Đề Xuất 2/2023 # 3 Mẫu Mở Bài Hay Cho Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng) # Top 8 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # 3 Mẫu Mở Bài Hay Cho Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng) # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về 3 Mẫu Mở Bài Hay Cho Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng) mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chúng ta cùng tìm hiểu 3 mẫu mở bài hay cho bài thơ Tây tiến (Quang Dũng), đây là những dòng mở bài được cô động hay nhất mà các em có thể sử dụng.

3 Cách mở bài Tây tiến (Quang Dũng)

Mở bài Tây tiến (Quang Dũng) hay nhất số 1:

Quang Dũng là một hồn thơ chiến sĩ thời máu lửa oai hùng!

“Tây Tiến” là bài thơ của người lính nói về người lính – anh Vệ quốc quân thời 9 năm kháng chiến chống Pháp. Quang Dũng vừa cầm sung đánh giặc vừa làm thơ nên thơ ông rất chân thực và hào sảng, dư ba. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948, khi cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc bước sang năm thứ ba, chặng đường kháng chiến còn đầy thử thách gian lao.

“Tây Tiến” nói lên nỗi nhớ và niềm tự hào của Quang Dũng về đồng đội thân yêu, cùng vào sinh ra tử một thời trận mạc.

Mở đầu bài thơ là một tiếng gọi làm nao lòng người. Nỗi nhớ thương, nỗi nhớ như nén chặt, bỗng trào dâng:

“Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”.

Mở bài Tây tiến (Quang Dũng) hay nhất số 2:

Quang Dũng một gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến Việt Nam. Tác phẩm ông để lại không nhiều, nhưng gây ấn tượng sâu sắc, đậm nét trong lòng bạn đọc, đặc biết là tác phẩm Tây Tiến. Người đọc ngoài ấn tượng về khung cảnh núi non hùng vĩ, vừa mơ mộng của nơi núi rừng còn ấn tượng bởi hình tượng người lính kiên cường, anh dũng, lí tưởng sống cao đẹp, sẵn sáng hi sinh cho đất nước. Hình tượng người lính trong tác phẩm Tây Tiến mang một vẻ đẹp rất riêng, rất lạ, đặc trưng cho phong cách thơ Quang Dũng.

Tây Tiến được sáng tác năm 1948, tại Phù Lư Chanh, sau khi nhà thơ dời binh đoàn Tây Tiến để nhận nhiệm vụ khác. Chính hoàn cảnh sáng tác này đã cho thấy toàn bộ tác phẩm thấm đẫm trong nõi nhớ vừa tha thiết vừa thiêng liêng, khắc khoải.

Mở bài Tây tiến (Quang Dũng) hay nhất số 3:

Quang Dũng là nhà thơ – chiến sĩ, từng cầm súng đánh giặc và làm thơ thời kháng chiến chống Pháp. Năm 1948, tại Phù Lưu Chanh (Hà Tây cũ), ông viết bài thơ “Tây Tiến” nói lên tình thương nhớ chiến trường miền Tây, nhớ đồng đội thân yêu một thời trận mạc. Mở đầu bài thơ là một lời nhắn gọi biết bao thiết tha bồi hồi:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi với”.

Bài thơ có 34 câu thơ thất ngôn, chia thành 4 đoạn, mỗi đoạn thơ là sự hồi tưởng bao kỉ niệm sâu sắc. Đây là đoạn thơ thứ hai có 8 câu mang vẻ đẹp như một bài hành nói về 2 nỗi nhớ: nhớ hội đuốc hoa và nhớ chiều sương Châu Mộc.

Hiện tại chúng tôi có hơn 25 nghìn bài văn mẫu các thể loại.

Kho tài liệu, đề thi học sinh giỏi các lớp vô cùng phong phú.

Mỗi ngày cập nhật hơn 100 đề thi chất lượng từ các website bán tài liệu lớn.

Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn 3 Bài Thơ Tây Tiến Quang Dũng

Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Bài làm :

Quang Dũng là nhà thơ chiến sĩ, ông viết rất hay về đồng đội thân yêu của mình , về núi rừng miền Tây một thời trận mạc đầy gian khổ hi sinh. Đây là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng , cũng là bài thơ hay nhất viết về anh Bộ đội cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp. Với bài thơ này,. Quang Dũng đã góp một thanh âm trong trẻo trong bản hòa ca ca ngợi vẻ đẹp của người lính, của con người và núi rừng miền Tây. Với nỗi nhớ và niềm tự hào tha thiết, Quang Dũng đã khắc họa thành công khí phách anh hùng và tâm hồn lãng mạn của người chiến sĩ trong hào khí nóng bỏng của chiến trường miền Tây :

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Bài thơ Tây Tiến được sáng tác năm 1948 tại Phù Lưu Chanh khi ông đã rời xa đơn vị cũ và đồng đội. Chất lãng mạn và tinh thần bi tráng thấm đượm trong từng lời thơ, trong từng hình tượng của bài tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ này. Hình tượng người lính được khắc họa bằng cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng , bút pháp lãng mạn được sử dụng rộng rãi nhằm phát huy cao độ trí tưởng tượng của độc giả. Ở đây nhà thơ đã sử dụng rộng rãi các yếu tố cường điệu phóng đại, các thủ pháp đối lập để đậm tô cái phi thường tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về đoàn binh Tây Tiến gian khổ vất vả song anh dũng hào hoa. Tinh thần bi tráng thể hiện bằng giọng điệu âm hưởng , màu sắc tráng lệ hào hùng khi viết về đoàn binh Tây Tiến trên cái nền vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hoang vu hiểm trở hùng vĩ dữ dội khác thường, vừa thơ mộng ấm áp của núi rừng và cũng duyên dáng mĩ lệ của con người Tây Bắc. Những người lính Tây Tiến trực tiếp xuất hiện với vẻ đẹp độc đáo kì lạ:

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của người lính Tây Tiến để khắc họa nên bức tượng đài tập thể . Không mọc tóc không phải là đoàn binh Tây Tiến không có tóc, không được tự nhiên ưu ái ban phát cho mái đầu xanh, là trường hợp ngoại lệ của con người trong xã hội, mà là vì hiện thực gian khổ đói rét bệnh tật sốt rét rừng đã làm cho các anh tiều tụy, hình hài rụng hết cả tóc . Và có lẽ do đoàn quân phải chiến đấu giáp lá cà với địch nên phải cắt trụi tóc, tránh đi điểm yếu của mình : Địch không túm được tóc (?). Lính ta so với lính địch hẳn là nhỏ bé hơn, có cắt tóc đi mới phát huy được sức mạnh của mình một cách triệt để. Như vậy cụm từ ” không mọc tóc” vừa nhấn mạnh được hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh vừa tô đậm được sự hi sinh cao cả của những chiến sĩ Tây Tiến vì cách mạng. ” Không mọc tóc đâu phải là hình ảnh li kì giật gân, sản phẩm của trí tưởng tượng bịa đặt mà là một sự thực nghiệt ngã, một sự hi sinh có thực của người lính Tây Tiến. Hiện thực người lính qua bút pháp cường điệu đã gây nên một ấn tượng khó quên bởi hình ảnh người lính được vẽ bằng những đường nét , những gam mầu rừng núi tạo nên vẻ đẹp cứng rắn gân guốc oai phong và dữ dội khác thường. Thực tế cái nghiệt ngã gian lao vất vả của chiến trường , của bệnh tật đã làm cho thân xác người lính tiều tụy tóc rụng , da xanh hòa lẫn vào màu của lá rừng.

Viết về anh Bộ đội cụ Hồ trong những năm kháng chiến chống Pháp , các tác giả thường nhắc đến bệnh sốt rét hiểm nghèo để khắc họa sự gian khổ hi sinh của người lính phải chịu đựng , Chính Hữu trong bài “Đồng chí” đã viết :

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi Nhà thơ Tố Hữu viết : Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ

Nhưng với nguồn cảm hứng lãng mạn bắt nguồn từ niềm lạc quan yêu cuộc sống nó đã chắp cánh cho tư tưởng bay bổng. Cho nên hình tượng người lính trở nên có vẻ đẹp khỏe khoắn mang dáng rừng thế núi, mang oai phong lẫm liệt như những con hổ nơi rừng thiêng. ” Dữ oai hùm là những nét chạm khắc tài tình làm nổi bật chí khí hiên ngang tinh thần quả cảm xung trận của các chiến sĩ Tây Tiến tương phản với không mọc tóc , quân xanh màu lá – cái hình hài không lấy gì đẹp .Giữ oai hùm là hình ảnh nói lên chí khí của người lính mang tính kế thừa và sáng tạo của Quang Dũng- Các chiến binh sát thát đời Trần: “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” ( “Thuật hoài” -Phạm Ngũ lão ), hay “Sĩ tốt kén người hùng hổ/Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh” ( “Bình Ngô Đại Cáo”- Nguyễn Trãi). Trên trận tuyến chống quân thù, thời đại nào cũng có những chiến sĩ” tì hổ” và ” dữ oai hùm” như thế đó !. Với niềm tự hào , Quang Dũng đã viết nên những câu thơ rất hay : “Quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Lấy cái thô cái mộc để tô đậm cái đẹp, cái dũng khí ẩn chứa trong tâm hồn người chiến sĩ . Những người lính Tây Tiến qua cái nhìn của Quang Dũng không phải là những người khổng lồ không tim. Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùm dữ dằn . Bề ngoài của họ là những tâm hồn, những trái tim tuổi trẻ rạo rực khao khát yêu thương vượt lên trên cái gian khổ ác liệt thiếu thốn bệnh tật mất mát đau thương … Muôn lần khó khăn thử thách họ vẫn có những giấc mộng đẹp.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Mộng và mơ gửi về hai phía biên cương và Hà Nội, nơi còn đầy bóng giặc . “Mắt trừng” gợi tả nét dữ dội oai phong lẫm liệt , cái cảnh giác tỉnh táo của người lính trong chiến trận ác liệt . Mộng qua biên giới- mộng tiêu diệt quân thù bảo vệ biên cương lập nên chiến công nêu cao truyền thống anh hùng của đoàn bình Tây Tiến.

Người lính Tây Tiến nhớ về Hà Nội theo cách riêng của mình, nỗi nhớ sâu sác mang nét lãng mạn hào hoa của người Hà Nội .Nó thật khác với nỗi nhớ của người lính xuất thân từ người nông dân. Trong bài “Đồng Chí” Chính Hữu viết:

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

Hay nỗi nhớ của người lính trong bài ” Nhớ” của Hồng Nguyễn: Nhớ người vợ trẻ “mòn chân bên cối gạo canh khuya”. Tình cảm ấy giống như một bóng cây xanh mát , một hồ nước ngọt trên đường hành quân đầy nắng lửa của người lính. Giữa chiến trường miền Tây vô cùng khốc liệt ấy nếu người lính không biết mơ mộng thi vị hóa cuộc sống vì mục đích cao xa hơn thì họ sẽ chết chìm trong hiện thực khắc nghiệt trước khi gục ngã vì súng đạn kẻ thù. Chất lãng mạn ấy là phẩm chất cần thiết để làm tăng thêm nghị lực sức mạnh vượt lên trên khó khăn thử thách nắm bắt thời cơ vận hội để chiến thắng. Những câu thơ đó xưa bị coi là “mộng rớt” thì nay lại là những câu thơ độc đáo. Mặt khác, những người lính Tây Tiến đặt mộng lập chiến công , mộng tiêu diệt quân thù bảo vệ biên cương lên trên mơ về dáng kiều thơm. Cả mộng và mơ đều đẹp nhưng phải chăng tác giả muốn nói những người lính Tây Tiến đặt nghĩa vụ trách nhiệm với tổ quốc lên trên những ước mơ thầm kín của mình.

Trong chiến tranh không thể không nói tới hi sinh mất mát, Quang Dũng cũng không che giấu sự thực đó: Đoàn binh Tây Tiến nhiều khi phối hợp tác chiến với quân đội Lào trên cả hai địa bàn Việt Lào. Nhiều chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại nơi biên cương xa xôi:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Tác giả sử dụng những từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng cổ kính khi nói về cái chết. “Rải rác” là biểu thị số ít nhưng ” rải rác biên cương” thì không phải là số ít nữa rồi. ” Mồ viễn xứ” gợi lên cái chết khủng khiếp , đậm chất bi hùng. Nếu đứng riêng lẻ thì câu thơ gợi ấn tượng buồn thảm đến vô cùng , nhưng từ cái buồn thảm ấy câu thơ sau đã nâng đỡ nó lên thành bị tráng bỏi nó nói được điều cốt lõi trong nhân cách của người lính. Câu thơ thể hiện thái độ tự nguyện cống hiến tuổi thanh xuân cho tổ quốc của những người lính trẻ Tây Tiến.Tuổi thanh xuân đẹp là thế, khát vọng thế ,mộng mơ là thế nhưng vẫn sẵn sàng sả thân , thật không có sự hi sinh nào cao cả hơn! Những người lính Tây Tiến ra chiến trường với quyết tâm ” Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Khi ngã xuống, họ được mai táng trong bộ quần áo của chính mình :

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Sự hi sinh nào cũng gợi cảm giác buồn đau tang thương, nhưng trong đoạn thơ này, ý thơ buồn mà không bi lụy. Cảm hứng thơ mỗi khi chìm vào bi thương lại được nâng đỡ bởi đôi cánh của lí tưởng , bằng tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy sự thực người lính gục ngã trên chiến trường không có lấy một mảnh chiếu che thân, tấm ván để khâm liệm qua cái nhìn của Quang Dũng lại được bao bọc trongn hững tấm áo bào sang trọng. Tác giả thật tinh tế khi sử dụng cụm từ ” anh về đất” để nói về sự hi sinh ấy. Câu thơ góp phần giảm nhẹ cái bi thương , đồng thời thể hiện niềm trân trọng yêu thương của đất nước, của đồng đội đối với những người đã ngã xuống. Quang Dũng nói về cái chết với những từ ngữ thật giản dị, mộc mạc mà thiêng liêng, giúp bình thường hóa, tự nhiên hóa cái chết theo đúng quan niệm của các chiến sĩ trong thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Người lính Tây Tiến tự nguyện chiến đấu với một lòng yêu nước nồng nàn, tình thần xả thân vì nghĩa lớn, giống như những tráng sĩ thuở xưa ” gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao”.

Cái bi tráng bi thương bị át hẳn trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Những người lính Tây Tiến ngã xuống đã nhận được sự cảm thông sâu sắc của thiên nhiên, của dòng sông Mã oai hùng. Dòng sông gầm lên khúc độc hành tiễn đưa linh hồn người lính về với đất mẹ. Đó là tiếng khóc của tự nhiên hay là sự phẫn nộ của tự nhiên? Dòng sông Mã gắn bó với đoàn binh Tây Tiến , để cho dòng sông ấy tấu lên khúc nhạc trầm hùng chính là cách mà nhà thơ đậm tô thêm tầm vóc phi thường của người lính, con người tương xứng với núi non, sông nước mênh mông. Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu , ngôn ngữ bình dị kết hợp với những từ Hán Việt làm nổi bật cái cao cả thiêng liêng, cái bình thường đậm tô cái anh hùng. Giọng điệu của đoạn thơ thể hiện thái độ kính cẩn, trân trọng của Quang Dũng trước sự hi sinh của đồng đội.

Có thể nói, đoạn thơ trên là đoạn thơ độc đáo nhất trong toàn bài. Hình tượng người lính Tây Tiến sống anh dũng chết vẻ vang được khắc họa bằng bút pháp lãng mạn đậm chất bi tráng. Đoạn thơ mãi mãi là bức tượng đài nghệ thuật độc đáo bi tráng in sâu vào tâm hồn dân tộc.

Cảm Nhận Khổ 3 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Cảm nhận khổ 3 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Có thể nói, nếu chọn năm tác giả tiêu biểu của giai đoạn văn học thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, có thể không có Quang Dũng nhưng nếu chọn năm bài thơ tiêu biểu, nhất định Tây Tiến phải được nhắc tên, đứng ở hàng danh dự. Đọc Tây Tiến, chúng ta sống lại một thời lửa cháy cùng đoàn quân lừng tiếng đã đi vào lịch sử, chúng ta có thể quên một số câu thơ trong bài, nhưng không thê quên được hình ảnh đoàn quân ấy:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành!

Nếu như ở những đoạn thơ đầu, hình ảnh đoàn quân mới hiện lên qua nét vẽ gián tiếp – nói đến gian khổ, hi sinh và địa bàn hoạt động – thì ở đây, đoàn quân ấy đã hiện lên với những nét vẽ cụ thể, gân guốc, rạch ròi. Đã thành khuôn sáo khi đề cập đến sự can trường của các chiến binh. Ở đây, ta tưởng như gặp một mô-típ như thế:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùmg

Nhưng trước hết, đây là những câu thơ tả thực – thực một cách trần trụi: chiến sĩ Tây Tiến hồi ấy hoạt động ở những vùng núi rừng hiểm trở, rừng thiêng nước độc, chết trận thì ít mà chết vì bệnh tật thì nhiều, có những con suối rửa chân rụng lông, gội đầu rụng tóc. “Quân xanh” ở đây có thể hiểu là xanh màu áo, xanh lá ngụy trang và xanh làn da vì thiếu máu. Những hình ảnh rất thực đó, vào bài thơ, với giọng điệu và cách diễn tả lãng mạn của Quang Dũng đã như mang nghĩa tượng trưng, rất có khí phách. Mười bốn chữ thơ mà chạm khắc vào lịch sử hình ảnh một đoàn quân phi thường, độc đáo, có một không hai trong cuộc đời cũng như trong thơ ca. Đoàn quân của một thuở “xếp bút nghiêng lên đường chinh chiến” của các chàng trai Hà Nội kiêu hùng, hào hoa.

Vì vậy, khó khăn, gian khổ là thế, nhưng các chiến binh Tây Tiến vẫn không nguôi đi những tình cảm lãng mạn:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

“Mộng” và “mơ” cùa người lính được gửi về hai phương trời: biên cương, nơi còn đầy bóng giặc – mộng giết giặc lập công, và Hà Nội, quê hương yêu dấu – mơ những bóng dáng thân yêu. “Dáng kiều thơm”, ấy là vầng sáng lung linh trong kí ức, “tố cáo” nét đa tình của người lính. Nhưng với các chiến sĩ Tây Tiến, nỗi nhớ ấy là sự cân bằng, thư thái trong tâm hồn sau mỗi chặng hành quân vất vả, chứ không phải để thối chí nản lòng. Vậy mà một thời, câu thơ “đẹp một cách lãng mạn” này đã khiến cho tác giả của nó và chính bài thơ phải “trải bao gió dập, sóng dồn”.

Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi – xưa nay đi chiến trận, mấy ai trở về, các chiến sĩ Tây Tiến cũng không khỏi tránh phải những mất mát, hi sinh.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Sau những câu thơ rắn rỏi, đẹp đẽ, đến đây, âm điệu câu thơ chợt trầm và trùng xuống để độc giả thấy rõ hơn bản chất của sự việc. Dường như đây là một cảnh phim được c ố ý quay chậm. Còn gì thiêng liêng và cao cả hơn sự hi sinh, chấp nhận gian khổ của người lính. Trên đường hành quân người chiến sĩ Tây Tiến gặp biết bao ngôi “mồ viễn xứ” của những người con “chết xa nhà”. Nhưng các chiến sĩ ta nhìn thấy với đôi mắt bình thản, bởi họ đã chấp nhận điều đó. Một trong những động cơ thôi thúc họ lên đường là hình ảnh người anh hùng da ngựa bọc thây mà họ tiếp nhận được trong văn chương sách vở. Một niềm đam mê trong sáng pha chút lãng mạn.

Hai câu thơ cuối tiếp tục âm hưởng bi tráng, tô đậm thêm sự mất mát hi sinh nhưng đó lại là một cái chết cao đẹp – cái chết bất tử của người lính Tây Tiến.

Áo bào thay chiếu anh về đất. Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Hai câu mới đọc qua tưởng như chỉ làm nhiệm vụ miêu tả, thông báo bình thường nhưng sức gợi thật lớn. Đâu đây vẫn như còn thấy những giọt nước mắt đọng sau hàng chữ. Hai câu thơ rắn rỏi mà cảm khái, thương cảm thật sâu xa. Làm sao có thể dửng dưng trước cảnh “anh về đất”? “Anh về đất” là hóa thân cho dáng hình xứ sở, thực hiện xong nghĩa vụ quang vinh của mình. Tiếng gầm của sông Mã về xuôi như loạt đại bác rền vang, vĩnh biệt những người con yêu của giống nòi.

Trước đây, khi nhắc đến những dòng thơ này, người ta chỉ thấy những biểu hiện nào là “mộng rớt”, “buồn rơi”… nhưng thời gian đã khiến chúng ta nhìn đúng hơn vào bản chất, có thời đại ấy mới có văn chương ấy.

Tây Tiến là bài thơ, là tấm lòng của những người chiến binh Tây Tiến. Bài thơ có nhạc, họa; bên cạnh cái bi là cái hùng, bên cạnh mất mát, đau thương là niềm kiêu hãnh anh hùng. Nửa thế kỉ đã qua, bài thơ ngày một thêm sáng giá và đoạn thơ khắc họa đoàn quân Tây Tiến đã trở thành một hoài niệm khó quên của một thời kì lịch sử hào hùng trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.

Lập Dàn Ý Cho Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

Cảm hứng lãng mạn là niềm lạc quan, yêu đời, đạp bằng tất cả những gian khổ, hi sinh mất mát, hướng về tương lai hi vọng, trông chờ.

Cảm hứng bi tráng (bi hùng): bi là đau thương, hùng là hào hùng, nghĩa là vừa bi thương lại vừa hào hùng.

1. Khổ 1 ( Sông Mã … nếp xôi)

Bài thơ mở đầu bằng hai câu thơ gợi nhớ gợi thương:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

– Vần “ơi”, kết hợp từ láy “chơi vơi” là vần bằng tạo âm hưởng của tiếng gọi đồng vọng miên man không dứt, câu thơ sâu lắng, bồi hồi, ngân dài, từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng, lan rộng lan xa trong không gian. Nỗi nhớ như có hình dáng của núi non, của hồn cây, vách đá, con sông.

– Tác giả gọi tên con Sông Mã đầu tiên trong nỗi nhớ của mình. Vì con sông Mã là người bạn, là nhân chứng đã theo suốt bước chân quân hành, chứng kiến biết bao buồn vui, bao mất mát, hi sinh, vất vả của người lính TT. Gọi tên TT là gọi tên đồng đội, gợi nhớ bạn bè.

– Điệp từ “nhớ” được nhắc lại hai lần góp phần tô đậm cảm xúc nhớ nhung dâng trào của tác giả.

Dẫn chứng minh họa thêm: Thơ ca Việt Nam khi nói về nỗi nhớ có nhiều cách diễn tả:

Ca dao có câu:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than

Diễn tả tình cảm cách mạng, Tố Hữu có câu:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

· Đó là nỗi nhớ về cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ lại vừa thơ mộng trữ tình được cảm nhận bằng cảm hứng lãng mạn và tâm hồn lãng mạn hào hoa.

Nhớ cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây hùng vĩ:

– Tác giả gợi nhắc nhiều địa danh xa lạ: Sài Khao, Mường lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu… gợi bao cảm xúc mới lạ, tác giả như đưa người đọc lạc vào những địa hạt heo hút, hoang dại để từ đó dõi theo bước chân quân hành của người lính.

– 6 câu thơ tiếp theo ” Sài chúng tôi khơi” diễn tả thật đắc địa sự hùng vĩ của núi rừng miền Tây. 6 câu thơ này là bằng chứng đặc sắc của “thi trung hữu họa” (trong thơ có họa):

Cụ thể:

Con đường hành quân thật gian nan, vất vả, nguy hiểm với dốc cao, vực thẳm:

Sài Khao sương…

Mường Lát…

+ Trên đỉnh Sài Khao, sương dày đến độ lấp cả đoàn quân. Đoàn quân hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp mệt mỏi rã rời. Tuy vậy họ vẫn thấy con đường hành quân thật đẹp và thơ mộng: đi trong sương, trong hoa đêm hơi.

Dốc lên…

Heo hút…

Ngàn thước…

Nhà ai…

+ Đường đi toàn dốc cao được diễn tả với nhiều từ láy tạo hình “khúc khuỷu” (quanh co khó đi), “thăm thẳm” (diễn tả độ cao, độ sâu), “heo hút” (xa cách cuộc sống con người). Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đi liền nhau “dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” (bảy chữ mà đã có tới 5 chữ là thanh trắc) khiến khi đọc lên ta có cảm giác trúc trắc, mệt mỏi như đang cùng hành quân với đoàn binh vậy.

+ Đỉnh núi mù sương cao vút. Núi cao tận mây, mây nổi thành cồn, mũi súng chạm trời. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: “súng ngửi trời” giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn, cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới “Khó khăn nào cũng vượt qua – Kẻ thù nào cũng đánh thắng!”. Chính vì chất lính trẻ trung ấy mà trước thiên nhiên dữ dội người lính Tây Tiến không bị mờ đi mà nổi lên đầy thách thức.

+ Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt. Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao

+ Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp, gợi tả, sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu thương, nơi mà các anh sẽ đến, đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn.

+ Sự dữ dội của núi rừng cũng vắt kiệt sức người: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Cái chết đậm chất bi hùng: Chết trong tư thế đẹp, ôm chắc cây súng trong tay sẵn sàng chiến đấu, không quên nhiệm vụ của người lính. Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hy sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu đổ xuống để xây đài tự do. Vần thơ nói đến cái mất mát, hy sinh nhưng không chút bi luỵ, thảm thương.

+ Ta trở lại đoạn thơ trên, gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm, không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

“Chiều chiều…” rồi “đêm đêm” nhưng âm thanh ấy, “thác gầm thét”, “cọp trêu người”, luôn khẳng định cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng. Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc họa chí khí anh hùng của đoàn quân Tây Tiến. Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn tiến bước, người nối người, băng lên phía trước. Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống và giá trị con người như được nâng cao hẳn

Hai câu cuối đoạn thơ, cảm xúc bồi hồi tha thiết. Như lời nhắn gửi của một khúc tâm tình. Như tiếng hát của một bài ca hoài niệm, vừa bâng khuâng, vừa tự hào:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

” Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…”.

Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công là kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Nửa thế hệ đã trôi qua, bài thơ ” Tây Tiến của Quang Dũng ngày một thêm sáng giá.

2. Khổ 2 ( Doanh trại…đong đưa)

Bốn câu đầu: (chép vào) đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân.

+ Từ ” Bừng lên” gợi cảm giác ấm áp, gợi niềm vui lan tỏa. Đêm rừng núi thành đêm hội, ngọn đuốc nứa, đuốc lau thành “đuốc hoa” (“Đuốc hoa” là hoa chúc – cây nến đốt lên trong phòng cưới, đêm tân hôn.)gợi không khí ấm cúng. “Bừng” chỉ ánh sáng của đuốc hoa, của lửa trại sáng bừng lên; cũng còn có nghĩa là tiếng khèn, tiếng hát, tiếng cười tưng bừng rộn rã.

+ Từ “kìa em” thể hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của cô gái vùng cao trong trang phục “xiêm áo” lộng lẫy cùng dáng vẻ “e ấp” rất thiếu nữ. Những thiếu nữ Mường, những thiếu nữ Thái, những cô gái Lào xinh đẹp, duyên dáng “e ấp”, xuất hiện trong bộ xiêm áo rực rỡ, cùng với tiếng khèn “man điệu” đã “xây hồn thơ” trong lòng các chàng lính trẻ.Cũng có thể hiểu người lính đang đóng giả con gái trong những trang phục dân tộc rất độc đáo, tạo tiếng cười vui cho đêm văn nghệ. Họ càng yêu đời hơn, yêu đất bạn hơn ” Nhạc về…”

+ Không chỉ thế người lính còn mải mê, say trong tiếng nhạc, điệu khèn của vùng đất lạ.

4 câu sau: Cảnh sông nước Tây Bắc vừa thực vừa mộng :hoang vắng, tĩnh lặng, buồn thi vị.

Thời gian: chiều sương ấy, gợi màu sắc bảng lảng, sương khói vừa có nỗi buồn man mác.

Sông nước hoang dại, bên bờ lau lách, hoa rừng đong đưa. Hình ảnh “hoa đong đưa” là một nét vẽ lãng mạn gợi tả cái “dáng người trên độc mộc” trôi theo thời gian và dòng hoài niệm. Đoạn thơ gợi lên một vẻ đẹp mơ hồ, thấp thoáng, gần xa, hư ảo trên cái nền “chiều sương ấy”. Cảnh và người được thấy và nhớ mang nhiều man mác bâng khuâng. Bút pháp, thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn để lại dấu ấn tài hoa qua đoạn thơ này.

+ Dáng người mềm mại của cô gái Thái, Mèo trên chiếc thuyền độc mộc hay dáng người hùng dũng, hiên ngang của người lính đang đưa con thuyền tiến về phía trước càng làm cho bức tranh thêm phần thơ mộng.

“Có nhớ”, “có thấy” luyến láy, khắc họa thêm nỗi nhớ: lưu luyến, bồi hồi.

Nghệ thuật: ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, hồn thơ mang đậm chất lãng mạn, hào hoa.

3. Khổ 3

Hình tượng người lính Tây Tiến bi thương, hào hùng, lãng mạn.

Giữa nền thiên nhiên khắc nghiệt, hình ảnh người lính hiện lên thật kì dị: Quang Dũng đã dùng những hình ảnh rất hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính.

Bi thương: Ngoại hình ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như màu lá. Đoàn quân trông thật kì dị: ” Tâu tiến đoàn chúng tôi hùm”.

Đó là hậu quả của những ngày hành quân vất vả vì đói và khát, của những trận sốt rét ác tính làm tóc rụng không mọc lại được, da dẻ héo úa như tàu lá.

Dẫn chứng minh họa thêm:

Giọt giọt mồ hôi rơi

Trên má…

Anh vệ…

Sao mà…

(TH)

Tôi với anh…

Sốt run…

Hào hùng: thủ pháp nghệ thuật đối lập, giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn mạnh mẽ: Đoàn binh không mọc tóc”, ” Quân xanh màu lá”, tương phản với ” dữ oai hùm”. Cả ba nét vẻ đều sắc, góc cạnh hình ảnh những ” Vệ túm”, “Vệ trọc” một thời gian khổ đươc nói đến một cách hồn nhiên. Quân phục xanh màu lá, nước da xanh và đầu không mọc tóc vì sốt rét rừng, thế mà quắc thước hiên ngang, xung trận đánh giáp lá cà ” dữ oai hùm” làm cho giặc Pháp kinh hồn bạt vía. ” “Đoàn binh” gợi lên sự mạnh mẽ lạ thường của ” Quân đi điệp điệp trùng trùng”, của “tam quân tì hổ khí thôn ngưu” (sức mạnh ba quân nuốt trôi trâu) . Ba từ ” dữ oai hùm”, gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt, oai của chúa sơn lâm, người lính TT vẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp bằng mọi gian khổ. “mắt trừng” dữ tợn, căm thù, mạnh mẽ, nung nấu quyết đoán làm kẻ thù khiếp sợ.

Tâm hồn Lãng mạn: Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa. Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc, hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về HNội, về quê hương.

4 câu cuối ngời lên vẻ đẹp lí tưởng:

+ Câu ” rải rác…” toàn từ Hán Việt gợi không khí cổ kính. Miêu tả về cái chết, không né tránh hiện thực. Những nấm mồ hoang lạnh mọc lên vô danh nhưng không làm chùn bước chân Tây Tiến. Khi miêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến.

+ Tinh thần chiến đấu ” Chiến trường…”. Ba từ “chẳng tiếc đời xanh ” vang lên vừa gợi vẻ bất cần đồng thời mang vẻ đẹp thời đại ” Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, cống hiến trọn đời vì độc lập tự do của đất nước của dân tộc.

Dẫn chứng thêm:

– Ôi tổ quốc….

Như mẹ cha…

Ôi Tổ quốc….

Cho mỗi …

Hình ảnh ấy làm ta liên tưởng tới vẻ đẹp của những tráng sĩ thời xưa ví như Thái Tử Kinh Kha sang đất Tần hành thích Tần Thủy Hoàng cũng mang tinh thần:

Tráng sĩ một đi không trở về

Kết luận:

Không chỉ mang vẻ đẹp của thời đại mà ở người lính TT còn phảng phất vẻ đẹp của tinh thần hiệp sĩ.

Coi nhẹ cái chết: ” Áo bào… độc hành”

Hiện thực: Người lính chết không có manh vải liệm chỉ có manh chiếu bọc thân nhưng vẫn xem cái chết nhẹ như lông hồng. Câu thơ của QDũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ, coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên trang nghiêm, cổ kính. QDũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hy sinh của người lính đã được coi là sự trở về với đất nước, với núi sông. Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Chết là về với đất mẹ “Người hi sinh đất hồi sinh/ máu người hóa ngọc lung linh giữa đời”.Mạch cảm xúc ấy đã dẫn tới câu thơ đầy tính chất tráng ca “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Sông Mã tiễn đưa bằng bản nhạc của núi rừng đượm chất bi tráng như loạt đại bác đưa tiễn những anh hùng về với non sông tổ quốc.

Nghệ thuật: sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ kính, trang nghiêm. Lời thơ hàm súc vừa đượm chất hiện thực vừa gợi chất hào hùng, bi tráng.

4. Khổ cuối

Lời thề son sắt thể hiện tinh thần ” Nhất khứ bất phục hồi” – Một đi không trở về.

“Tây tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi…”

Bốn câu thơ khép lại một cảm xúc bâng khuâng làm lòng ta nao nao khó tả. Chàng trai Tây tiến, khi ra đi đều không ước hẹn ngày về, đều sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Vì vậy Cái chết với họ nào có là gì khi Hồn ta hoà vào hồn thiêng của toàn dân tộc, bay lên, bay lên mãi, “chẳng về xuôi”.

“Không hẹn ước” rồi lại “thăm thẳm một chia phôi”. Quang Dũng khẳng định cái ý niệm “nhất khứ bất phục hoàn” trong hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến, cũng là cái ý niệm chung cả một thời kỳ, một thế hệ con người. Đã nói nhiều điều về Tây Tiến, đã nhắc lại nhiều kỷ niệm về Tây Tiến, nhưng cuối cùng cái đọng lại sâu nhất, bền vững nhất về Tây Tiến là cái tinh thần ấy. Giọng thơ trầm, chậm, hơi buồn, nhưng ý thơ thì vẫn hào hùng.

“Tây Tiến mùa xuân ấy” đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà. Sẽ không bao giờ còn có lại cái thuở gian khổ và thiếu thốn đến dường ấy nhưng cũng lãng mạn và hào hùng đến dường ấy.

Bạn đang đọc nội dung bài viết 3 Mẫu Mở Bài Hay Cho Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng) trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!