Cay đắng một điều, thôn xóm dưới xa kia lại mang tên Hạnh Hoa, một cái tên gợi lên biết bao là thơ mộng.

Đường thi tứ tuyệt chỉ với 4 câu vẫn phải diễn ý đủ cấu trúc của một bài thơ xưa : khai – thừa – chuyển – hợp. Cái thần câu chuyển của Đỗ Mục không những đã làm rõ hơn không gian ngày Thanh Minh ở câu thừa mà còn làm cho câu kết hiển hiện nỗi cay đắng tình đời. Lo cho người Âm thế, ý thức chúng sinh sẽ làm cho người Dương thế biết chia sẻ, đùm bọc nhau hơn. Khi con người sống chỉ biết cho riêng mình không còn mang tính cộng đồng làng xóm có phải chăng tình người đã phân hóa (!?). Có phải chăng đây là nỗi đau đứt ruột của Tiểu Đỗ trong bài thất ngôn tứ tuyệt Thanh Minh (!?)

Tiết Thanh Minh Giáp Ngọ PHAN TRƯỜNG NGHỊ

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bài Chia Sẻ Lời Chúa Trong Thánh Lễ Tạ Ơn Của Tân Linh Mục Giuse Nguyễn Thanh Tùng Tại Trà Kiệu 06/8/2015 trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!